Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Monday, 4 July 2011

Mười cảnh đẹp* và nên thơ bậc nhất của đất Hà Tiên (Kiên Giang) đã và đang bị xâm hại, có những cảnh đã hoàn toàn biến mất...
Mười vị trí thường được gọi là Hà Tiên thập cảnh ấy, nổi tiếng từ khi đất Hà Tiên được khai phá, gắn liền với Hà Tiên thập vịnh - mười bài thơ ngâm vịnh miêu tả mười cảnh đẹp do Mạc Thiên Tích (1718-1780) sáng tác. Mạc Thiên Tích là con trai Mạc Cửu (1655-1736 - người có công khai phá đất Hà Tiên) và cũng là người sáng lập nên Tao đàn Chiêu Anh Các - nơi đã cho ra đời hơn 300 bài thơ xướng họa về 10 cảnh đẹp này.

Kim Dự “mất thiêng”

Từ TP Rạch Giá, chỉ sau hơn 2 giờ 30 phút đi xe máy, chúng tôi đã đến được ngã ba tượng đài Mạc Cửu, thị xã Hà Tiên. Từ đây, hỏi thăm người dân địa phương về đảo Kim Dự (cảnh thứ nhất trong mười cảnh đẹp của Hà Tiên: Kim Dự lan đào - đảo vàng chắn sóng), chúng tôi chỉ nhận được những cái lắc đầu “không biết”.
.
Anh Nguyễn Chí Công - một người dân sống tại Hà Tiên - cho rằng chúng tôi nhớ nhầm tên chứ ở thị xã Hà Tiên không có đảo nào là Kim Dự. Tuy nhiên, khi nghe hỏi về núi Pháo Đài, anh Công nhanh nhảu chỉ tay về hướng cầu Tô Châu: “Nó ở phía trước mặt kìa, ngay dốc bên kia đầu cầu Tô Châu”.

Theo truyền thuyết, trước cửa biển Hà Tiên có hòn đảo Kim Dự ngăn chặn sóng gió, gìn giữ cho nội địa được yên bình. Tại hòn đảo này còn có câu chuyện truyền kỳ rằng dưới đảo có con giao long ôm hòn ngọc nằm ở ẩn. Khi giao long chuyển mình thì hòn đảo lay chuyển, có khi trôi xa, có khi dạt vào bờ hoặc chìm xuống đáy biển. Từ cửa biển Hà Tiên, trông đảo Kim Dự như một hòn ngọc nổi trên biển.

< Đảo Kim Dự (nay là núi Pháo Đài) ngày xưa như một hòn ngọc nổi trên biển nhưng nay đã nối với đất liền.

Tuy nhiên, đảo Kim Dự hiện giờ đã được gọi là núi Pháo Đài. Cảnh xưa giờ đã khác nhiều. Hiện tượng bồi lấn khiến mặt phía đông và bắc của Kim Dự bị “xâm lấn” dần dần, nối liền với đất liền của trung tâm thị xã Hà Tiên và vì vậy Kim Dự không còn là ốc đảo. Ngoài yếu tố khách quan từ thiên nhiên, những năm gần đây đảo Kim Dự còn bị con người tác động dữ dội. Án ngữ ngay trên núi Pháo Đài hiện nay là nhà nghỉ Pháo Đài. Nhà nghỉ này khá quy mô, gồm hai khu nghỉ dưỡng và khu nhà hàng, phía trước mặt của nhà hàng (tiếp giáp với mặt biển Tây) là quán cà phê... Nhìn cảnh bát nháo ở đây không ít du khách tỏ ra bức xúc: “Đảo Kim Dự giờ đã mất thiêng”.

Lư Khê bị lấp

Cùng cảnh ngộ với đảo Kim Dự là Rạch Vượt - nơi thuyền ngư đỗ bến, gắn liền với bài vịnh Lư Khê ngư bạc, cũng là cảnh đẹp mà Mạc Thiên Tích nói đến nhiều nhất trong thơ của mình. Trên đường đến thị xã Hà Tiên, nhiều người đi ngang cảnh này mà không hề hay biết sự tồn tại của nó. Hiện Lư Khê nằm gần trụ sở UBND xã Thuận Yên (thị xã Hà Tiên), chỉ cách thị xã Hà Tiên 5km về phía nam và nằm trên quốc lộ 80. Nhiều du khách sẽ rất thất vọng vì không còn nhận ra cảnh Rạch Vượt như trong Hà Tiên thập cảnh nữa. Cửa Rạch Vượt đã bị lấp.

Theo lão nông Trần Minh Đức (74 tuổi, nhà ở cạnh Rạch Vượt), ông nghe ông bà xưa kể lại rằng cửa Rạch Vượt bắt đầu từ mũi núi Gành kéo dài đến núi Đồn. Cửa này bị lấp vào thời Pháp trước những năm 1940. Trò chuyện với chúng tôi, ông Đức hồi tưởng về Rạch Vượt với vẻ day dứt: “Hồi tôi còn nhỏ dòng Rạch Vượt sâu lắm, cắm ngập cây sào tre cũng chưa đụng đáy, bề ngang con rạch lớn hơn 30m, nước trong xanh.

Tại đây cá tôm ăn không hết. Con rạch này có điều đặc biệt là có rất nhiều cá vượt (loại cá chẽm lớn) nên mới có tên Rạch Vượt. Mạc Thiên Tích rất thích cảnh này và ông cho xây dựng bên bờ rạch một điếu đình (nhà ngồi câu) để văn nhân thi sĩ đến câu cá, ngâm thơ. Khi cửa Rạch Vượt bị lấp thì tôm cá cũng không còn nữa”. Theo ông Trần Sơn Hùng (cán bộ xã Thuận Yên), hiện Rạch Vượt có chức năng chính là phục vụ nuôi trồng thủy sản, rạch ngày càng bồi lắng và... ô nhiễm.

Môi trường và cảnh quan bị xâm hại

< Những bụi tre sót lại của lũy Phù Dung (còn gọi là bờ đồn nhỏ).

Là một người am hiểu đất Hà Tiên đến “chân tơ kẽ tóc”, nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt cho biết trong 10 cảnh đẹp của Hà Tiên có cảnh mất “hồn” còn “xác”, có cảnh đã mất hoàn toàn. Cụ thể như Giang Thành dạ cổ (lũy Giang Thành, cảnh thứ tư trong Hà Tiên thập cảnh). Thế kỷ 18, thành lũy nơi đây được đắp bằng đất, bên ngoài lũy trồng tre và cây có gai. Lũy Giang Thành nối tiếp từ lũy Thị Vạn (xã Mỹ Đức, thị xã Hà Tiên) đến quận Giang Thành (hiện nay là huyện Giang Thành)dài độ 20km. Ngày nay hệ thống lũy Giang Thành này đã mất hoàn toàn dấu vết.

Ngoài Kim Dự lan đào hay Lư Khê ngư bạc hiện chỉ còn “xác” nhưng đã mất... hồn, có khá nhiều cảnh trong “top 10” cảnh đẹp Hà Tiên cũng đang bị xâm hại. Từ cổng chính của di tích đến cửa hang Thạch Động (Thạch Động thôn vân), tình trạng hoạt động kinh doanh hàng hóa diễn ra bề bộn, rác đổ bừa bãi gây mất vệ sinh môi trường. Còn bên trong hang, nhiều người tham quan vẽ chữ ngoằn ngoèo trên vách đá trông rất mất mỹ quan. Hiện tại, đứng ngay giữa Thạch Động du khách cũng không thể nhìn “thông thiên” được vì bị mái chùa che khuất. Tương tự, thắng cảnh Mũi Nai (Lộc Trĩ thôn cư) cũng không tránh khỏi tình trạng bị xâm hại, hằng ngày nơi này vẫn đang gánh chịu ô nhiễm của nguồn nước chưa qua xử lý từ các nhà hàng, dịch vụ thải ra.

Theo bà Trần Thị Mai Khanh - trưởng Phòng Văn hóa thể thao và du lịch thị xã Hà Tiên - 10 cảnh đẹp của Hà Tiên đã ăn sâu vào tiềm thức người dân Hà Tiên cũng như người dân cả nước. Hiện nay, khi đến Hà Tiên, du khách thường chọn điểm đến là những cảnh trong Hà Tiên thập cảnh để tham quan.

“Trong quá trình phát triển du lịch, chúng tôi luôn cố giữ lại yếu tố gốc vốn có của thập cảnh Hà Tiên trước đây. Khi cải tạo hay đầu tư lớn, chúng tôi đều phải xin ý kiến cấp trên, nếu đồng ý chúng tôi mới làm”, bà Khanh nói. Tuy nhiên bà Khanh cũng thừa nhận quá trình phát triển du lịch đã có mặt trái và tác động xấu đến danh lam thắng cảnh về môi trường, cảnh quan.
“Chúng tôi đã rút kinh nghiệm những mặt hạn chế trong bảo tồn di tích thắng cảnh thời gian qua, đồng thời đề xuất tỉnh sớm tôn tạo, phục chế những cảnh đã bị mất để phục vụ khách tham quan”, bà Khanh nói thêm.

< Hà Tiên Thập cảnh.

Đã mất 5 cảnh

Theo ông Lê Minh Hoàng- giám đốc Sở Văn hóa - thể thao và du lịch tỉnh Kiên Giang, hiện Hà Tiên thập cảnh đã mất năm cảnh đẹp: Kim Dự lan đào, Giang Thành dạ cổ, Đông Hồ ấn nguyệt, Nam Phố trừng ba, Lư Khê ngư bạc.
Theo nhà thơ Đông Hồ, Hà Tiên thập cảnh gắn liền với Hà Tiên thập vịnh gồm: Kim Dự lan đào (đảo vàng chắn sóng - núi Pháo Đài), Bình San điệp thúy (núi một màu xanh - núi Bình San), Tiêu Tự thần chung (cảnh chuông chùa tịch mịch - chùa Tam Bảo), Giang Thành dạ cổ (trống đêm Giang Thành - lũy Giang Thành), Thạch Động thôn vân (động đá nuốt mây - núi Thạch Động), Châu Nham lạc lộ (cò đậu Châu Nham - núi Đá Dựng), Đông Hồ ấn nguyệt (trăng soi Đông Hồ - đầm Đông Hồ), Nam Phố trừng ba (bãi Nam sóng lặn, tục danh: Bãi Ớt); Lộc Trĩ thôn cư (xóm Mũi Nai), Lư Khê ngư bạc (Rạch Vượt).

TẤN THÁI (còn tiếp)

Du lịch, GO! Theo Tuoitre ------------

* Theo sách “Phủ hiên tạp lục” của Lê Quý Đôn (khắc bản năm 1776) ông cho biết có giữ được sách in bản “Hà Tiên Thập Vịnh” do Mạc Thiên Tích xướng 10 bài có 31 danh sĩ khác họa lại, nên tổng cộng 320 bài đường luật.

Mười cảnh đó được Mạc Thiên Tích đặt tên như sau:

1- Kim dự lan đào (Hòn đảo vàng ngăn chận sóng to)
2- Bình san điệp thúy (Núi dựng một màu xanh)
3- Tiêu tự thần chung (Tiếng chuông sớm ở ngôi chùa tịch mịch)
4- Giang thành dạ cổ (Tiếng trống đêm ở thành lính ven sông)
5- Thạch động thôn vân (Động đá nuốt mây)
6- Châu nham lạc lộ (Núi ngọc cò đậu)
7- Đông hồ ấn nguyệt (Hồ Đông in bóng trăng)
8- Nam phố trừng ba (Bờ biển Nam lặng sóng)
9- Lộc trỉ thôn cư (Thôn trại ở Mũi Nai)
10- Lư khê ngư bạc (Thuyền đỏ ở rạch Vượt)

Ngoài ra còn Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh:

Nếu Hà Tiên thập vịnh có mục đích phổ biến trong giới trí thức về phong cảnh của Hà Tiên thì Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh là một áng văn Nôm có mục đích truyền bá trong giới bình dân, hay nói khác hơn nó thuộc về văn học Nôm.

Đây là khúc vịnh, chia thành 10 đọan mỗi đoạn tả một cảnh trong mười cảnh ở Hà Tiên, mỗi đoạn gồm một khúc lục bát giáng thất chừng 30 câu, cuối mỗi đoạn  có một bài vịnh làm theo thể Đường luật và cuối cùng có một bài tổng vịnh. Tóm lại Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh gồm 422 câu gồm 334 câu lục bát giáng thất và 88 câu của 11 bài đường luật thể thất ngôn bát cú.

Khúc vịnh này có lẽ được sáng tác cùng thời với Chinh phụ ngâm, nhưng đặc biệt hơn là suốt khúc vịnh áp dụng một lối gieo vần chữ thứ 8 câu 8 gieo vần vào chữ thứ 3 câu 7 và do đó thay vì câu thất trắc chữ thứ ba thanh trắc chữ thứ ba thanh trắc lại phải đổi sang thanh bằng...

Nguồn

Sunday, 3 July 2011

“Tây Hồ chân cá thị Tây Thi” tức Hồ Tây đích thị nàng Tây Thi. Câu thơ của Cao Bá Quát ví Hồ Tây đẹp như nàng Tây Thi, một cách ví độc đáo vì Tây Thi đẹp theo bốn mùa: mùa xuân lộng lẫy, mùa hè rực rỡ, mùa thu thanh tú và đẹp thuần nhị mùa đông. Còn Hồ Tây vạt nước mênh mang cũng đẹp như vậy.

Hồ Tây đẹp vì đã ấp ủ cả một kho tàng văn học dân gian phong phú và sáng giá. Ven hồ hội tụ đủ mọi chủ đề tiêu biểu của thần thoại Việt Nam, Lạc Long Quân đã để lại ở đây một trong ba công tích là thêu dệt cáo trắng chín đuôi đem lại yên lành cho dân chúng. Vì thế tên ban đầu của Hồ Tây là hồ Xác Cáo, rồi Khổng Minh thu hết đồng phương Bắc đem về đúc chuông lớn mà khi đánh lên Trâu Vàng cứ ngỡ tiếng mẹ gọi (đồng đen là mẹ vàng), đã vùng chạy sang quần mãi đất thành ra Hồ Tây.

Hồ Tây còn có thêm tên gọi là hồ Trâu Vàng. Rất nhiều các nhân vật lẫn huyền thoại và lịch sử hoạt động ven hồ như: Linh Lang, Trấn Vũ, Mục Thận, Lê Văn Thịnh, Phùng Hưng, Quỳnh Hoa, Quế Hoa, Liễu Hạnh, …

Ven Hồ Tây có nhiều làng nghề mà tên tuổi có thể tính bằng thiên niên kỷ: nghề làm giấy Yên Thái, Nghĩa Đô có cách đây khoảng 11 thế kỷ; nghề dệt lĩnh ở Trích Sài có từ thời Lý; nghề trồng hoa, cây cảnh ở Nghi Tàm, Quảng Bá, Nhật Tân cũng có mặt ở đây khi Thăng Long trở thành kinh đô; nghề đúc đồng Ngũ Xã cũng đã dư vài thế kỷ.

Ngoài ra nhiều di tích lịch sử, văn hóa ven hồ như: đình, đền, chùa, miếu mà tuổi đời cũng xấp xỉ nghìn năm. Đền Đông Cổ ở làng Đông là ngôi đền cổ nhất hiện có ở Thăng Long, Hà Nội. Tính đến nay, ven Hồ Tây đã có 32 di tích đã xếp hạng trong đó 22 di tích xếp hạng cấp quốc gia và 7 di tích xếp hạng cấp thành phố trên tổng số 62 di tích. Những di tích đó cứ mỗi khi xuân về, đã thu hút số lượng lớn khách thập phương trong và ngoài nước đến vãn cảnh, tham quan.  Các lễ hội ở đây giàu bản sắc dân tộc mà chỉ ở Thăng Long – Hà Nội mới có. Đó là lễ hội trung hiếu ở đền Đồng Cổ, lễ hội bắt trạch ở làng Hồ Khẩu, lễ hội rước nước ở đình làng Yên Phụ, Nhật Tân, Quảng Bá, Nghi Tàm,…

Đền Quán Thánh tương truyền có từ khi Lý Công Uẩn dời đô ra Thăng Long, tức đầu thế kỷ XI. Chùa Trấn Quốc còn sớm hơn, từ  thế kỷ thứ VI ở ngoài đê nên có tên là Khai Quốc, năm 1615 dời vào trong đê lấy tên là Trấn Quốc. Còn Phủ Tây Hồ theo truyền thuyêt kể rằng: đây là nơi Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan đã gặp Quỳnh Hoa công chúa tức Mẫu Liễu Hạnh. Sau được nhà vua ban sắc phong và cho phép nhân dân lập đền thờ và tôn vinh là “Mẫu nhi thiên hạ”.

Tây Hồ  còn là nguồn cung cấp hoa, cây cảnh cho thì trường Hà Nội: đào Nhật Tân, quất Tây Hồ, Tứ Liên, cá cảnh Yên Phụ, cây cảnh Nghi Tàm. Tây Hồ với diện tích mặt nước khá rộng còn là vựa cá, cá chép Hồ Tây là đặc sản riêng của Hà Nội.

Từ bao lâu Hồ Tây vẫn như nàng Tây Thi thủa còn giặt lụa ở Trữ Na. Trong những năm gần đây, các nhà đầu tư, kinh doanh du lịch đã đánh thức “người đẹp”. Mặt hồ và đất hồ cựa mình trỗi dậy, bao nhà hàng, khách sạn,… cần quản lý.

 Một cấp hành chính quản lý riêng khu vực Hồ Tây được ra đời vào cuối năm 1995. Dự án quy hoạch tổng thể được phê chuẩn. Dải đất này sẽ trở thành một trung tâm văn hóa, du lịch, dịch vụ, trung tâm thể thao và thương mại.

Trong tương lai gần, khu phía nam của hồ sẽ là trung tâm giao dịch thương mại Quốc tế với văn phòng, khách sạn, căn hộ cho thuê,… nối liền trung tâm chính trị Ba Đình với đường Thăng Long – Nội Bài. Phía tây hồ là phường Xuân La sẽ là trung tâm thể thao Quốc gia, có sân vận động chứa hàng vạn người và nhiều dịch vụ giải trí khác. Khu phía bắc với phường Nhật Tân được quy hoạch thành nơi nghỉ cuối tuần. Du khách sẽ thăm các làng hoa, cây cảnh, tham dự các hoạt động thể thao thư giãn như câu cá, bơi thuyền,…Phía đông hồ với hai phường Yên Phụ, Tứ Liên sẽ là trung tâm du lịch, dịch vụ với khách sạn, nhà hàng, các tòa nhà phục vụ hội nghị Quốc tế. Quy hoạch này đang chờ nhà đầu tư.

Những năm gần đây UBND TP Hà Nội đã quan tâm đầu tư kinh phí để làm đường dạo quanh Hồ Tây, vừa tạo cảnh quan phục vụ du khách dạo chơi quanh hồ, vừa chống lấn chiếm đất. Đồng thời sẽ phải có những giải pháp kiến trúc hạn chế không cho làm nhà quá cao bên cạnh hồ. Mật độ xây dựng cũng vừa phải tạo sự thông thoáng.

Hiện đã có một dự án của nước ngoài liên doanh với Hà Nội, xây dựng một thành phố bên Hồ Tây với diện tích khoảng 400 ha. Nếu dự án này được nghiên cứu ở nhiều góc độ: quy hoạch, kiến trúc, văn hóa, lịch sử, kinh tế và được chấp nhận thì Hồ Tây không chỉ là Tây Thi trong thơ ca mà là “người đẹp” tuyệt trần trong hiện thực đời sống của thủ đô Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung.

Du lịch, GO! - Theo Vietbao
I. CƠ BẢN VỀ PHƯƠNG HƯỚNG

Hoa Phương Hướng
4 Hướng chính Bắc, Đông, Nam, Tây.
 + Hướng Bắc : Có góc phương vị là 00 hoặc 3600
 + Hướng Đông : Có góc phương vị là 900
 + Hướng Nam : Có góc phương vị là 1800
 + Hướng Tây : Có góc phương vị là 2700
12 Hướng phụ : Bắc Đông Bắc, Đông Bắc, Đông Đông Bắc, Đông Đông Nam, Đông Nam, Nam Đông Nam, Tây Tây Nam, Tây Nam, Nam Tây Nam, Tây Tây Bắc, Tây Bắc, Bắc Tây Bắc.
Kỹ năng sống và thoát khi bị lạc trong rừng

.

II. CÁC CÁCH XÁC ĐỊNH PHƯƠNG HƯỚNG

Cách 1: Sử dụng la bàn.


- Khi sử dụng la bàn, ta cần nhớ rằng hướng Bắc của la bàn (còn gọi là Bắc Từ) không trùng với hướng Bắc của cực (trục) Trái Đất. Chúng các nhau tới gần 2.000km (tức khoảng 13,8 độ Vĩ Tuyến – dài xấp xỉ chiều dài nước Việt Nam). Độ lệch đó gọi là Độ Từ Thiên.
- Độ Từ Thiên thay đổi tùy theo vị trí nơi ta đứng trên Trái Đất. Ở một số nơi, Độ Từ Thiên còn thay đổi theo thời gian.
- Điểm tập trung Bắc Từ trường của Trái Đất nằm ở trên đảo Bathustle thuộc miền Bắc nước Canada, đó là một hòn đảo từ trường cách chính diện Cực Bắc 13,8 độ. Tọa độ địa lý của Bathustle là 101 độ Kinh Tây và 76,2 độ Vĩ Bắc (điểm có mũi tên chỉ trên bản đồ dưới đây). Nơi đây là trung tâm điểm từ trường của cực Bắc. Do đó, tất cả những loại nam châm (hoặc những kim loại có từ tính) trên qủa địa cầu này đều có một cực chỉ về hướng Bắc.
- Còn điểm Nam từ trường thì nằm ở ngoài khơi biển Nam Băng Dương, có tọa độ địa lý là 139 độ Kinh Đông và 65 độ Vĩ Nam (theo số liệu của Cục Đo Đạc bản đồ - năm 1970).
- Lợi dụng đặc điểm này, người ta đã tạo ra la bàn để định hướng. Theo các nhà khảo cổ thì những người Trung Hoa đã tìm ra nguyên tắc từ trường và sáng chế ra la bàn từ khoảng thế kỷ thứ 5 trước Công Nguyên.
- Ở nước ta, Bắc la bàn xem như gần trùng với hướng bắc của qủa đất, Độ Từ Thiên không qúa 1 độ.
- Có 2 loại địa bàn thông dụng: loại có kim (1 đầu có từ tính) quay trên một trục và chỉ hướng Bắc và loại không có kim mà chỉ có một mặt tròn trên có khắc mũi tên và luôn chỉ về một hướng hoặc ghi số 0 và chữ N.

Cách sử dụng la bàn quân sự

Đây là loại la bàn tiêu biểu, có độ chính xác khá cao, rất tinh vi và dễ sử dụng. La bàn quân sự gồm các thành phần sau đây
1. Khoen đồng : Dùng để luồn ngón cái, giữ la bàn khi nhắm hướng và khóa nắp la bàn lại.
2. Nắp la bàn : Có một khe hình chữ nhật, ở giữa có 1 sợi dây đồng nhỏ gọi là “Chỉ nhắm hướng”, để nhắm vào ban ngày. Chỉ nhắm hướng có 2 chấm lân tinh dùng để nhắm vào ban đêm. Nắp la bàn được gắn với thân la bàn bằng 1 bảng lề.
3. Mặt la bàn : Gồm có hai mặt kính
- Mặt thứ nhất : Xoay tròn được, và có 120 nấc (mỗi nấc là 3 độ). Trên mặt kính có một vạch và một chấm lân tinh hợp với nhau tạo thành một góc 45 độ, góc là trục của la bàn.
- Mặt thứ hai : Cố định, có một vạch đen chuẩn hướng về nắp la bàn.
4. Mặt kính khắc số di động : Được gắn vào một thanh nam châm và xoay quanh một trục, trên đó có hai mặt số.
- Vòng ngoài : Màu đen, chỉ ly giác. Có 6400 ly giác.
- Vòng trong : Màu đỏ, chỉ độ. Có 360 độ
5. Bộ phận nhắm : Gồm có khe nhắm và kính phóng đại.
6. Thước đo : Nằm ngoài cạnh trái của la bàn khi mở ra. Sử dụng được cho bản đồ có tỷ lệ là 1/25000.
Cách sử dụng
- Mở và ấn khoen đồng xuống phía dưới.
- Mở nắp và bẻ thẳng góc với mặt la bàn.
- Mở bộ phận ngắm xiên 45 độ so với mặt la bàn.
- Luồn ngón cái tay phải qua khoen đồng.
- Ngón tay trỏ phải ôm quanh thân la bàn, ba ngón còn lại đỡ thân la bàn.
- Tay trái ôm và nâng tay phải.
- Đưa địa bàn sát vào mắt, lấy đường ngắm.
Khi sử dụng la bàn ta phải lưu ý các điểm sau:
- Không gần vật kim loại: kim nam châm sẽ chỉ lệch.
- Không để gần lửa: Nam châm sẽ mất từ tính.

Cách 2: Xác định phương hướng bằng mặt trời

Ngay từ nhỏ khi còn đi học ở tiểu học. Chắc chắn chúng ta đều biết một bài bài học vỡ lòng về “Xác Định Phương Hướng”. Đó là:
- Sáng: Mặt trời mọc ở hướng Đông.
- Chiều: Mặt trời lặn ở hướng Tây.
- Giữa trưa: Mặt trời đứng bóng.
Sau này, khi càng lớn lên. Chúng ta sẽ nhận ra rằng, phương pháp trên chỉ gần đúng mà thôi. thực tế, vị trí mọc và lặn của mặt trời trong năm không cố định mà thay đổi theo chu kỳ: Xuân Phân
Theo đó, (đối với vị trí Việt Nam)
- Những ngày Xuân Phân, Thu Phân thì mặt trời sẽ mọc ở chính Đông và lặn chính Tây.
- Những ngày Hạ Chí (mùa Hè) thì mặt trời mọc ở Đông Bắc và lặn ở Tây Bắc.
- Những ngày Đông Chí (mùa Đông) thì Mặt trời mọc ở Đông Nam và lặn ở Tây Nam. Giữa trưa, Mặt trời không đứng bóng mà lại chệch về hướng Nam, lúc đó bóng của vật sẽ đổ về hướng Bắc.

Cách 3: Xác định phương hướng bằng phương pháp Owen Doff  

Owendoff là một nhà phi công người Anh, ông đã nghiên cứu được một phương pháp xác định phương hướng bằng cách phối hợp giữa gậy và bóng nắng. Phương pháp này đã được ông thử nghiệm nhiều lần ở nhiều thời điểm khác nhau trong ngày và tại nhiềuvị trí khác nhau trên trái đất. Kết quả cuối cùng chính xác gần như tuyệt đối.Các bước thực hiện như sau :
* Cắm một gậy (có chiều cao từ  0.6m đến 1.2m là thích hợp nhất) xuống đất, đỉnh bóng ban đầu của gậy ta đặt là T. (HÌNH 1)
* Đợi khoảng 15 phút sau, bóng gậy sẽ khác đi. Đỉnh bóng của gậy lúc này ta sẽ đặt là Đ. (HÌNH 2)
* Nối T với Đ, ta sẽ có đoạn thẳng TĐ với đầu T chỉ hướng Tây và đầu Đ chỉ hướng Đông.
* Dựa trên trục Đông – Tây, ta dễ dàng dùng hoa phương hướng xác định các hướng còn lại.

Cách 4: Xác định phương hướng bằng đồng hồ kim

Với một chiếc đồng hồ có kim và 12 số chỉ giờ, ta vẫn có thể xác định phương hướng được. Gồm các bước sau:
- Đặt đồng hồ nằm ngửa trên lòng bàn tay (theo phương nằm ngang) sao cho kim giờ chỉ về hướng của Mặt Trời hiện tại.
- Chia đôi góc do chiếc kim chỉ giờ và đường 6-12 tạo nên. Đường phân giác này sẽ chỉ hướng Bắc – Nam (góc nhỏ nhìn về hướng Nam – góc lớn nhìn về hướng Bắc). Ví dụ trong hình vẽ là 13g00, tức 1g00 chiều.
Nguyên lý của phương pháp này dựa trên hiện tượng Mặt Trời mọc và lặn đối với Trái Đất, tạo thành một đường tròn xung quanh Trái Đất, trong 24 tiếng đồng hồ. Kim giờ của đồng hồ thì quay một vòng tròn trong 12 giờ, nghĩa là trong cùng một thời gian, kim đồng hồ vạch cung lớn hơn 2 lần.
Hiểu một cách ngược lại, nếu ta lấy hướng Bắc – Nam chia đôi cung do kim giờ vạch ra (với vị trí của mặt đồng hồ như đã làm ở trên), ta sẽ tìm thấy hướng của Mặt Trời đang hiện diện.

Tuy nhiên, phương pháp này không chính xác cho lắm, sai số có thể lên đến hàng chục độ. Nguyên nhân chính là vì mặt đồng hồ được đặt song song với mặt phẳng chân trời, còn đường di chuyển hàng ngày của Mặt Trời chỉ ở cực mới nằm trên mặt phẳng nằm ngang. Còn ở các vĩ độ khác, đường đó tạo nên với đường chân trời những góc khác nhau, góc đó có thể lớn hơn 90 độ (ở Xích Đạo). Vì lẽ đó, chỉ có ở vùng gần cực thì mới có thể dùng phương pháp này để xác định phương hướng cho kết qủa chính xác mà thôi.

Cách 5: Xác định phương hướng bằng mặt trăng

Ban đêm nếu có trăng, thì vị trí của Mặt Trăng trên bầu trời có thể giúp chúng ta xác định phương hướng. Do Mặt Trăng cũng nằm trên đường Hoàng Đới, nên dường như nó cũng mọc ở hướng Đông và lặn ở hướng Tây giống như Mặt Trời. Nhưng Mặt Trăng lại khác Mặt Trời ở chỗ: lúc thì tròn lúc thì khuyết, nên việc xác định phương hướng cũng khác đôi chút.

Dân gian ta có câu:
Đầu trăng trăng khuyết ở Đông.
Cuối trăng trăng khuyết ở Tây.
Hoặc đơn giản hơn có thể nhớ:
Đầu tháng Tây trắng.
Cuối tháng Tây đen.

Tức là ta căn cứ vào khoảng những ngày trước rằm Âm Lịch (từ mùng 1 Âm Lịch đến mùng 14 Âm Lịch) thì phần khuyết của trăng sẽ chỉ về hướng Đông.
Ngày Rằm, suốt đêm quan sát thấy ánh trăng tròn sáng vằng vặc trên bầu trời. Ta có thể dùng “Phương pháp Owen Doff” để xác định phương hướng cũng được.
Còn vào khoảng những ngày sau rằm Âm Lịch (từ mùng 17 đến mùng 30) thì phần khuyết của trăng sẽ chỉ về hướng Tây.

Cách 6: Xác định phương hướng bằng các địa vật đặc biệt

Nếu như không có la bàn, không có ánh Mặt Trời cũng như không có Mặt Trăng… thì ta đành phải sử dụng một số phương pháp cổ điển của một số người dân đi rừng như. Tuy mức độ chính xác không cao, nhưng cũng phần nào giúp cho người lạc lối yên tâm và bình tĩnh tìm được lối về.
Trước hết, nếu có Bản Đồ trong tay, ta có thể sử dụng các dấu hiệu, các địa vật đặc biệt. Thí dụ: một cây cầu, một con đường quốc lộ… mà ta đã biết rõ hướng và vị trí của nó trên Bản Đồ. Có thể xác định vị trí nơi ta đứng, trên cơ sở đó phân biệt các hướng khác nhau.

* Hoa Hướng Dương luôn quay mặt về hướng Đông, do đó nó mới có tên là Hướng Dương (hướng về Mặt Trời mọc).
* Các hình dáng đặc thù của thân cây cao trong khu rừng rậm luôn có chiều hướng về phía Mặt Trời mọc để đón lấy ánh nắng Mặt Trời.
* Ở những vùng nhiệt đới – Xích Đạo, rêu (hoặc địa y phát triển cộng sinh) mọc trên thân cây ở phía Tây rất nhiều. Ở vùng ôn đới thì rêu sẽ mọc hướng Bắc.
* Bụi cây, chòm cây độc lập, trong những tháng có gió Đông Bắc (gió lạnh), khi có động chim từ hướng nào bay ra nhiều, dưới gốc cây có nhiều cứt chim là hướng Tây Nam.
* Lõi của thân cây lớn (thân cây nếu bị cắt ngang) sẽ chỉ về hướng Bắc.
* Dựa vào hướng bay của chim: Mùa Đông thì bay về hướng Nam di trú, mùa Hè thì bay về hướng Bắc (chỉ chú ý những con chim bay cao).
* Măng tre, chuối con thường mọc hướng Đông trước to hơn, các hướng khác mọc sau bé hơn.
* Tổ kiến: che đắp nhiều lá hướng Bắc (kể cả tổ kiến trên cây lẫn dưới đất. Trừ những nơi thấp, không có mưa, ít gió).
* Lỗ của tổ ong, chim đục trên cây làm tổ thường là hướng Đông Nam.
Cách 7 : Xác định phương hướng bằng sao – chòm sao
* Định hướng bằng sao mai – sao hôm
Sao Hôm và sao Mai thực ra chỉ là một. Nó chính là Kim Tinh (Venus). Một hành tinh thứ hai gần Mặt Trời trong Thái Dương Hệ của chúng ta (xem hình ở dưới).


Bởi vì nó rất gần Mặt Trời cho nên từ Trái Đất nhìn tới, ta thấy nó rất sáng và thường xuất hiện “gần gũi” với Mặt Trời vào những lúc hửng sáng và chập tối.
Lúc Kim Tinh mọc vào khoảng chập tối (sau khi Mặt Trời vừa lặn xong), nó được gọi là Sao Hôm, vị trí của nó ở hướng Tây. Và khi Kim Tinh mọc vào lúc hửng sáng (trước khi Mặt Trời mọc), nó được mọi người gọi là Sao Mai, vị trí của nó là ở hướng Đông.

* Chòm sao gấu lớn:
- Kéo dài cạnh ngoài của gấu lớn khoảng 5 đoạn sẽ gặp Sao Bắc Đẩu
- Xuất hiện (từ chập tối) suốt đêm, từ tháng 3 đến tháng 8. Những tháng khác chòm sao Gấu Lớn xuất hiện rất khuya hoặc gần sáng mới thấy.
- Ngoài ra chòm Gấu Lớn người ta còn sử dụng để dự đoán giờ bằng đuôi của nó. Buổi tối, đuôi chòm này ở phía Đông, sáng sớm, đuôi ngã về phía Tây.
 - Định vị ở hướng Tây Bắc, Tây Tây Bắc, từ mặt đất ta nhìn lên khoảng góc 60 độ.


* Chòm sao Thiên Nga
-         Kéo dài cạnh mũi tên khoảng 4 đoạn sẽ gặp sao Bắc cực.
-         Xuất hiện suốt đêm giữa mùa hạ sang đầu mùa thu (tháng 5 – .
-         Mùa đông (tháng 10 – 12) xuất hiện từ chập tối đến nửa đêm, gần về sáng thì lặng.

* Chòm sao Thiên Hậu
+ Lên cao hình chữ M.
+ Sắp lặn hình chữ W.
-         Kẽ đường thẳng gần như vuông góc với cạnh thứ 3 của con số 3 hay của chữ M, rồi lấy chừng 7 lần thì tới sao Bắc cực.
-         Mọc lúc chập tối từ tháng 9.
-          Có mặt suốt đêm trên bầu trời từ cuối mùa thu (tháng 9) đến giữa mùa đông (tháng 11). Mọc sau chòm Thiên Nga gần 6 giờ. Định vị ở hướng Tây Tây Bắc, góc nhìn khoảng 70 độ.
* Chòm sao Ngự Phu
-         Kéo dài cạnh ab khoảng 5 lần bằng ab sẽ gặp sao Bắc cực.
-         Xuất hiện sau chòm Thiên Hậu. Biến mất khoảng tháng 6.
* Chòm sao Chiến Sĩ
-         Từ ngôi sao đỉnh đầu kéo một đường tưởng tượng qua ngôi sao giữa dây lưng, ta sẽ tìm được phương Nam.
-         Nằm vắt ngang xích đạo trời.
-         Xuất hiện từ tháng 10 đến tháng 4 và lặn vào tháng 6 .
-         Chòm sao thuộc Nam bán cầu.
* Chòm sao Nam Thập (Thập tự phương nam)
            - Kéo từ đỉnh của thập tự kéo xuống chân trời sẽ là hướng nam.
            - Chòm sao mọc rất thấp, gần sát đường chân trời.
            - Chòm sao thuộc Nam bán cầu

Chúc bạn thành công!

Du lịch, GO! - Theo Quandoan1

Kỹ năng sống và thoát khi bị lạc trong rừng

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống