Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Monday, 12 March 2012

Tây Ban Nha thuộc vùng khí hậu Địa Trung Hải, không hiểu sao Madrid lại có màu trời đêm rất lạ. Khi hoàng hôn vừa tắt nắng, trời Madrid xanh một màu lam nhạt, rồi chuyển dần sang lam đậm, màu chàm, và cuối cùng là màu xanh đen. Trời trong vắt, không một gợn mây, chỉ vài vì sao lơ ngơ, như muốn nhường hết không gian mộng mị kia cho nửa vầng trăng khuyết trò chuyện với khách giang hồ. Thành phố Madrid chập chùng cao thấp, với những con đường lả lướt, uốn lượn, đưa đẩy bước chân qua. Buổi chiều và buổi tối, các con đường lớn nhỏ đều đông kín người. Trông mặt nào mặt nấy ngời ngời hạnh phúc. Madrid , trừ những đại lộ xe cộ ngợp trời, còn khối những con đường chỉ dành cho người đi bộ, ở đó luôn có các quán giải khát lộ thiên bao giờ cũng đông đảo khách hàng. Họ ngồi nghỉ ngơi, nhâm nhi cốc vang đặc sản, chuyện trò, đôi khi nhấm nháp chút chút, rồi lại tiếp tục rong chơi. 

Quảng trường Plaza Mayor
Một phần đời sống của Madrid tập trung quanh các quảng trường và công viên. Madrid có nhiều tượng đài, công trình nghệ thuật, kiến trúc, nhà hát, thư viện, viện bảo tàng... Dịp cuối tuần, công viên tràn ngập người. Công viên như một mái nhà vĩ đại của một gia đình vĩ đại. Nắng chan hoà trên ngàn cây nội cỏ, trên các lối đi, trong mắt người. Trong khi trẻ con hút hồn vào các trò chơi, người lớn nhâm nhi và chuyện trò nơi quán nước dưới các tàn cây, thì thanh niên nam nữ hăm hở chèo thuyền, cỡi ngựa, chơi bóng... và nằm dài trên cỏ: tâm tình, thinh lặng, và hôn nhau. 


Dân Madrid thích thể thao, đặc biệt mê bóng đá - bóng đá là vua. Khắp đất nước Tây Ban Nha, đâu đâu cũng có sân bóng, đội bóng. Trong đó, đội bóng Hoàng gia Tây Ban Nha của họ là nhất. Sân vận động Santiago Bernabeu với gần 100.000 chỗ ngồi luôn chật kín người mỗi lần đội “Những chú kền kền trắng” con cưng của họ thi đấu. Dân Madrid thích xem bóng đá trực tiếp trên sân hơn qua tivi. Cũng dễ hiểu thôi, vì chỉ trên sân mới có thể đắm đuối đong đầy chất cuồng nhiệt của môn thể thao vua này. Cũng còn vì Bernabeu hiện đại, văn minh, đẹp, và uy nghi như một giáo đường. Vui nhất là, trong số những cổ động viên la hét cuồng nhiệt ấy đôi khi có cả đức Giáo hoàng.

Công viên Retiro, nơi lưu đến ưa thích của dân thủ đô, đặc biệt là khi trời nóng
Các buổi chiều và tối, quảng trường là nơi vô cùng náo nhiệt với rất nhiều nhà hàng, quán bar, và đủ loại trò chơi. Những nghệ sĩ phong cầm góp phần khiến quảng trường thêm sinh động và chan chứa bằng những giai điệu không chê vào đâu được. Du khách thường tập trung ở đây, ăn tối, uống bia, uống rượu, và thưởng thức không khí đặc thù của quê hương đấu bò.



Người dân Madrid vui vẻ, sôi nổi, lịch thiệp, tốt bụng. Trong khi chuyện trò, họ thường kèm theo điệu bộ: miệng nói, tay huơ, đầu ngắt, mắt nháy. Đặc biệt họ nói rất nhanh, cả khi nói tiếng Anh hay tiếng Pháp - như thử nếu không thế, họ sợ tỏ ra thiếu nhiệt tình với người đối diện. Họ cũng rất nghiêm khắc với bản thân, coi trọng cá tính, trọng danh dự, kiêu hãnh, và rất tự hào.

Công viên đằng sau cung điện hoàng gia
 Chuyện hôn nhau giữa ba quân thiên hạ, nếu nước mình coi là dị hợm thì ở đây là bình thường, cứ việc tự nhiên như nhiên; đến nỗi chính kẻ nào lăm lăm nhòm ngó và lên mặt phê phán nọ kia mới thật sự là đồ dị hợm không thể chấp nhận được. Người dân Madrid không có cái thói láo liêng, lại có lối sống thẳng thắn. Không yêu nhau, có thể người ta đưa nhau ra toà li dị, nhưng đã sống với nhau thì lại hết lòng. Cả những bà mẹ Madrid cũng vậy, họ thể hiện tình yêu và sự chăm chút con cái một cách lặng lẽ, chan chứa, và có hồn.
Thật khó có thể cưỡng nổi sức hấp dẫn của dòng người nơi đây. Về khuya, tuy đã khép bớt một số vào các nhà hàng, vũ trường, rạp hát... nhưng đường phố Madrid vẫn nhộn nhịp người qua lại. Đêm, hình như dân Madrid không chịu ngủ. Nếu một lần đến Madrid, bạn có lẽ sẽ thầm hỏi, không biết điều gì trên đất nước này khiến người ta yêu đời và ham sống đến vậy.

Sunday, 11 March 2012

Người ta biết đến Hy Lạp của những thần thoại và những hòn đảo đẹp mê hồn nhưng đó mới chỉ là 70%. Tôi có dịp khám phá một trong 30% còn lại khi đi rất sâu lên phía bắc của Hy Lạp để thăm một quần thể tu viện nổi tiếng bậc nhất Châu Âu : Meteora. Phương tiện đi lại để đến đây cũng không dễ dàng, tôi phải bắt tàu đêm từ thủ đô Athen và tàu thì lại không có giường nằm nên tôi hầu như thức trắng đêm đầu tiên.

Một chút lịch sử
Bắt đầu từ thế kỷ 14, Hy Lạp ngày càng chịu nhiều sự tấn công của người láng giềng Thổ Nhĩ Kỳ. Những tên cướp Thổ rất hay cướp bóc các tu viện đặc biệt là ở ven biển hay đồng bằng vì các tu viện có nhiều dự trữ lương thực và lại không có hệ thống phòng thủ. Chính vì thế, cộng đồng tu sĩ buộc phải tìm kiếm một khu vực mới an toàn hơn. Họ đã chuyển đến đây, nơi có rừng đá bao bọc xung quanh làm nơi chú ẩn.


Những tu sĩ này bắt đầu xây dựng những tu viện đầu tiên, phải nói rằng quá trình xây dựng những tu viện này rất khó khăn và vất vả, vì tất cả đều nằm trên những đỉnh núi đá cao chót vót





Họ leo lên và xuống chỉ bằng một thang dây mỏng manh nên không tránh khỏi thương vong cũng như tai nạn chết người xảy ra. Với đức tin nơi Chúa, họ vẫn miệt mài, kiên nhẫn xây dựng và cuối cùng cũng thành công với 24 tu viện tráng lệ. Tu sĩ đặt tên cho những tu viện này là Meteora mà trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là "lơ lửng trong không trung” 







Không có phương tiện tiếp cận tu viện nào khác ngoài mạng lưới dây thừng móc vào vách núi đá, đóng vai trò như một chiếc thang dây dài 40 m để lên và xuống. Và những tu viện trên núi đá này hình thành nên một cộng đồng dân cư sinh sống sầm uất vào cuối thế kỉ 14. Nhưng cuộc sống thanh bình của cộng đồng nơi đây không được kéo dài lâu khi những thế lực bạo động nổi dậy chống phá, cướp đoạt của cải khiến cho tình trạng rơi vào sự hỗn loạn, suy giảm trầm trọng











Sau đó các tín đồ Kitô giáo đến xây dựng và phục hồi lại các tu viện, nhưng cũng không thể nguyên trạng như ban đầu. Cho đến thế kỷ 18, tu viện Meteora đã trở thành một trung tâm ẩn náu của các chiến binh Hy Lạp.




 





Trải qua biết bao thăng trầm và biến cố, ngày nay chỉ còn lại 6 tu viện nguyên vẹn, là nơi sinh sống cho các nữ và nam tu sĩ. Mỗi tu viện như vậy có ít hơn 10 nhân khẩu.



Ngày nay lối đi lên xuống tu viện đã được cải tiến, đã có cầu thang chạm khắc vào đá không còn dùng thang dây nữa, nên vấn đề đi lại không còn là mối lo âu hay bận tâm đối với nhiều người.




Ai Cập có quá nhiều di tích khảo cổ để khám phá và chỉ trong một chuyến đi hơn 10 ngày mà tôi có được, e rằng không thể thăm hết được. Vì thế, tôi chỉ chọn lọc những điểm quan trọng nhất mà tôi được biết đến. Đền Abu Simbell gây ấn tượng mạnh đối với tôi hồi còn học môn lịch sử kiến trúc thế giới và tôi quyết định đi du thuyền lên thượng nguồn sông Nile. Abu Simbell nổi tiếng cũng không phải vì có những điểm nổi bật hơn so với các di tích lịch sử khác của Ai Cập nhưng lại trở thành truyền thuyết nhờ vào sự sống sót ngoạt mục khỏi sự nhấn chìm của nước sông và sự cứu nguy của Unesco.


Đền Abu Simbell là một trong những công trình xây dựng của vua Pharaoh Ramesses II nhằm ghi lại những chiến công lừng lẫy của ông. Bên trong ngôi đền có thờ 3 vị thần bảo hộ nhà nước Ai Cập quan trọng là Amun–Re, Ptah và Re-Horakhty. Ngoài ra, chính bản thân Pharaoh Ramesses II cũng được sùng bái và thờ phụng ở đây ngay khi nhà vua vẫn còn sống. Phần lớn các tác phẩm chạm nổi bên trong ngôi đền đều thể hiện những khung cảnh lịch sử tưởng niệm các trận đánh của Ramesses II ở Syria, Libya và Nubia, trong khi các khung cảnh chi tiết khác thể hiện tính cách thần thánh của ông.

Nằm cách ngôi đền Abu Simbell lớn 120 m về phía Đông Bắc, ngôi đền Abu Simbell nhỏ thờ nữ thần Hathor và chính phi Nefertari của vua Ramesses II cũng là nơi rất đáng được tham quan. Ngôi đền này nằm ở Nubia (bên kia biên giới truyền thống ở miền nam Ai Cập nhưng nằm lọt trong khu vực do Ai Cập kiểm soát và quản lý hành chính vào thời bấy giờ).
Người xưa đã chọn địa điểm này để xây dựng ngôi đền vì mặt đá ở đây không có vết nứt, thuộc loại sa thạch tốt, thích hợp cho việc xây dựng đền trong hang đá hướng về mặt trời mọc.
Tôi thực sự bị cuốn hút bởi những tranh ảnh, bức tường, trụ cột chống đỡ và các pho tượng nghệ thuật bên trong ngôi đền được chạm khắc một cách tỉ mỉ và sống động.

Cuộc giải cứu ngoạn mục
Cuộc giải cứu ngoạn mục bắt đầu vào năm 1959. Đền Abu Simbell nằm ngay cạnh đập nước Aswan nhưng chính sự có mặt của đập này, mực nước sông Nile tăng dần lên và có nguy cơ sẽ nhấn chìm toàn bộ ngôi đền. Vì thế, ngay từ năm 1959, cộng đồng quốc tế đã quyên góp nhiều nguồn tài chính để đầu tư vào kế hoạch di rời 100% ngôi đền sang một địa điểm khác cao hơn mực nước sông Nile. 


Unesco có công lớn trong việc triệu hồi hàng loạt nhà khảo cổ, kỹ sư và kiến trúc sư cùng làm việc với nhau. Từ năm 1964 đến năm 1968, toàn bộ ngôi đền Abu Simbell được cắt xén ra từng khối đá khổng lồ nặng đến 30 tấn và dùng cần cẩu đưa lên chỗ cao hơn và lắp ráp lại như cũ. Một trò chơi Lego nhưng ở đẳng cấp cao hơn !!! Kể từ sự kiện giải cứu đền Abu Simbell, Unesco bắt đầu thực sự dấn thân vào lĩnh vực bảo tồn các di tích lịch sử văn hóa thế giơi và kế hoạch trùng tu Abu Simbell trở thành một bài học quan trọng nhất trong các khóa học về kiến trúc và xây dựng.

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống