Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Saturday, 2 July 2011

Thời kháng chiến chống Pháp, 6-7 năm (1948-1953) gia đình tôi từ thị trấn Trùng Khánh (Cao Bằng) tản cư đến ở bản (làng) Pò Mười (trước là xã Quang Thành, nay là xã Chí Viễn) rồi Pò Tấu (xã Chí Viễn). Nhà chỉ cách thác Bản Giốc (xã Đàm Thủy) 10-12 cây số. 
Ba năm ở Pò Tấu, phiên chợ nào cha mẹ tôi cũng có mặt ở chợ Bản Giốc, người cắt tóc, người bán hàng xén.
Chợ Bằng Ca (huyện Hạ Lang) đi quá Bản Giốc 10 cây số về phia Bắc, thế mà cha mẹ tôi và mấy người Kinh cùng tản cư như ông Mộc, cậu Quý cũng không bỏ phiên chợ nào. Mờ sáng đã đi, đêm khuya mới về đến nhà. Rất vất vả mà nhà ai cũng vẫn đói rách.

Đến năm tôi học lớp 5 (phổ thông 9 năm) Trường cấp II Trùng Khánh (1954) mới được nhà trường tổ chức đi tham quan thác Bản Giốc và Ngườm Ngao (tiếng Tày cổ gọi là hang hổ). Mọi người cơm đùm cơm nắm đi bộ từ Trường cấp II Bản Đà theo tỉnh lộ 206, vừa đi vừa đùa nghịch, đến chợ Pò Tấu thì đã xế trưa.
.
< Thác Bản Giốc, Trùng Khánh phủ, Cao Bằng thời Pháp thuộc.

Chúng tôi nghỉ ngơi ăn cơm dưới những cây long não cổ thụ, ăn xong ra cuối chợ đứng ngắm cảnh đẹp của Thoong Gọot (thoong tiếng Tày là thác - thác Gọot) cách chừng non cây số, rồi lại đi tiếp.

Thoong Gọot nằm trên sông Quây Sơn, con sông bắt nguồn từ Trung Quốc qua cửa khẩu Pò Peo (xã Ngọc Khê) - nơi có cá trầm hương thơm ngon - sang xã Đình Phong, qua xã Chí Viễn - nơi có nhiều hạt dẻ Trùng Khánh nổi tiếng - rồi đến xã Đàm Thủy - nơi có thác Bản Giốc và Ngườm Ngao đẹp kỳ diệu.

< Thác Bản Giốc - phần thác chính phía Việt Nam chỉ có con thuyền nhỏ bỏ trống, không có khách du lịch, tôi bảo hai cháu gái tôi ngồi lên chụp ảnh, năm 1997.

Dòng sông Quây Sơn có nhiều đoạn chảy men theo đường tỉnh lộ, chúng tôi vừa đi vừa ngắm những chiếc “cọn” quay kẽo kẹt đưa từng chuỗi “bẳng” chứa đầy nước từ dưới sông đổ lên mương dẫn đến những thửa ruộng ở trên cao. Những chiếc cối giã gạo phần chân có cải tiến khoét hố chứa nước, ở giữa có chốt bập bênh, dùng trọng lượng nước thay cho chân người dẫm, nhịp chày đều đều lên xuống nghe thình thịch, êm tai và đẹp mắt.

< Thác Bản Giốc - phần thác chính phía Trung Quốc, khách du lịch Trung Quốc khá đông, họ làm những chiếc mảng to đưa khách ra giữa sông ngám cảnh, năm 1997.

Dòng sông có khúc mở rộng đến vài trăm mét, ở giữa nổi lô nhô những gò đá, trông như hòn đảo, xa xa là những khóm tre xen trong nếp nhà sàn, khói bếp hòa vào sương núi trông cảnh sắc thơ mộng hữu tình. Dòng sông chảy qua chân núi Cô Muông, qua các cánh đồng, bãi ngô, xòe ra thành nhiều nhánh, đột ngột hạ thấp xuống khoảng 35 m, tạo thành thác Bản Giốc. Phía Bắc tháp gồm ba cấp dài, nguồn nước nhiều, rất đẹp còn gọi là thác chính. Thác phụ ở phía Nam, chỉ có một cấp cao. Khi chiêm ngưỡng không có sự tách bạch nên toàn thể thác Bản Giốc có cao có thấp rất hài hòa với rong rêu, cây cối, núi non chung quanh nên cảnh sắc đẹp tuyệt vời. Nhìn tổng thể hay nhìn chi tiết từng phần thác đều rất đẹp.

< Sông Quây Sơn, Trùng Khánh phủ, Cao Bằng thời Pháp thuộc.

Chúng tôi đến Bản Giốc, ngày ấy chỉ có hơn chục nóc nhà. Không như phố Trùng Khánh hay chợ Pò Tấu người dân đều xây dựng nhà đất để ở. Nhà xếp thành dãy ôm lấy cái chợ ở giữa. Ở đây vẫn là những nếp nhà sàn, trâu bò lợn gà nhốt ở dưới, người ở trên sàn, sống quây quần như các bản chung quanh. Chợ tách riêng ra ở bãi đất trống gần đó.

Sau khi đã ổn định các lớp vào ở nhờ nhà dân, chúng tôi ra ngoài ruộng ngắm cảnh sông núi. Từ đây nhìn ra thác chỉ thấy màn hơi nước bốc cao trắng xóa ở chân núi và tiếng thác gầm reo đến rộn ràng.

Sáng hôm sau, toàn trường xuống vạt đất bằng phẳng dưới chân thác cắm trại. Các anh lớn tuổi chặt cây dựng lều căng những tấm vỏ chăn làm mái xếp theo hàng đều tăm tắp. Chúng tôi được tắm thỏa thuê. Mấy anh bơi giỏi sang cả bờ bên kia sông, ở đấy chỉ có cây cối mọc hoang và nương rẫy, rất vắng người. Thỉnh thoảng mới thấy người làm nương chống mảng quay về bản phía bên này sông. Có lẽ chúng tôi là lớp người đầu tiên cắm trại ở bên dòng thác đẹp tuyệt vời nhất nước này.

< Thác Bản Giốc, Trùng Khánh phủ, Cao Bằng thời Pháp thuộc.

Thầy Nguyễn Ngọc Văn ra đề toán đố học sinh các lớp làm sao đứng bên này mà đo được chiều rộng sông. Nguyễn Như Mai tuy bé nhất lớp, song rất thông minh, xung phong giải theo hình tam giác, được thầy đồng ý và cho cả lớp thực hành. Được các thầy khen, giải thưởng là những dò phong lan kếch sù hái từ những cây vối bên bờ sông, trông rất đẹp, cả trường vỗ tay reo hò.

Hoàng Văn Xuân, Hiệu đoàn trưởng còn tổ chức cướp cờ. Cắm một lá cờ ở trên một cành cây cao ở bên kia sông, sau một hồi còi, các lớp cử người thi nhau bơi sang sông, rồi luồn qua các bụi rậm, tảng đá để đến với gốc cây to có lá cờ đỏ, lớp nào trèo lên cây lấy được cờ thì thầy giáo thưởng. Lớp tôi tuy là lớp dưới, nhưng có nhiều anh lớn bơi lội và leo trèo rất giỏi nên đã sớm chiếm được cờ, cả trường reo hò ầm vang khúc sông.

Ngày ấy, chúng tôi không có khái niệm bên kia sông là đất của người Trung Quốc, trên thực tế cũng không thấy bóng dáng người Trung Quốc nào, chỉ thấy người Tày vun sới ngô, nên cứ reo hò đùa nghịch thỏa thích. Buổi chiều chúng tôi tổ chức khám phá một hang động cách thác Bản Giốc chừng 3-4 cây số. Các thầy Nguyễn Thường Thịnh, Nguyễn Ngọc Văn, và các anh Hoàng Văn Xuân, Ngân Bá Kỷ và hai thanh niên trong bản đi trước dẫn đường. Thầy làm các ký hiệu dẫn đường bí mật để đi đến Ngườm Lồm (hang gió).
Thầy Vũ Trọng Nhậm đưa chúng tôi đi sau, vừa đi vừa tìm kiếm những ký hiệu và phỏng đoán để tìm đường vào hang động. Chúng tôi thấy tờ giấy chỉ đường báo còn cách cửa hang 20m, thế mà mà vẫn chưa tìm ra cửa vào hang. Nơi đây cây cối um tùm, vách đá dựng đứng, lá han mọc khắp nơi, chạm vào đau buốt vô cùng. Mấy anh lớn tuổi xung phong lên trước, tìm mãi mới thấy cửa hang rất nhỏ hẹp, ấn khuất sau những bụi giây rừng. Chúng tôi phải kéo nhau lên từng người một mới chui được vào cửa hang.

< Động Ngườm Ngao, cách thác Bản Giốc chừng 4-5 km, là một trong những hang động còn nguyên sơ đẹp nhất nước ta.

Ngoài trời nóng thế mà trong hang mát lạnh. Gió rít từng hồi. Đi được độ vài mét thì thấy hiện lên trước mắt một không gian cao rộng mênh mông, cả trường đứng lọt thỏm trong một góc hang. Các nhũ đá từ dưới mọc lên, từ trên buông xuống, hình thù đa dạng, muôn hình vạn trạng, màu sắc óng ánh, nhìn vào chỗ nào cũng rất đẹp.

Mỗi chúng tôi tha hồ mà tưởng tượng hình thù các động vật, ai ai cũng suýt soa, mồm không ngớt thốt lên điệp khúc: Trời ơi, đẹp quá! Trời ơi, đẹp quá! Thầy Nhậm cho biết, đây là động đá vôi được hình thành cách ngày nay 300 triệu năm. Những nhũ đá ở trên vòm hang là do từng giọt nước kết tủa caco3 chảy qua đá vôi nhỏ xuống qua ngày này sang ngày khác, năm này sang năm khác mà thành. Măng đá ở trên nền hang, nước từ nhũ đá chảy xuống lâu ngày nên cao dần. Những nhũ đá gặp măng đá thành cột đá.

< Bản Pò Mười, nơi đây tôi đã sống trong những năm 1948-1951, ngày ấy mới có 6 ngôi nhà sàn và 1 nhà đất của gia đình tôi. Đêm giao thừa năm 1951 hổ đã nhảy vào chuồng bắt con lợn 50-60 kg của nhà tôi, sau đó gia đình tôi phải ra phố chợ Pò Tấu, cách xa hơn 1km, nhưng xa núi hơn.

Chúng tôi nói với nhau, thế thì lâu lắm, chắc từ ngày xửa ngày xưa những nhũ đá, cột đá đã to như thế này rồi. Ở trong hang có đoạn phải sắn quần lội bì bõm qua nước. Cả đoàn chỉ có vài ba chiếc đèn pin, còn toàn là đuốc, đi được một lúc thì đuốc thay nhau tắt do không đủ ôxy và do gió lùa từ đâu thổi tới mạnh quá, chắc chúng tôi chỉ đi được 100-200m là cùng. Khi ra chúng tôi phải điểm danh theo tổ theo lớp, phải nắm tay nhau cùng ra cửa hang, nếu để ai lạc thì rất khó tìm. Các cụ ở Bản Giốc cho biết: hang này dài rộng lắm, thông cả sang cửa Ngườm Ngao và cửa hang Bản Thuôn xa đến mấy cây số.

< Nơi đây tôi và các em đã sống trong những năm 1948-1951. Ngày ấy nhà cửa bằng gỗ, chưa được khang trang như bây giờ, năm 2007.

Có lẽ chúng tôi là những đoàn đông người khám phá hang động ở đây sớm nhất, chỉ sau người Pháp đã đến đây từ năm 1921. Sau đó chẳng mấy ai dám vào hang, vì khu vực này ngày ấy là tổ cọp. Trong thời gian chúng tôi đến tham quan thì hổ vẫn còn nhiều lắm. Buổi tối, đốt lửa trại, một chương trình văn nghệ đặc sắc của nhà trường được biểu diễn cho bà con các bản đến xem. Có lẽ đây là lần đầu tiên được xem văn nghệ nên bà con rủ nhau đến rất đông.

Mở đầu là những bài đồng ca, song ca, thầy Nhậm ngâm bài thơ “Đời đời nhơ ông” của Tố Hữu (ngày ấy ông Stalin mới qua đời nên dân ta thương cảm lắm), tiếp đến múa điệu: “Dân Liên Xô, vui hát trên đồng hoang, đây bao la, muôn sắc hoa chan hòa,…” Trương Nguyệt Minh, Lê Hồng Khê,… phải lấy vỏ chăn hoa cuốn làm váy, được cái vốn đã xinh nay thêm chút mực đỏ làm môi son má hồng trông dưới ánh lửa bập bùng càng rực rỡ.

< Trên đường đến thác Bản Giốc - Cọn nước bên dòng sông Quây Sơn, 2007.

Hoạt cảnh đoàn thanh niên dân chủ thế giới đến thăm thác Bản Giốc rất vui. Mấy anh cao to được bôi mặt mũi chân tay người trắng hếu, mũi lõ; người đen xì, người da đỏ, da nâu, da vàng… đóng giả người châu Âu, châu Phi trông rất giống. Mỗi người đứng ra nói xì xà xì xồ, xong mỗi câu tiếp đến phiên dịch bằng tiếng Tày, ca ngợi cảnh đẹp thác Bản Giốc hết lời, ai cũng phải buồn cười. Ngẫm lại, từ mấy chục năm trước, thầy trò chúng tôi đã có đầu óc làm du lịch ở đây rồi. Đến thế kỷ XXI ngành du lịch tỉnh Cao Bằng đến nay mới bắt đầu khai thác du lịch thì quá chậm chạp! Giá như ngay năm 1954, ta xây dựng một khu du lịch cả hai bờ chân thác Bản Giốc thì ngày nay thác đã nằm trọn vẹn ở nước ta như thuở ấy rồi! Lớp chúng tôi được thầy Nhậm hướng dẫn diễn vở hoạt cảnh giữ vệ sinh diệt chấy, rận, rệp, muỗi.

< Dòng sông Quây Sơn, 2007.

Tôi được đóng vai con muỗi, lấy màn trắng làm đôi cánh, đầu đội chiếc vành có vòi dài như vòi voi, đôi con mắt tròn xoe đen xì. Trần Xuân Sơn khoác chiếc áo tơi đan bằng mo đóng vai con rệp,…con vật nào cũng ra oai, tỏ ra độc ác nguy hiểm. Nhưng đến khi dàn đồng ca kể tội với điệp khúc: “Này con rệp, mày bỏ mạng mày thôi, mày thôi. Kìa con muỗi, bay trốn đi đâu, trốn đi đâu mà chạy. Mày bỏ mạng mày thôi, mày thôi.” Thì bọn tôi co rúm chạy tứ tung.

Buổi văn nghệ gây được ấn tượng mạnh đối với bà con dân tộc các bản. Năm 1972, máy bay Mỹ chưa bắn phá tới Cao Bằng nên tôi đưa vợ con lên thị trấn Trùng Khánh sơ tán. Ít tháng sau tôi đưa bố, anh và em vợ lên thăm gia đình. Nhân dịp này tôi và chú Đạt (em rể) đưa bố vợ và anh em nhà vợ đi thăm thác Bản Giốc. Đi bằng xe đạp, sáng đi chiều về. Nước cạn nên buổi trưa tắm sông thỏa thích. Hôm ấy, nhìn sang phía bên kia sông còn heo hút lắm, xung quanh thác Bản Giốc vẫn không có ai ngoài gia đình chúng tôi.

< Nhìn toàn cảnh thác Bản Giốc từ tỉnh lộ 206, năm 2007.

Năm 1997, nhân kỷ niệm 50 năm gia đình tôi sống ở bản Pò Mười, tôi đã cùng nghệ sĩ nhiếp ảnh Hà Tường đến Pò Mười ngủ một đêm. Sáng hôm sau chụp cảnh bừa ruộng tập thể. Cháu Đoàn Cảnh Tuân đưa chúng tôi đi chụp ảnh sông Quây Sơn và thác Bản Giốc bằng xe ô tô cơ quan. Ngày ấy phía Việt Nam chỉ có lèo tèo một ngôi nhà tranh vách đất ở đầu dốc xuống thác, đó là đồn biên phòng. Bên kia sông Quây Sơn, Trung Quốc đã xây một khu du lịch, nhà cao 2-3 tầng, có chòi ngắm cảnh, làm đường ra thác tham quan và vài ba chiếc mảng chở khách ra giữa sông ngắm cảnh.

< Năm 1997, tôi đã thấy Trung Quốc xây dựng một khu nhà nghỉ ở bên kia sông, ảnh năm 2007.

Năm 2007, vợ chồng tôi, hai cô em gái, chú em út của tôi và vợ chồng anh vợ và các cháu lại lên thăm Pò Mười, nơi 60 năm trước mấy anh em chúng tôi đã lớn lên ở đây.

Sau đó thăm thác Bản Giốc và Ngườm Ngao. Phía bên kia sông nhộn nhịp với những mảng ngắm cảnh, người đông nườm nượp. Còn bên này sông vắng teo.

< Thác Bản Giốc - phần thác phụ của Việt Nam, năm 2007.

Đồn biên phòng được xây dựng lại, tuy vẫn là nhà một tầng, nhưng đã là tường xây mái ngói với chiếc sân rộng rãi, có cả chậu hoa. Cơ sở du lịch vẫn chưa có gì. Mấy chiếc cầu gỗ xiêu vẹo do dân tự làm, không được an toàn nếu nước lớn. Dưới bãi sông có mấy túp lều dựng lên không theo hàng lối, toàn bày hàng lặt vặt của địa phương Trung Quốc. Mấy chiếc mảng của ta do dân địa phương tự làm nên sơ sài và không đẹp như mảng phía bên kia, hấp dẫn và đúng chất du lịch. Những mảng này chỉ đi lại ở giữa sông, chứ không được sang bên bờ sông của nước bạn. Nghe nói hai năm gần đây vừa cắm mốc biên giới ở ngay giữa thác chính?

< Cầu vào thác còn sơ sài tạm bợ chưa an toàn, chưa đáp ứng với yêu cầu du lịch, năm 2007.

Ngườm Ngao đã khai thác dịch vụ du lịch. Trong hang đã có điện sáng. Có lẽ muốn chiêm ngưỡng vẻ đẹp tự nhiên thì nên sớm đến thăm. Tôi thấy bàn tay con người đã bắt đầu làm khô cứng nhiều nơi, nhất là những lối đi đã thấy vết đập phá, bậc xi măng xây phẳng phiu, láng phằng lì làm mất đi những sóng đá nhấp nhô rất nên thơ. Ngườm Ngao là rừng nghệ thuật, mọi tác động của con người phải từ bàn tay khéo léo của nghệ nhân, đôi mắt nhìn tinh túy của nghệ sĩ.

Chiêm ngưỡng thác Bản Giốc, động Ngườm Ngao ở Cao Bằng
Thăm Thác Bản Giốc


Ngườm Ngao là tài sản vô giá. Thiên nhiên đã ưu đãi ban tặng cho Cao Bằng một không gian thần tiên, đa dạng về hình dáng, phong phú về màu sắc, đẹp cực kỳ từng cm. Tôi rất ngại, nếu không biết giữ gìn và tôn trọng thiên nhiên thì số phận của nó không sớm thì muộn sẽ giống như các hang động ở vịnh Hạ Long, đồ dởm bằng xi măng tràn lan ở khắp nơi. Màu sắc bịa đặt. Thật giả lẫn lộn. Tự đánh mất tài sản quý giá của mình.

Bây giờ người ta đang dựa vào những hình thù tự nhiên dựng nên những câu chuyện huyền hoặc, huyền thoại, thần thánh tiên bụt hóa làm cho nhiều người mê hoặc. Đừng thêu dệt những chuyện nhảm nhí vào thiên nhiên, bản thân giá trị của nó đã quá đẹp rồi. Điều đáng ngại là quanh khu du lịch Ngườm Ngao thấy bán rất nhiều nhũ đá, măng đá. Nếu Không ngăn cấm thì chẳng bao lâu những nhũ đá Ngườm Ngao sẽ bị rời đến các dinh thự, nhà hàng khắp nơi, kể cả ở nước ngoài.

Du lịch, GO! - Theo blog Kiến Trúc Việt - Đoàn Đức Thành
Ai có dịp ghé qua vùng núi Tây Bắc, chắc hẳn sẽ được thấy những cọn nước của các bản người Thái, người Mường, người Dao, người Tày, người Nùng... 

Những cọn nước như những bánh xe khổng lồ nhẹ nhàng quay hết ngày này sang ngày khác, bên những dòng suối như một người nông dân hết mực cần mẫn.Cọn nước được ví như "động cơ vĩnh cửu", quay suốt ngày đêm và có thể đưa nước lên cao tới 8m, giúp bà con các dân tộc vùng Tây Bắc đưa nước vào các ruộng trồng lúa nước, đưa nước về tận chái nhà để sinh hoạt... Cùng với những phong cảnh tự nhiên, cọn nước đã góp phần tô điểm thêm vẻ đẹp của vùng núi Tây Bắc.

Trong một góc thẳm sâu tĩnh lặng dành cho quê hương của nhiều người con dân tộc ở các tỉnh miền núi phía Bắc, có một phần kí ức vòng xoay của những chiếc cọn miệt mài quay theo con nước vơi đầy.
.
Đã từng gắn bó như là không thể thiếu được trong cuộc sống hàng ngày của bà con miền núi những ngày còn gian khó, cọn nước mang sứ mệnh thiêng liêng giúp con người duy trì sự sống và các hoạt động sản xuất.
Cái thời chưa điện chưa đường, cối nước hoạt động được nhờ sức nước do còn tạo ra đã giúp người dân bớt đi bao mỏi mệt của những đêm mùa cấy nhẫn nại từng nhịp cối giạ chân để bữa hôm nay vẫn có gạo tra nồi. Mùa đến cọn cõng nước lên đồng cho người cày cấy cho xanh tươi bờ bãi ngút ngàn.

Hàng năm trước khi vào vụ mới người dân bắt đầu chỉnh sửa hoặc làm mới chiếc cọn nước của gia đình mình. Muốn làm được cọn, phải có một quá trình chuẩn bị vật liệu cẩn thận. Tất cả vật liệu đều được lấy từ rừng. Trước hết phải chọn một thanh gỗ thẳng có khả năng thấm nước tốt để làm trục giữa của cọn. Tiếp đó chọn những cây vầu già thân thẳng nhỏ làm nang cọn.

Tuỳ kích thước của cọn mà quyết định số nang và độ dài ngắn của nang. Nhưng thường một chiếc cọn trung bình có từ 36 đến 40 nang. Mỗi nang dài chừng một đến một mét rưỡi. Người ta cũng lấy thêm một vài cây nứa đan thành một tấm hình chữ nhật để làm cánh quạt cho cọn. Đồng thời cũng phải có những cây vầu già nhỏ dài để cố định vòng ngoài cho cọn không bị xô lệch khi sử dụng. Theo kinh nghiệm dân gian thì trục cọn nang cọn và cánh quạt thường được làm bằng cây đã để khô. Mỗi lớp cọn người ta buộc cố định hai trạc làm giá đỡ cọn. Sẽ có hai thanh gỗ chắc chắn có hai núm chẽ mà khi làm cọn người Tày gọi là chân ếch được chọn làm nhánh trạc đỡ từ phía dòng nước chảy về.

Người ta sẽ đục sẵn những lỗ cắn nang cọn trên trục cọn. Độ sâu của những lỗ này phải bằng nhau để khi cắm nang vào thì chiều dài của các nang không bị thay đổi giúp cho cọn được tròn đều. Số lượng lỗ cắm nang phụ thuộc vào chiều dài của nang cọn. Cọn có kích thước càng lớn thì trục cọn và số điểm cắm nang càng lớn. Mỗi nang cách nhau khoảng từ 30-50 cm. Hai nang đối xứng phải bắt chéo nhau ở điểm chính giữa của nang tạo thế liên kết chắc chắn cho chiếc cọn. Tuỳ lực chảy của nước và nhu cầu dùng nước mà người ta quyết định độ rộng của cánh quạt.

Về nguyên tắc độ rộng của cánh quạt càng lớn thì quạt nước càng mạnh. Nhưng do đặc điểm địa hình, đồng bào Tày ở Bắc Kạn chỉ làm những cánh quạt cọn vừa phải tuỳ thuộc vào độ sâu của dòng chảy. Số lượng cánh quạt của một cọn nước nhiều hay ít cũng phụ thuộc vào nhu cầu dùng nước. Song thường thì cứ cách một cặp nang người ta lại gắn một cánh quạt và đi liền với đó là những ống tải nước lên máng.Những ống nước này được làm bằng những đoạn vầu già có kích thước bằng nhau bóc đi một lớp vỏ cho nhẹ. Ống nước được phân bố cân đối để cọn quay đều.

Độ nghiêng của ống phụ thuộc vào độ dài ống nước và phải được cân chỉnh chính xác để vừa tải được nhiều nước vừa đổ đúng nước vào máng. Thông thường những chiếc ống được buộc chếch một góc khoảng 30 độ và đây cũng là độ nghiêng phổ biến của ống nước ở những chiếc cọn khác.  Tiêu chuẩn của một chiếc cọn tốt là sau khi làm xong thân cọn phải chắc chắn nhưng nhẹ nhàng để dễ vận chuyển lắp đặt và chuyển dời khi cần thiết. Đồng thời phải cân đối quay đều tải nước tốt. Chính vì vậy yêu cầu đặt ra cho người làm cọn là phải có óc tưởng tượng tốt có kinh nghiệm và tính kiên trì tỉ mỉ trong công việc.

Không phải ngẫu nhiên mà cọn tự thành hình bên dòng nước chảy. Những cặp nang được phân bố cân đối này dường như mang dáng dấp của một chiếc ách trâu cày đã được cách điệu. Những chiếc ống nghiêng nghiêng hay chính là những bằng huyết trĩu vai bà vai mẹ treo ngang sườn dốc năm nào. Từ cây cành thô ráp cọn tròn trịa duyên dáng đến với bản làng cần mẫn múc nước tưới khắp cánh đồng. Cũng từ những vòng xoay chứa đựng bao tìm tòi trăn trở gửi gắm bao ước vọng đổi đời, cha ông bước lên vững chãi với niềm say mê sáng tạo và khẳng định bản lĩnh làm chủ trên quê hương xứ sở của mình.

Nếu như nói rằng công cụ bằng đồng ra đời gắn với nền văn minh lúa nước ở đồng bằng thì cũng có thể nói rằng cọn chính là chứng nhân của văn minh lúa nước ở vùng núi. Cọn chính là một nét bản sắc văn hoá của đồng bào miền núi phía Bắc. Bên chiếc cọn thân thương, đã có bao đôi lứa nên vợ nên chồng sau những đêm trăng hẹn hò. Cọn cũng là nút thắt sợi tình đoàn kết bản trên làng dưới thêm thắm đượm. Mỗi khi mùa vụ đến lại gọi nhau dựng cọn dẫn nước về.

Tiếp bước cha ông có bao người trẻ ở các tỉnh miền núi phía Bắc cũng đã và đang làm cọn trên các con suối chảy qua bản làng. Mỗi chiếc cọn làm xong người dân thêm một niềm vui có nước cho cánh đồng và thêm tự hào về bức tranh quê tiếp tục được điểm xuyết những nét chấm phá độc đáo không dễ có ở những vùng miền khác.

Trân trọng và nâng niu những giá trị văn hoá từ cọn nước nay đã có những cọn nước thu nhỏ lại đưa về gia đình nơi phố thị trong sự chau chuốt sớm chiều của người yêu rừng nhớ suối. Những vòng quay mải miết như ấp ủ câu chuyện từ thủa ấu thơ mẹ se sợi nhuộm chàm chàm. Như những vòng ô xoay tròn kín đáo che mặt người thương buổi đầu gặp gỡ, như những vòng xoè rực rỡ trong đêm hội vùng cao. Đi suốt tháng năm vẫn không thể mờ phai những vòng xoay mềm mại kiên trì nhẫn nại và mộc mạc như người dân quê chịu khó, chịu thương trong mưa sớm nắng chiều.

Những năm qua nhờ các chương trình, dự án, miền núi đã và đang có thêm nhiều kênh mương bêtông cốt thép tưới nước cho các cánh đồng, sẽ có ít người duy trì cách lấy nước thủ công từ những chiếc cọn làm bằng vật liệu thô sơ. Mặc dù vậy, người miền núi vẫn sâu nặng một niềm tin còn cọn quay là còn những nốt nhạc vui mang hồn cây hồn suối, ngân mãi bản tình ca về một miền quê giàu bản sắc đang tươi mới từng ngày từ những gì xưa cũ mà nặng lòng với bao thế hệ...

Du lịch, GO! - Theo VTV5 Truyền hình Dân tộc, báo Điện Biên, ảnh internet
Chùa Phật Tích nằm trên sườn nam núi Phật Tích (còn gọi núi Lạn Kha, non Tiên) thuộc xã Phật Tích, huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh. Ngay từ những thế kỷ đầu công nguyên, xã Phật Tích đã nằm trong địa bàn diễn ra cuộc gặp gỡ giữa Phật giáo Ấn Độ và tín ngưỡng dân gian Việt cổ. Trên cơ sở đó hình thành trung tâm Phật giáo đầu tiên của đất nước (trung tâm Dâu - Luy Lâu). Và nhà sư Ấn Độ Khâu-đà-la đã về đây dựng chùa và truyền đạo. Nhưng phải đến đời Lý (1010-1225) thì chùa Phật Tích mới được xây dựng với qui mô lớn. Chùa Phật Tích được triều Lý ưu ái đặc biệt bởi nó nằm trong vùng văn hóa lâu đời của xứ Kinh Bắc, quê hương của vua Lý.

Theo tài liệu cổ thì chùa Phật Tích được khởi dựng vào năm Thái Bình thứ tư (1057) với nhiều tòa ngang dãy dọc. Năm 1066, vua Lý Thánh Tông lại cho xây dựng một cây tháp cao.

Sau khi tháp đổ mới lộ ra ở trong đó bức tượng Phật A-di-đà bằng đá xanh nguyên khối được dát ngoài bằng vàng. Để ghi nhận sự xuất hiện kỳ diệu của bức tượng này, làng đổi tên là Phật Tích và dời cả lên trên sườn núi.

Vì Phật Tích là một trung tâm Phật giáo nổi tiếng và là nơi cảnh quan tươi đẹp lại gắn với hàng loạt những câu chuyện huyền thoại, nên các vua Lý và sau này là các vua Trần thường xuyên lui tới thăm viếng.

Năm 1071, Lý Thánh Tông đi du ngoạn khắp vùng Phật Tích và viết chữ "Phật" dài tới 5 mét, sai khắc vào đá đặt trên sườn núi. Trong buổi đầu xây dựng chùa Phật Tích, bà Ỷ Lan có vai trò đặc biệt quan trọng. Để ghi nhận công lao của bà, ở thôn Vĩnh Phú lập đền thờ bà gọi là đền bà Tấm.

Sang thời Trần, Phật Tích vẫn là ngôi chùa lớn, một đại danh thắng. Thời bấy giờ vua Trần Nhân Tông đã cho xây tại chùa một thư viện lớn và cung Bảo Hoa. Sau khi khánh thành, vua Trần Nhân Tông đã sáng tác tập thơ "Bảo Hoa dư bút" dày tới 8 quyển. Vua Trần Nghệ Tông đã lấy Phật Tích làm nơi tổ chức cuộc thi Thái học sinh (thi Tiến sỹ). Đời vua Lê Hiển Tông (1740-1786), một đại yến hội đã được mở ở đây.

Trải qua thời gian, chùa Phật Tích bị tàn phá nặng nề. Vào thời Lê, năm 1686, chùa được xây dựng lại với quy mô rất lớn và đổi tên là Vạn Phúc tự. Bia đá còn ghi lại cảnh chùa thật huy hoàng: "Trên đỉnh núi mở ra một tòa nhà đá, bên trong sáng như ngọc lưu ly. Điện ấy đã rộng lại to, sáng sủa lại kín. Trên bậc thềm đằng trước có bày mười con thú lớn bằng đá, phía sau có Ao Rồng, gác cao vẽ chim phượng và sao Ngưu, sao Đẩu sáng lấp lánh, đầu rồng và tay rồng với tới trời sao".

< Đại Phật tượng đang được dựng.

Chùa được kiến trúc theo kiểu "nội công ngoại quốc", sân chùa là cả một vườn hoa mẫu đơn rực rỡ. Bên phải chùa là Miếu thờ Đức chúa tức bà Trần Thị Ngọc Am là đệ nhất cung tần của chúa Trịnh Tráng tu ở chùa này. Bà chẳng những có công lớn trùng tu chùa mà còn bỏ tiền cùng dân 13 thôn dựng đình. Bên trái chùa chính là nhà tổ đệ nhất thờ Chuyết chuyết Lý Thiên Tộ. Ông mất tại đây năm 1644 thọ 55 tuổi, hiện nay chùa còn giữ được pho tượng của Chuyết công đã kết hỏa lúc đang ngồi thiền. Phía sau chùa là khu vườn tháp gồm 39 ngọn xây bằng gạch và bằng đá (nay còn 34 ngọn).

Nhưng rồi vẻ huy hoàng và sự thịnh vượng của chùa Phật Tích cũng chỉ tồn tại sau đó được gần 300 năm. Kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ và chùa bị tàn phá, hư hỏng nhiều. Khi hòa bình lập lại (1954) đến nay, chùa Phật Tích được khôi phục dần. Năm 1959, Bộ Văn hóa cho tái tạo lại 3 gian chùa nhỏ làm nơi đặt pho tượng A di đà bằng đá quý giá. Tháng 4 năm 1962, Nhà nước công nhận chùa Phật Tích là di tích lịch sử - văn hóa. Sau đó nhân dân trồng phía sau chùa một khu rừng với trên một vạn cây thông và cây bạch đàn, và trồng ở trước cửa chùa vườn cây ăn quả. Cho tới nay, chùa Phật Tích có 7 gian tiền đường để dùng vào việc đón tiếp khách, 5 gian bảo thờ Phật, đức A di đà cùng các vị tam thế, 8 gian nhà Tổ, và 7 gian nhà thờ Mẫu.

Chùa Phật Tích, một công trình văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, cho đến nay vẫn còn giữ được nhiều di vật cổ quý giá. Bức tượng Phật A di đà bằng đá xanh ngồi trên tòa sen cao 1,87 m, một tác phẩm điêu khắc đặc sắc của nền mỹ thuật nước nhà nói chung và nghệ thuật tạc tượng nói riêng. Tượng người chim đánh trống, một nhân vật thần thoại, thể hiện ước mơ thoát tục và khát vọng vươn tới của con người. Đặc biệt, phía trước chùa Phật Tích có một hàng thú 10 con: tê giác, trâu, voi, sư tử, ngựa... to lớn. Tất cả các di vật cổ bằng đá nói trên đều là những tác phẩm nghệ thuật tài hoa của các nghệ nhân dựng chùa buổi đầu tiên với những nét rất đặc trưng cho thời Lý.

Nằm trên sườn núi, xung quanh là rừng thông và vườn cây trái, chùa Phật Tích mang những nét huyền bí và thật thơ mộng. Chùa lại là một trung tâm Phật giáo thịnh vượng, là công trình văn hóa quý quá và đặc biệt là nằm trong vùng văn hiến Kinh Bắc lâu đời nên chùa Phật Tích đã thu hút được bà con trong vùng và du khách thập phương.

Du lịch, GO! - Theo báo Thái Nguyên

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống