Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Friday, 8 July 2011

Kể cả khi ta đã thấu hiểu mọi điều trong cuộc sống thì thiên nhiên vẫn còn rất nhiều bí ẩn. Ghềnh Đá Đĩa là một bí ẩn như thế.
Nằm cách thành phố Tuy Hòa tỉnh Phú Yên hơn 40km về phía Nam, ghềnh Đá Đĩa nổi bật giữa trời biển mênh mông với màu đen tuyền của những khối đá hình lục giác nằm sát bên nhau như những chồng đĩa lớn độc đáo và vững chãi.

Chỉ có vài ghềnh đá trên thế giới được biết đến như kỳ quan thiên tạo với lớp lớp những phiến đã bazan dạng cột nằm phơi cùng sóng biển. Và ghềnh Đá Đĩa bên bờ biển duyên hải Nam Trung Bộ với những ngày nắng rực rỡ quanh năm là đặc biệt hơn cả.

Dầu vết của núi lửa còn sót lại trên dài đất hình chữ S nằm rải rác trong khu vực Tây nguyên và Nam Trung Bộ là những cánh đồng, những cao nguyên màu mỡ. Đất và đá bazan tạo nên cái vẻ phong trần cuốn hút kỳ lạ cho khung cảnh và con người nơi đây.
.
Nằm ở gần cuối nguồn con sông Ba rộng lớn đổ ra khơi, cũng là nơi dòng nham thạch va chạm với sóng biển, ghềnh đá Đĩa được hoài thai bởi sự gặp nhau giữa lửa và nước. Các khối đã bazan đông kết lại đều có hình lục lăng, có chỗ đá ở ghềnh giống hệt bề mặt tổ ong với những phiến đã kích thước bằng nhau xếp chồng lên.

Sở dĩ có tên gọi là ghềnh Đá Đĩa bởi phía giáp biển, các trụ đá xếp khít nhau thẳng đứng, sóng vỗ quanh năm làm mặt đá nhẵn bóng và tròn đều như những chiếc đĩa xếp thẳng hàng. Một sự cân bằng hoàn hảo của thiên nhiên. Không có bàn tay nhân tạo nào có thể làm nên một ghềnh đá kỳ lạ đến thế.

Ở đây, mỗi ngày đều có du khách từ xa tìm đến chiêm ngưỡng kỳ quan thiên nhiên đặc biệt này. Cũng chả ai thèm quan tâm quanh ghềnh đá với bán kính vài chục cây số không có lấy một dịch vụ du lịch nào. Bởi họ đến đây để khám phá bí mật của tự nhiên, nên cái vẻ hoang sơ và thắng cảnh gần như chưa được khai thác ấy lại là điều lý thú. Và lý thú hơn nữa khi được ngắm nhìn lác đác tàu thuyền của ngu dân trong vùng neo đậu ở một vịnh nhỏ bên ngoài ghềnh. Cuộc mưu sinh của họ dựa cả vào những sản vật đặc biệt ở vùng biển Phú Yên với ốc vú nàng, bào ngư, hải sâm....

Nếu có thể, bạn hãy đến ghềnh Đá Đĩa vào chiều muộn. giữa huyền ảo của ánh hoàng hôn, những xô lệch của chồng đá bazan trên ghềnh đá càng trở nên bí ẩn, như được sắp xếp bởi một bàn tay vô hình khổng lồ. Ở một góc khác lại thấy ghềnh đá như đống lego đồ chơi của một đứa trẻ hiếu động. Hai mặt ghềnh đá đều được mặt trời chiếu rọi, một bên đón bình minh lên, một bên hứng hoàng hôn xuống...
Đúng ngọ, trọn ghềnh đá phơi trên sóng biển xanh biếc, đá nóng giãy và đen bóng. Nhưng chỉ chiều xuống, sóng lại làm nguội đá rất nhanh, tưởng như những tảng đá vuông vắn như được gọt kia xốp như vách tổ ong.
Giờ thì biển Nam Trung bộ đang là điểm đến bình yên và thơ mộng bậc nhất Châu Á. Và ghềnh Đá Đĩa cũng là một trong những bí ẩn của miền đất này đang chờ được khám phá.

Không xa ghềnh đá này là đầm Ô Loan giàu sản vật, là ngọn hải đăng cắm ở cực Đông tổ quốc trên Mũi Điện, là vịnh Xuân Đài xanh trong, là Vũng Rô huyền thoại hay cánh đồng Tuy Hòa màu mỡ bên dòng sông Ba.
Nếu không đủ thời gian thăm thú hết những địa danh này thì hãy chọn ghềnh Đá Đĩa cho cuộc đi.

Bởi ở đó, ta được đi dọc những đập nước, qua những bờ thửa xếp đá gan gà cổ xưa còn lại, những nếp nhà nhỏ bé khiêm tốn nấp sau rặng tre ruộng vườn. Và quan trọng là được lặng người trước thiên nhiên kỳ diệu. Nơi này, đá trầm tích của thời gian phơi trên tuế nguyệt, in bóng từ bình minh cho tới lúc hoàng hôn.

Du lịch, GO! - Theo 24h.com

Du lịch, GO!: Kỳ vĩ Gành Đá Dĩa (Ghềnh Đá đĩa)
Du lịch, GO!: Về Phú Yên phiêu du với đá
Pác Miều hiền hòa với những chiếc bè mảng sông Gâm. Thị trấn nhỏ vùng cao đón khách bằng món thịt chua Cao Bằng nổi tiếng nồng men rượu.

Từ đây, ngược thêm chỉ 14km là gặp ngã ba sông Gâm ở Lý Bôn. Chúng tôi chạm vào dòng Nho Quế kỳ bí dưới vách đá trong hành trình men theo dòng nước này tới sơn nguyên đá Hà Giang.

Sông Nho Quế bắt nguồn từ Trung Quốc với tên gọi Phổ Mai Hà chảy qua Việt Nam ngay địa đầu Lũng Cú. Trên chiều dài ngắn ngủi 46km từ Hà Giang đến Cao Bằng, dòng Nho Quế xanh màu ngọc lục bảo xuyên qua những vách đá cao hun hút ở đèo Mã Pì Lèng hùng vĩ nhất Việt Nam. Trên con đường dốc từ Khuổi Vin đến Mèo Vạc, thỉnh thoảng ngó xuống vực sâu thấy dòng Nho Quế nhỏ như sợi chỉ từ trời đổ xuống.
.
Tạm biệt Cao Bằng trên đỉnh dốc, anh tài xế dừng xe lấy một cây thép dài hơn một mét đóng ngập xuống lòng đất thay cho việc thắp hương nguyện cầu bình yên trên những cung đường hiểm trở. Sùng Mí Xá, cán bộ phòng văn hóa huyện Mèo Vạc hỏi: “Có biết cao nguyên đá Mèo Vạc hiểm trở nhất chỗ nào không?” Tôi trả lời ngay là Mã Pì Lèng. Anh Xá nói: “Mã Pì Lèng ngày xưa, bây giờ đã có đường rồi. Ngày mai vô Cán Chu Phìn, tới dốc Chín Thang, dốc Bảy Thang thử coi!” Chúng tôi ngạc nhiên, không lẽ nơi này còn có chỗ hiểm trở hơn Mã Pì Lèng?

Tôi sực nhớ địa danh Cán Chu Phìn qua nhân vật Sùng Chóa Vàng trong bút ký Trở lại Mèo Vạc của nhà văn Nguyên Ngọc. Đó là một cao nguyên đá, một thung lũng đá cạnh dãy núi ở Sơn Vĩ, mùa xuân hoa mạch ba góc nở trắng hồng, mùa hè lan huyết nhung renanthera vietnamensis đỏ tựa màu máu, mùa đông thỉnh thoảng tuyết rơi.

Sùng Mí Xá trước đây là cán bộ đội chiếu phim lưu động, một tuần trèo dốc Chín Thang hai lần, lặn lội khắp các bản xa vùng biên giới. Bây giờ, anh đưa chúng tôi trở lại Cán Chu Phìn trong vai trò người dẫn đường và phiên dịch. Phần lớn người H’mông ở Cán Chu Phìn không nói được tiếng phổ thông. Đoạn đường chữ chi 22km từ Mèo Vạc vô Cán Chu Phìn băng qua cao nguyên đá tới bản Mèo Qua quả là con đường thử thách lòng người. Đường hẹp chưa tới sải tay, đá tai mèo lởm chởm. Thật khó khăn để tìm một chỗ đất bằng đặt lọt bàn chân cho đỡ đau. Dưới chân, bên mình, trên đầu bao phủ một màu đá xám ngắt lạnh lùng.

Bản Mèo Qua nằm cuối cao nguyên đá Cán Chu Phìn. Bốn mươi bảy nóc nhà lưng chừng trên vách đá nhìn xuống dòng Nho Quế. Người H’mông ở Mèo Qua gùi từng bụm đất bỏ vào hốc đá trồng ngô và mạch ba góc. Núi ở trên đầu sông ở dưới chân nhưng muốn tìm nước uống người ta phải đu mình qua vách đá lên xuống mất sáu tiếng đồng hồ. Từ bao đời nay, dốc Chín Thang là con đường duy nhất của người dân Mèo Qua đi lấy nước hàng ngày.

Bên vách đá cuối bản, người ta bắc chín bậc thang bằng cây rừng qua kẽ đá rồi treo mình tụt xuống dòng sông. Con đường sự sống cao hơn 600m, đủ làm rùng mình những kẻ có thần kinh thép. Chúng tôi ngồi suốt cả buổi chiều ở tảng đá hình mũi tàu đầu dốc nhìn dòng Nho Quế nhỏ xíu bên dưới chảy lững lờ như trong giấc mơ. Nhìn sang bên kia là Sơn Vĩ, Lũng Làn cao vòi vọi. Trên đỉnh núi đó có một cái đồn mà năm 1979 Trung Quốc không thể nào tấn công nổi.

Cao nguyên đá thực sự cuốn hút bất cứ người khách lạ nào đã một lần đến đây. Một vùng núi đá bao la trùng trùng điệp điệp từ Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc với những cung đường trên mây, những bản làng trên mây và sự sống con người trên đá luôn đem lại những ấn tượng mạnh mẽ lạ lùng. Chúng tôi chia tay Mèo Vạc vượt Mã Pì Lèng trong buổi sáng chợ phiên sau khi lót dạ bằng thắng cố và rượu ngô mà anh Sùng Mí Xá khuyến cáo cảnh giác vì men Trung Quốc.

Mã Pì Lèng nối Mèo Vạc với Đồng Văn là con đèo hùng vĩ bậc nhất Việt Nam, được mở ra bằng kỳ tích sáu năm gần 3 triệu lượt ngày công, 3 triệu mét khối đá và 11 tháng đội cảm tử treo mình trên vách đứng ở độ cao 1.600m để đục con đường công vụ qua chỗ sống mũi ngựa hiểm trở nhất bằng phương tiện thủ công. Thử bước xuống khỏi ôtô, nhoài người ra nhìn xuống vực, cũng đủ rợn ngợp để hiểu công việc của đội cảm tử quân ngày xưa trước mỗi ngày làm việc đều phải đối diện với 17 chiếc quan tài đặt sẵn trong lán. Trước Mã Pì Lèng, người H’mông ở cao nguyên đá không có con đường. Muốn vượt núi để sang bên kia phải đóng cọc, cột dây đu mình lơ lửng bò qua.

Bây giờ, trên đỉnh cao gần 2.000m so với mực nước biển, người ta đã xây một trạm nhỏ dừng chân, lập bia ghi nhớ Cung Đường Hạnh Phúc. Từ trạm dừng chân này, phóng tầm mắt xuống dưới lại thấy dòng Nho Quế lững lờ như con rắn lục xanh bí ẩn trườn mình qua vách đá Tà Làng cao bậc nhất Việt Nam trong cảm giác rợn ngợp. Lạ lùng hơn, trong màn sương mờ quanh năm trên đỉnh núi ẩn hiện những con đường chữ chi như sợi chỉ đi xuống dòng sông và thấp thoáng những bóng áo xanh đu mình trên vách tỉa ngô trong hốc đá. Lâu lâu lại có vài nếp nhà của người H’mông trơ trọi trong mây.

Không một ai giải thích cặn kẽ được vì sao người H’mông thích làm nhà trên độ cao và bàn chân của họ bẩm sinh có cấu trúc nano để bám vào vách núi hay không mà chưa hề bị trượt ngã. Chỉ biết khi nhìn lên một ngọn núi thấy một nóc nhà hay một bản nhỏ thì nóc nhà trên cao nhất chính là nhà của người H’mông. Từ đó, muốn đi lấy nước dưới dòng Nho Quế người ta phải theo con đường kẻ chỉ chữ chi có chỗ mất nửa ngày đường.

Bản Mã Pì Lèng trên đỉnh mù mây may mắn hơn bởi một nguồn nước từ kẽ đá đủ duy trì sự sống cho gần hai chục gia đình. Căn nhà trình tường có bờ rào đá của ông trưởng bản thấp lè tè, đầy bồ hóng và tối hù. Thào Mí Cáy, cán bộ của xã Pải Lủng chui vào bếp đốt lửa lên giữa ban ngày để thấy rõ mặt người. Lần đầu tiên nhà trưởng bản có khách ngủ lại nên ông đâm ra bối rối. Ông đưa chúng tôi trèo lên giàn bếp xem kho thịt treo của ông. Thào Mí Cáy nháy mắt nói số thịt đó ăn đủ một năm và chỉ có ở bản Mã Pì Lèng này người ta mới treo thịt giàn bếp quanh năm mà không sợ hư bởi không khí lạnh.

Sương xuống rất nhanh trong buổi chiều bên những bát rượu ngô đầy ngà ngật. Xong cuộc rượu Thào Mí Cáy rủ chúng tôi lên trường tiểu học Pải Lủng cách bản 6km để uống rượu ngô tiếp và tập múa khèn. Còn lâu chúng tôi mới tập được điệu múa duyên dáng như con công tỏ tình của đàn ông người H’mông với hai bàn chân nhịp đôi lại nhảy lò cò vỗ vào nhau mà không bị ngã. Nửa đêm, trong cái lạnh buốt xương ở độ cao gần 2.000m so với mực nước biển, chúng tôi thức giấc khi nghe hơi lửa ấm và tiếng nồi chõ lịch kịch cùng mùi mèn mén ngô thơm lừng cho cả ngày hôm sau…

Du lịch, GO! - Theo SGTT, ảnh internet
Rời khỏi phố cổ Đồng Văn, thung lũng Sà Phìn hiện ra dưới rừng sa mu cổ thụ. Những mái nhà của dinh vua Mèo hoang lạnh trong sương chiều. Xuôi dốc Chín Khoanh về tới Yên Minh, màu xanh của rừng thông đã bắt đầu thay dần màu đá tai mèo xám xịt.

Con đường thảo quả

Tam Sơn duyên dáng bên cạnh hai quả núi đôi gần sát huyện lỵ Quản Bạ. Chưa đến mùa nhưng chợ Tam Sơn đã thơm lừng mùi thảo quả trong những hàng khô. Hẳn nhiên, con đường thảo quả Tam Sơn – Tùng Vài – Lũng Vài – Cao Mã Pờ chưa đến mùa nhộn nhịp nhưng những cô gái người Dao vẫn gùi thảo quả khô để dành ra chợ phiên Tùng Vài bày bán. Con đường thảo quả từ Tam Sơn vào Lũng Vài gập ghềnh bên vách núi.
Cao Xuân Nghì, chủ tịch xã Lũng Vài nhiệt tình nói: “Tôi phải đưa các anh vào rừng thảo quả. Nếu không lạc qua đất Trung Quốc là cái chắc!” Bản Thăng, trung tâm của thảo quả Lũng Vài khá bằng phẳng không khác gì những ngôi làng ở đồng bằng. Con đường đất hẹp dẫn vào khe Nước Lớn bỗng bất ngờ dựng đứng.
.
Rừng nhiệt đới tầng dưới ẩm nhiều cây dương xỉ và rêu phong. Mất bốn tiếng đồng hồ trèo núi, cánh rừng bỗng dậy lên mùi thảo quả. Bạt ngàn thảo quả dưới tán rừng già đang mùa nảy mầm, ra hoa đỏ chói. Không một chút nắng xuyên qua nhưng giữa rừng hoa như thắp lửa sáng. Thỉnh thoảng chúng tôi bắt gặp một lán trại của những người làm thảo quả đang đóng kín cửa. Cao Xuân Nghì khoe: “Thảo quả bản Thăng đứng đầu cả vùng. Hơn 500 hecta.

Mùa thu hoạch thảo quả tháng 8 mà các anh vào rừng thì vui lắm. Cả bản sống ở trong rừng hàng tháng trời để hái rồi đốt lửa sấy khô. Đêm đêm rừng thảo quả dậy tiếng hú gọi nhau í ới!” Từ bản Thăng, con đường thảo quả Quản Bạ xuyên qua Cao Mã Pờ ra chợ phiên Tùng Vài ngày thứ năm và con đường chính của thảo quả đi qua Trung Quốc, nơi người dân ở đó có nhu cầu dùng thảo quả trị bệnh hoặc làm gia vị trong thức ăn hàng ngày. Thảo quả thuộc họ gừng, được nhắc đến từ lâu trong các bài thuốc. Sách Bản thảo chính nghĩa ghi: “Thảo quả vị cay, tính ôn táo. Thiên về trừ hàn thấp mà ôn táo trung cung cho nên thảo quả là vị thuốc chủ yếu để trừ hàn thấp ở tỳ vị.

Ở vùng rừng núi, khí độc sương mù đều là loại âm thấp tà, dễ làm tổn thương chính khí, muốn trừ khí độc phải dùng loại ôn táo…” Chúng tôi ăn trưa ở bản Thăng khi rời rừng thảo quả. Ông Sơn, một người trồng thảo quả nổi tiếng, trên đường về vừa đi vừa bứt rau rừng và bẻ măng thảo quả. Món chân giò nướng thảo quả và măng thảo quả xào thịt treo sẽ còn theo mãi trong ký ức của tôi với mùi vị nồng nàn thơm thảo của những người Nùng, người Dao sát vùng biên giới xa xôi. Bản Thăng – chúng tôi ước mơ sẽ trở lại đây trong mùa thảo quả để nghe mùi thơm dậy lên và những tiếng cười giòn tan lấp ló dưới tán rừng xanh mướt.

Người Pà Thẻn bí ẩn

Chia tay Quản Bạ ở Cổng Trời. Địa điểm nổi tiếng này không mang lại ấn tượng gì bởi chúng tôi đã đi theo con đường từ trên cao xuống thấp. Ở bên dưới Cổng Trời có một điều thú vị đang háo hức vẫy gọi: tộc người Pà Thẻn bí ẩn ở huyện Quang Bình của Hà Giang. Pà Thẻn còn có tên khác là Pà Hưng, Mèo Lài, Bát Tiên tộc… dân số chỉ khoảng 7.000 người. Năm 2008, cô gái Phù Thị Thiên đã làm ngạc nhiên người Hà Nội bằng lễ hội nhảy lửa giữa thủ đô. Khi chúng tôi tới bản My Bắc, thật không may Phù Thị Thiên không có ở nhà. My Bắc là nơi sống tập trung của người Pà Thẻn với nhà đất có bờ rào cây sạch sẽ ngăn nắp.

Từ bốn giờ chiều, thầy cúng Sìn Cao Phong đã cho thanh niên trai tráng chất một đống củi to, cao gấp đôi đầu người trước sân trường tiểu học. Rất đông trẻ con, người già tụ tập tới đây hứa hẹn một đêm nhảy lửa hết mình. Ngoài 60 nhưng thầy cúng Sìn Cao Phong trông vạm vỡ trai tráng. Ông học nghề cúng từ người bố suốt chín năm và trải qua ba giai đoạn thử thách nghiêm ngặt cam go còn hơn cả các sư chùa Thiếu Lâm luyện tập.

Những người Pà Thẻn biết nghề cúng nay đếm không quá trên đầu ngón tay. Khi mặt trời vừa xuống núi, thầy Phong ngồi vào bàn làm lễ cầu thần linh xin nhảy lửa với lễ vật đạm bạc một nén hương, một con gà và mười chén rượu. Lễ cúng diễn ra khá lâu, ngọn lửa được châm lên trước khi ông ngồi vào cây đàn sắt hình chiếc ghế với hai thanh gõ nhạc cụ cũng bằng sắt. Âm thanh lời chú kỳ bí quyện với tiếng gõ kim loại huyền hoặc lúc bổng lúc trầm.

Đám thanh niên, thiếu niên tham gia nhảy lửa bắt đầu ngồi bệt xuống đất quanh thầy cúng, mắt nhắm nghiền. Ban đầu họ ngồi xa, sau dịch sát lại gần, vây quanh thầy cúng. Đống lửa to sắp biến thành một bãi than hồng. Bỗng nhiên, một thiếu niên trong bọn mắt lờ đờ, nhảy cẫng lên kỳ quái như những con cóc, chồm tới giật lấy một thanh sắt trên tay thầy cúng ngồi đối diện trên chiếc ghế và gõ. Chiếc ghế rung bần bật theo nhịp điệu dồn dã. Có tiếng reo: “Nhập rồi! Nhập rồi! Thần đã về…

” Tích tắc sau, thiếu niên nhảy giật cục khỏi ghế, lao mình vào đám than hồng trong tiếng vỗ tay và tàn lửa tung toé. Sau màn dạo đầu, những chàng trai tham gia nhảy lửa lần lượt đờ đẫn giật lấy thanh sắt gõ gióng giả rồi lao vào than hồng. Thầy cúng vẫn điềm nhiên ê a. Đám nhảy lửa đông dần, đông dần. Những chàng say lửa nhào lộn trong đống than đỏ chói, bốc từng vốc lửa đỏ tắm lên đầu, chà vào mắt… Họ nhảy qua nhảy lại, tắm tưới trong lửa hồng như tắm nước lã bình thường và cuối cùng thoát ra ngã vật xuống đất sùi bọt mép bất tỉnh nhân sự!

Buổi chiều, thầy cúng Sìn Cao Phong nói ai cũng nhảy lửa được nếu thần nhập. Chỉ cần mắt tập trung nhìn ngọn lửa, tai tập trung nghe lời chú chừng hơn một tiếng đồng hồ. Khi thấy đống lửa màu hồng chỉ còn lại một đốm xanh lét bằng quả trứng, cảm giác “thèm lửa” sẽ xuất hiện. Một lực đẩy vô hình lôi cuốn người đã nhập nhảy vào mà không bị thương tích. Nhảy lửa chỉ toàn đàn ông, thiếu niên dễ nhập hơn người lớn, người yếu bóng vía cũng mau nhập hơn. Ngày xưa, người Pà Thẻn tổ chức nhảy lửa để cầu may, mừng mùa vụ mới. Dân tộc nhỏ bé này còn nhiều lễ hội thần bí thú vị khác mà chưa ai giải thích được.

Du lịch, GO! - Theo SGTT, ảnh

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống