Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Sunday, 10 July 2011

Pù Luông là một địa danh còn nhiều bí ẩn, hoang sơ đối với du khách trong và ngoài nước. Khu Bảo tồn đặc sắc nhờ vẻ đẹp tự nhiên, và nét văn hóa truyền thống của những cộng đồng dân cư sống cận kề. Ngày nay nhờ những chương trình phát triển, Pù-Luông đang như một nàng tiên được đánh thức, trở thành điểm thu hút khách du lịch.
Đó là cảm nhận của chúng tôi khi đến với những bản làng xinh đẹp vùng cao, ẩn mình bên những khu rừng thuộc Khu bảo tồn nhiên nhiên Pù Luông trong chuyến khai trương mô hình du lịch sinh thái...

Phượt tới Pù Luông nhé – chỉ một lời mời ngắn gọn, chúng tôi những kẻ mê phượt lại lên đường. Điểm đầu tiên trên cung đường Hà Nội – Pù Luông là Mai Châu, một điểm du lịch sinh thái công đồng nổi tiếng của tỉnh Hòa bình. Tuy nhiên, nó chỉ xứng đáng để các bạn trẻ làm điểm nghỉ đêm trên hành trình chinh phục miền Tây Thanh Hóa.

Từ lúc kêu gọi đên lúc thành lập đoàn và phuợt – nhiều người trong chúng tôi chưa  hề biết mặt, biết tên của nhau. Chỉ biết đến “nick name” và những lời phản hồi qua mạng xã hội ảo, vì vậy, đêm đầu tiên cũng chính là thời gian để chúng tôi làm quen và tìm hiểu về nhau nhiều hơn.
Người là sinh viên, người là công chức. Không phân biệt độ tuổi, giới tính, thành phần xã hội. Họ lập thành 1 đoàn và cùng nhau khám phá những miền đất xa xôi của tổ quốc – nơi mà ít người từng đặt chân tới. Đi như dân phượt chúng tôi thế này đang là một xu hướng mới nhiều người ưa thích.

Và để cho một chuyến đi an toàn và không kém phần thú vị, tất cả thành viên trong đoàn đều phải chuẩn bị kỹ càng. Ba lô của mỗi người giờ biến thành chiếc túi càn khôn, chứa đựng nhiều bảo bối cần cho mỗi lúc khó khăn.

Ngày thứ 2 xuất phát từ Mai Châu tỉnh Hòa Bình vượt qua quốc lộ 15C đến huyện Bá Thước thuộc tỉnh Thanh Hóa, đây là chặng đường chính trong suốt hành trình lần này.

Quãng đường dài chừng 60km nhưng chúng tôi đã không thể lường hết sự khó khăn của con đường và cái nắng gay gắt miền Trung.
Hết khó khăn này đến khó khăn khác nhưng tất cả đã bị chúng tôi chinh phục. Có lẽ, những cảm giác mới mẻ và hồi hộp ấy càng làm tăng thêm sự đam mê của chúng tôi trong ước vọng khám phá  những cung đường mới.
Cuối cùng, sau những giây phút căng thẳng đánh vật với con đường, chúng tôi đã đến được với Pù Luông, một địa danh nổi tiếng với những bản làng thành bình yên ả, những bông lúa chín vàng trên ruộng bậc thang.
Kho Mường, Cao hoong, Bản Nủa, Bản Hươu…là những cái tên mà chúng tôi sẽ không bao giờ quên trong chuyến đi phượt lần này.
Được thả hồn vào những cảnh đẹp của thiên nhiên, cùng ở, cùng ăn với người dân địa phương, tìm hiểu được nhiều tập quán nơi vùng đất xa xôi này khiến nhiều người trong đoàn chúng tôi có những cảm xúc thật khó tả.
Chinh phục những ngọn núi cao, những chặng đường dài đã cho dạy chúng tôi một bản lĩnh vững vàng, không ngại khó khăn và nhiều trải nghiệm mà cuộc sống hàng ngày nơi thành thị không thể có được. Qua những chuyến đi như thế này, mọi toan tính đời thường, sự căng thẳng và mệt mỏi của cuộc sống thường nhật đã dần tan biến. Chỉ còn lại cảm giác được sống hết mình, vượt lên bản thân, tính đoàn kết và sẻ chia thương yêu giữa con người với con người.

Ngày mai, chúng tôi trở về với thành phố, những khoảng thời gian ngắn ngủ bên bếp lửa hồng của dân tộc Thái, chén rượu cay nồng của người Mường, và biết bao người dân đôn hậu nơi đây sẽ còn lưu lại mãi trong ký ức của mỗi người chúng tôi.

Chắc chắn, chúng tôi sẽ còn tiếp tục rong ruổi trên những cung đường mới, bởi phuợt đã dạy cho chúng tôi một điều quý báu đó là: cuộc sống này đáng yêu biết nhường nào, hãy đi, hãy đến và cùng trân trọng cuộc sống này.

Du lịch, GO! - Theo Phạm Duy, BansacVietnam
Ngoài cảnh sắc thiên nhiên sông nước, những con sông bao giờ cũng gắn liền với lịch sử phát triển kinh tế và mang nặng dấu ấn bản sắc văn hoá của vùng đất nó chảy qua. Ở xứ Quảng, sông Thu Bồn còn như dòng sữa ngọt ngào từ bao đời nuôi dưỡng cư dân đôi bờ. Thế nên từ lâu, mỗi lần có bạn ở xa về Đà Nẵng chơi, tôi thường đưa bạn chơi thuyền dọc sông Thu.

Thuyền chúng tôi xuất bến tại Vĩnh Điện từ sáng sớm, ngược lên từ ngã ba Giao Thuỷ đã thấy biêng biếc nương dâu bên con sông Thu. Chợt ai đó trong nhóm thốt lên hai câu của Bùi Giáng: Hỏi tên rằng biển dâu ngàn / Hỏi quê rằng xứ mơ màng đã quên.

Chính nơi biền dâu xanh ngắt này với một nền văn nghệ dân gian bên sông nước đã tạo một dấu ấn sâu nặng trong cách sử dụng thủ pháp nghệ thuật tu từ, cách luyến láy, thay đổi cấu trúc từ, lối ẩn dụ lắt léo đến cái đùa cợt nửa quên nửa nhớ đều phảng phất hơi thở của những điệu lý, điệu hò nước ngược nước xuôi, hò đò ngang đò dọc, nhất là hát hái dâu, hát kéo sợi thông minh, tinh nghịch, lạc quan nhưng cũng đậm nghĩa si tình.
.
Chắc ai cũng còn nhớ mối tình lãng mạn, say đắm giữa cô gái hái dâu và chúa Nguyễn Phước Lan với câu hò da diết:

Tai nghe Chúa ngự thuyền rồng
Thiếp thương phận thiếp má hồng nắng mưa
Thuyền rồng Chúa ngự nơi đâu
Thiếp thương phận thiếp hái dâu một mình...

Dòng sông này cũng đã hình thành từ rất sớm những làng nghề cổ xưa trồng dâu nuôi tằm dệt vải. Về nghề dệt vải truyền thống, sách Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn từng ghi "Người Phủ Thăng, Phủ Điện dệt được các the đoạn, lụa là hoa xoè, tinh xảo chắng kém gì Quảng Đông".

Những ruộng vườn cây trái, biền dâu, nong tầm dệt vải, cá tôm thuỷ cầm cùng những làng nghề truyền thống nức tiếng cả nước như gốm Thanh Hà, đúc đồng Phước Kiều, mộc Kim Bồng, làng rau Trà Quế, lụa Mã Châu, làng bánh tráng Phú Chiêm, nón Quế Minh... cùng những sản vật đặc trưng như bắp Hội An nổi tiếng ngon ngọt, dưa hấu Gò Nổi ngọt mát căng nước, thịt bò Cầu Mống và biết bao khoáng sản như than Nông Sơn, những mỏ vàng sa khoáng ở Hiệp Đức, mỏ vàng Bồng Miêu.

Dọc theo sông Thu vô số những bến đò, chợ quê bên sông, những Phú Thuận, bến Dừng, Đại Bường, Trung Phước với sinh hoạt còn đậm đặc màu sắc dân dã xứ Quảng. Những làng mạc chợ quê bình dị, hồn hậu đến không ngờ, ta sẽ gặp lại như những kỷ niệm tưởng chỉ còn trong ký ức. Vẫn còn đó những người mẹ, người chị với quả mướp, quả bầu, con gà trống tía nôn nao gồng gánh về kịp buổi chợ. Vẫn bóng mẹ nơi quán nước chè đợi đò bên sông, mấy nụ cười trong trẻo “như mùa thu toả nắng” của mấy cô hàng xén, tất cả lấp lánh trong lành dưới nắng mai.

Chợ Trung Phước trên bến dưới thuyền, buôn bán sầm uất nhất trong vùng. Ngôi chợ có từ rất sớm, cái thuở Quảng Nam còn mang tên Phủ Điện Bàn, còn giữ lại trong mình hình ảnh đông vui của chợ quê vùng trung du rộn rã tiếng gà. Ăn một tô mì Quảng đơn sơ nơi lều quán tập toàng, hương vị rơm rạ chân quê thấm vào tận chân răng cứ bổi hổi bồi hồi. Sống, ai cũng chẳng bước ra từ quá khứ, con người trong ý thức tìm lại mình cũng cần tìm lại nơi mình soi bóng, đi chợ quê bên dòng sông Thu là cách về lại nơi xưa cũ.

Từng có người ví sông Thu của xứ Quảng như sông Hằng của Ấn Độ, nó không chỉ là người mẹ phù sa góp phần làm nên châu thổ mà còn là hình ảnh của lịch sử từ xửa xưa cho đến ngày nay, mang trong mình một nền văn hoá bản địa được tiếp truyền qua nhiều thời kỳ. Mà lạ thay, ngay bờ bắc và bờ nam sông Thu dù đã có sự giao thoa, cộng hưởng nhưng đã có sự khác biệt về văn hoá, biểu hiện qua giọng nói, sinh hoạt và lễ hội, chưa kể những di chỉ còn lưu dấu bên sông. Ở bờ nam, nền văn hoá Chăm còn in đậm trong sinh hoạt và phong tục lễ hội của cư dân.

Lễ hội bà Thu Bồn hàng năm vào ngày 12 tháng Hai (âm lịch) được tổ chức ở làng Mỹ Lược rất trọng thể, mà quan trọng nhất là lễ rước nước. Người ta múc nước từ dưới sông Thu đổ vào chum rồi đội trên đầu rước về làng trong niềm tôn kính và ngưỡng mộ dòng sông. Ở Hiệp Đức, phía thượng nguồn, phía sau Am Bà người dân dựng một ngôi nhà dài, dựng bàn thờ ở đầu nóc rồi treo chiếc thuyền đua lên. Mỗi năm tham dự hội đua thuyền, trước và sau khi thi dân làng đều làm lễ tế. Những nghi lễ quanh chiếc thuyền đều nhằm tôn vinh người mẹ giang hà trong đời sống tâm linh của cư dân.

Cả những tên gọi bến Sé, Tí Lở, Tí Bồi... đầy âm hưởng của nền văn hoá phồn thực. Lý giải điều này, có nhà nghiên cứu đã cho rằng, phía bắc sông Thu Bồn đến nam đèo Hải Vân đã thuộc Việt Nam từ năm 1306, còn bờ nam sông Thu Bồn chỉ thuộc Việt từ năm 1402, nhưng chỉ trong vòng 5 năm rồi nhập trở lại với Chămpa, mãi đến 1471 mới thuộc hẳn về Việt Nam. Chưa kể khi chia địa giới thời vua Lê Thánh Tông, bắc Quảng Nam vẫn thuộc về Thuận Hoá cho dù cách trở đèo Hải Vân, một đường đèo vô cùng hiểm trở. Khó có một dòng sông nào mang trong mình dấu tích của lịch sử bởi sự giao thoa tiếp biến văn hoá đôi bờ nhưng trong sâu thẳm vẫn có sự khác biệt với những đặc trưng riêng như Thu Bồn.

Những lần xuôi ngược sông Thu, tôi luôn nghĩ đến một tour du lịch sông nước, sinh thái, làng quê rất ấn tượng và hấp dẫn cho du khách khi về Quảng Nam - Đà Nẵng. Nhưng lần mới đây vào mùa khô năm ngoái, tôi thật sự lo ngại cho dòng sông. Nhiều đoạn sông, thuyền mắc cạn không đi được. Chúng tôi phải nhiều lần cùng người lái đò vượt cạn.

Ghé vào chơi làng Đại Bường, một làng cây trái chẳng khác miệt vườn Nam bộ với đặc sản chôm chôm, sầu riêng, măng cụt... Anh Hai Đới, chủ vườn từng đãi chúng tôi món rượu sầu riêng uống trong đêm khuya với hương vị khó quên, rầu rĩ thở dài: "Lũ lên cao quá, cao chưa từng thấy, cây trái hư hại hết".

Và những thông tin về mấy đợt lũ liên tiếp mấy năm gần đây: Lũ cuốn trôi cả một thôn ở Đại Lộc; lũ lùa về cơ man nào là cây bị đốn tấp vào bờ thành một bãi gỗ khổng lồ... Dòng sông mỗi năm mỗi khó tính và trở chứng, trở nên hung hãn, cuồng nộ trong mùa lũ rồi nhanh chóng khô cạn kiệt sức trong mùa khô. Bên bờ bắc, nhiều đoạn bị lở nặng nề khoét sâu vào đất liền, nhiều làng mạc có nguy cơ bị biến mất.

Buổi chiều đứng trên Hòn Kẽm - Đá Dừng, nơi dòng sông hẹp lại bởi vách đá đôi bờ, con nước đổ dài trong âm vang của rừng già ồ ạt tuôn xuống, nhà văn Thái Bá Lợi đứng trầm ngâm nhìn sông đăm đắm mà tiếc nuối: Trên một dòng sông mà mấy chục cái thuỷ điện, hàng ngàn hecta rừng không ngừng bị tàn phá nặng nề, có chiều hướng ngày mỗi tăng; cát thì bị khai thác vô tội vạ, bảo sao… Với cái lối ứng xử vô đạo với thiên nhiên, con người thực sự đã gieo nhân nào gặp quả ấy, kiểu này đừng có trách “trời gần trời xa” gì cả…

Vâng, sẽ rất tiếc nếu dòng sông Thu - người mẹ giang hà ôm ấp cả một vùng đất thiêng liêng đã viết nên những huyền thoại sử thi của đất Quảng, một dòng suối văn hoá truyền thống đậm đà màu sắc làng quê miền Trung, một tuyến du lịch sông nước thú vị, nếu không kịp thời ngăn chận những tàn phá do con người dù vô tình hay cố ý, sợ mai này chẳng còn giữ được hình bóng đẹp đẽ trong tâm thức của những ai từng yêu quý nước non.

Du lịch, GO! - Theo SGT, ảnh internet

Saturday, 9 July 2011


Cô Lin là một hòn đảo nhỏ thuộc quần đảo Trường  Sa của Việt Nam, tuy là đảo nhỏ so với so với các đảo khác nhưng nằm ở vị trí chiến lược, đảo Cô Lin được coi như "mắt thần” của biển.

Nằm ở vị trí quan trọng, nhiều năm trước, ra Cô Lin người ta thấy thiếu thốn cam go đủ bề. Nhưng với sự quan tâm và đầu tư cũng như vượt lên khó khăn của người lính, để khẳng định chủ quyền biển, vị thế dân tộc Việt Nam trên biển, nay Cô Lin hiện ra bề thế, vững chãi trước biển. Là nơi bà con đi biển gửi gắm niềm tin, tìm đến neo đậu tránh trú bão, lấy thêm nước ngọt và lương thực cho mình.

Hoài niệm Cô Lin

Trên chuyến tàu ra đảo, thăm các chiến sỹ và tận mắt chứng kiến cuộc sống ngày một đổi thay của các đảo nằm trong quần đảo Trường Sa, Nhà báo Nguyễn Trọng Thiết, đang công tác ở Báo Hải Quân, người luôn được mệnh danh là "sói biển” của giới báo chí đã dành cho tôi nhiều ưu ái. Vì là "người của biển”, lại thêm cái nghề làm báo, tính đến nay anh là nhà báo duy nhất đã ra công tác nhiều nhất trên hầu hết các đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Từ thời gian khó nhất cho đến những ngày vinh quang nhất, đầy đủ nhất như ngày nay qua lời kể của anh.
.

< 13 giờ ngày 15-5-1988, tại tọa độ 112 độ 52 phút kinh đông - 8 độ 46 phút vĩ bắc, 2 tàu chiến TQ (Trong đó có một tàu mang số hiệu 677) xâm phạm và ngăn cản các tàu của Việt Nam đang hoạt động bình thường.

Hiểu biết của tôi về các đảo hình thành và tỏ tường dần qua những tối hai anh em ngồi cạn đêm trên boong tàu. Ấy là những tấm gương, sự hy sinh cao cả của những người lính, thế hệ đàn anh đã không tiếc máu xương ra với các đảo từ ngày các đảo này còn bộn bề khó khăn và thiếu thốn. Với lính hải quân, những ngày ấy, ra với đảo ai cũng biết khó khăn, có thể một đi không trở về vì bão gió, vì những sự bất ổn trên biển. Nhưng lạ thế, không một ai từ chối cả. Cứ có lệnh, ai nấy vui vẻ lên đường. Vì họ biết, sự ra đi của họ là góp sức cho sự vững chắc của chủ quyền trên biển. Và đồng nghĩa như vậy là sự bình yên của đất liền, tôn vinh thêm sức mạnh và tinh thần Việt.

Trong các câu chuyện anh kể về đảo, ấn tượng nhất với tôi là cuộc "hải chiến năm 1988” đã xảy ra tại đây. Biết Cô Lin có vị trí quan trọng, dù vẫn biết đảo này là của dân Việt, đất Việt nhưng "người ta” vẫn cố tình định đoạt nó. Vì ngày ấy cơ sở vật chất của đảo Cô Lin chưa được đầu tư, đảo chưa kiên cố và nổi hẳn lên mặt nước như bây giờ. Vào lúc triều cường, anh em trên đảo vẫn phải lội biển ngang bụng mà giữ đảo. Lợi dụng lúc ta khó khăn lại cậy sự "lớn mạnh” của mình, "người ta” đã ngang nhiên đưa tầu ra khiêu chiến. Với văn hóa Việt, những người lính chúng ta ngày ấy đã bình tĩnh giải thích và tôn trọng họ, ngay cả những lúc họ ngang ngược nhất.

Thế rồi không dừng ở đấy, những "tàu lạ” kia đã lấn tới. Đảo và chủ quyền đảo của đất Việt lâm nguy. Nhận được chỉ đạo từ trên, không nề hà, những người lính của chúng ta đã có hành vi cao cả là "cho tàu ủi bãi”. Chính nhờ sự mưu trí và dũng cảm này, bên cạnh đau thương và mất mát, chúng ta đã làm chủ và giữ được đảo. Giữ bình yên và nguyên vẹn "con mắt thần” này cho đến ngày hôm nay.

Cũng theo anh Thiết, ngày những người lính hải quân của ta cho "tàu ủi bãi” - một cách bảo vệ đảo hết sức táo bạo và không ngờ tới này cũng như các năm tiếp theo - Cô Lin còn khó khắn lắm. Đảo chưa được xây cất hiện đại, mọi thứ đều không chủ động được. Rau thiếu, lương thực thiếu đến nước ngọt cũng thiếu. Vậy nên ca khúc "mưa, chúng tôi cần mưa” luôn là nỗi khát khao của các chiến sỹ và các đoàn công tác ra Cô Lin thời gian ấy.

Xanh thắm "mắt thần”

Những ngày gian khó, những đau thương thầm lặng ngày nào ở Cô Lin đã nhanh chóng lùi vào quá khứ. Ngày nay nhiều người chỉ còn hình dung và biết được qua những lời kể. Cách đảo Sinh Tồn 9 hải lý, đảo Len Đao 7 hải lý và cách đảo Gạc Ma 4 hải lý, đảo Cô Lin là một đảo nằm trên một quần thể san hô khá rộng. Lướt trên những rặng san hô, chúng tôi nhẹ nhàng tiếp cận đảo, nước biển trong vắt, nhìn thấy cả những đàn cá tung tăng bơi lội.

< Đảo Cô Lin - tháng 5/1988.

Đảo trưởng, Thượng úy Hoàng Thanh Sơn cùng anh em trên đảo chỉnh tề quân phục đứng đón những đoàn khách từ đất liền ra thăm. Trên khuôn mặt dạn dầy gió biển và mặn mòi vị muối của các anh, chúng tôi "đã đọc” được những niềm vui và sự an tâm của các anh về một cuộc sống ngày một hiện đại hóa ở đây. Sóng điện thoại, điện thắp sáng bằng các nguồn năng lượng sạch cùng sóng ti vi đã ngày một đưa các anh "về gần” với đất liền hơn.

Từ một đảo chìm, bằng sự gia cố và đầu tư, hiện nay Cô Lin đã "ngoi lên” mặt nước và trở thành một trong những đảo kiên cố. Đảo có thể chịu sóng gió tới bất kỳ cấp độ nào và sẵn sàng có thể ứng chiến về quân sự ở mức độ quyết liệt nhất. Cũng như các đảo khác, nước và rau xanh luôn là chủ đề muôn thuở và là thách đố của biển cả với con người mỗi khi họ có ý định ra đây sinh sống với nó. Nhưng nay, bằng việc đầu tư hệ thống bể chứa và trữ nước mưa và nước do các tầu vận tải chở ra nên Cô Lin đã hoàn toàn chủ động về nguồn nước. Nếu biển cả "trở mình”, không có nguồn cung ứng nước cơ học và có thể không có mưa trong thời gian dài thì hệ thống bể chứa ở đây vẫn có thể đáp ứng nước sinh hoạt cho anh em.


< Và Cô Lin ngày nay (2011).

Cái quan trọng, bằng sự tự thân vận động, sự cần cù chịu khó nên ngoài thời gian phải làm nghĩa vụ trong ngày của một người lính, anh em trên đảo Cô Lin đã dành quỹ thời gian của mình để cải tạo, đem lại mầu xanh cho đảo. Ngoài cây cảnh, thì mướt mát và thích thú nhất ở đây vẫn là mầu xanh của những vườn rau do những người lính tự trồng và chăm sóc nấy. Tôi quả quyết, nếu nhìn thấy những loại rau mà các chiến sỹ đã trồng bằng các loại đất được các tầu dày công chở ra từ đất liền trên các khay nhựa đặc chủng, bất kỳ một phụ nữ nào cũng phải thấy "chạnh lòng” trước sự khéo léo của lính đảo Cô Lin. Và ai trong họ cũng ước ao mình có những đôi bàn tay khéo léo như vậy.

Từ một đảo luôn luôn ngóng trông và phụ thuộc vào các loại thực phẩm được chở ra từ đất liền thì nay các chiến sỹ trên đảo Cô Lin đã chủ động được rất nhiều thứ. Nhìn bảng khẩu phần ăn trong ngày, trong tuần, trong tháng chúng tôi rất yên tâm về sức khỏe của lính nơi đây. Đại diện anh em, Đảo trưởng Hoàng Thanh Sơn vui vẻ cho biết: "Bằng sự tự tăng gia sản xuất của mình, tổng năm 2010 và hết quý 1 năm 2011, anh em ở đảo đã "làm thêm” được 865kg rau xanh, đánh bắt được 402kg cá các loại, chăn nuôi được 60kg thịt các loại...

Tổng số tiền làm ra này đã đem lại nguồn thu trên 21 triệu đồng để chi ăn thường xuyên và mua sắm vật chất cho anh em”. Có ra Cô Lin, trước khó khăn về thời tiết, bốn phía là biển chúng ta mới thấy nguồn thu này nó quý hiếm đến mức nào. Và con số này đã khẳng định thêm sự chắt chiu, cần cù, bám biển, bám sóng đến quên mình của anh em lính trên đảo.

Từ một đảo vốn dĩ phụ thuộc vào đất liền, nay với sự nắm tay chiu chắt, chiến đấu, lao động không mệt mỏi mà Cô Lin đã trở thành điểm tìm đến neo đậu của nhiều ngư dân Việt Nam. Ngoài việc tạo thu, tạo chi, nay Cô Lin đã có điều kiện quay lại giúp đỡ ngư dân, đền đáp cho đất liền phần nào.

Tổng kết trong thời gian qua, Đảo đã cung ứng cho ngư dân đến 2.000m3 nước ngọt. Bên cạnh nước ngọt, Đảo cũng là nơi tìm đến của của hơn 200 lượt tầu thuyền và là chỗ neo đậu cho nhiều bà con ngư dân ra đây khai thác thủy hải sản bằng các loại tầu thuyền như: tầu câu, tầu xiên lặn và tầu đánh lưới.

Ngoài vị trí "mắt thần”, ngoài nơi tìm đến neo đậu tránh trú bão của bà con, đảo Cô Lin còn đang được mệnh danh là Trạm y tế tiền phương trên biển. Với sự chủ động, ngoài việc khám chữa bệnh cho cán bộ, chiến sỹ, Đảo còn tạo điều kiện chữa trị bệnh cho 13 lượt bà con ngư dân, nhập đón và đưa bà con rời đảo đúng quy định, an toàn.

Cô Lin một thời ngày xưa để nhớ và Cô Lin xứng tầm là con "mắt thần” trước biển như ngày nay. Ấy là những ghi nhận, những nỗi nhớ mà chúng tôi có được trong hành trình đến và chia tay cùng các chiến sỹ ở đảo này!

Du lịch, GO! - Theo báo Đại đoàn kết, QĐND

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống