Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Sunday, 10 July 2011

Đến Đắk Nông để tham quan, nghỉ dưỡng sau những ngày bộn bề công việc mà bạn chưa đi thăm điểm du lịch thác Đắk G’Lun thì quả là đáng tiếc.
Nằm trên địa phận xã Đắk R’Til, huyện Tuy Đức, cách trung tâm thị xã Gia Nghĩa 60km, thác Đắk G’Lun tuyệt đẹp tung mình ở độ cao hơn 50m rồi được tẽ thành hai dòng nước treo lơ lững trên vách đá trông rất quyến rũ.

Đến với Đắk G’Lun là đến với cảnh non nước hữu tình, không khí mát mẻ, trong lành, cộng với tiếng chim muông ca hát bạn sẽ có được cảm giác thư giãn, êm đềm. Bên trên dòng thác là những khối đá lớn và bằng phẳng tựa những tấm thảm trải rộng để hai dòng chảy ngày đêm chuyển động không mệt mỏi.

Phía dưới chân thác là những mô đá lớn nhỏ nhấp nhô với muôn vàng dáng vẻ, tựa những vũ khúc điệu đàng. Khi mặt trời lên, những bụi nước lóng lánh làm thành những chiếc cầu vồng lúc ẩn lúc hiện.

Thác Đắk G’Lun nằm trong cánh rừng đặc dụng với nhiều loại gỗ quý hiếm. Bao bọc xung quanh thác là các loại cây có tán rộng và những bụi le rừng mát mẻ. Quanh khu vực này hơi nước luôn toả ra trông giống như mưa phùn ở Đà Lạt. Nơi đây còn có những bãi đất rộng và bằng phẳng để du khách cắm trại nghỉ qua đêm, hay để thưởng ngoạn mặt trời lên…

Từ nhiều năm nay, dù nằm ở nơi khuất vắng, nhưng với vẻ đẹp hoang sơ và thơ mộng của mình, thác Đắk G’Lun đã cuốn hút biết bao du khách trong vùng đến tham quan.
Nơi đây nếu được đầu tư và xây dựng chắc chắn sẽ không chỉ thu hút du khách trong tỉnh mà sẽ còn thu hút nhiều du khách ở các tỉnh lân cận như Đắk Lắk, Bình Phước, Bình Dương, Tp.Hồ Chí Minh.

Du lịch, GO! Theo Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Đắk Nông

Giữa trưa, chúng tôi đặt chân tới đầu nguồn thác Đak G’lun nằm trong địa phận huyện biên giới Tuy Đức trên độ cao 728 mét so với mặt biển và cách ngã ba Kiến Đức 35 km hướng Tây Bắc nếu đi trên tỉnh lộ 681. Theo lối mòn xuống thác chúng tôi xuyên qua nhiều địa hình: vạt rừng Bằng Lăng với thân cây thẳng ngọn, những vách đá dựng đứng rễ cây cổ thụ bám đầy tựa những con trăn trườn mình bò ngổn ngang, thỉnh thoảng phải men theo con đường khuyết sâu vào lòng núi giống hang chân sóng nối liền hai động đá rộng lớn theo dạng hàm ếch trông rất ngoạn mục.

Bất ngờ xuất hiện dưới tán lá rừng luồng nước khổng lồ tung mình trên độ cao hơn 50 mét đổ xuống ầm ì rung chuyển cả một góc rừng và phía chân thác ẩn hiện trong bụi nước bắn ra là sắc cầu vồng lung linh, huyền ảo. Cảnh vật thác Đak G’lun đẹp hoang dã như chuyện cổ tích , xứng danh “ Người đẹp giữa Đại ngàn” mà người M’Nông đã đặt tên.

Đêm ở Bon J’riêng – Gia Nghĩa thơm mùi nếp mới và thịt nướng từ ngôi nhà làng, còn ở phía trước sân, đống lửa bắt đầu cháy bùng lên sau khi già làng hoàn tất phần nghi thức mở hội trong tiếng cồng tiếng chiêng rộn rã, trầm hùng. Những bài nhạc cồng chiêng đón khách chúc sức khỏe, mừng lúa mới, mừng chiến thắng lần lượt được diễn tấu làm nền cho vòng xoang gồm 40 con người mấy thế hệ trong trang phục M’Nông đã làm sống lại đêm hội cồng chiêng thuở nào. 

Theo HTA
Cách thành phố Đà Nẵng 7km về phía Đông Nam, Ngũ Hành Sơn sừng sững qua bao năm tháng luôn là một điểm đến hấp dẫn với mọi khách du lịch. Trong năm ngọn Kim Sơn, Mộc Sơn, Thuỷ Sơn, Hoả Sơn và Thổ Sơn thì Thuỷ Sơn là ngọn núi… ba nhất (đẹp nhất, cao nhất và hấp dẫn nhất).
Chinh phục được Thuỷ Sơn luôn là mong muốn của nhiều du khách khi đến tham quan một trong những thắng cảnh đẹp nhất của dải đất miền Trung.

Chốn bồng lai tiên cảnh.

Có nhiều truyền thuyết về sự ra đời của Ngũ Hành Sơn, nhưng phổ biến nhất là câu chuyện “ông già giữ trứng”. Truyện kể về một ông già sống đơn độc trong một túp lều tranh, được thần Kim Quy giao nhiệm vụ bảo vệ quả trứng rồng, giọt máu của Long Quân. Đến khi quả trứng nở, 5 mảnh vỏ trứng vỡ biến thành 5 ngọn núi và Ngũ Hành Sơn xuất hiện.
.
Rộng chừng 15ha, Thuỷ Sơn là ngọn cao nhất trong Ngũ Hành Sơn (106 m). Hầu hết các chùa chiền và hang động của Ngũ Hành Sơn đều tập trung ở Thủy Sơn. Đỉnh núi có 3 ngọn nằm ở 3 tầng. Ngọn cao nhất ở phía tây bắc gọi là Thượng Thai có Vọng Giang Đài, tháp Phổ Đồng, chùa Từ Tâm, chùa Tam Tâm, chùa Tam Thai, Hành Cung, động Hoả Nghiêm, động Huyền Không, động Linh Nham và động Lăng Hư. Ngọn phía nam thấp hơn gọi là Trung Thai có hai cổng động Thiên Phước Địa, Văn Căn Nguyệt và các động Vân Thông, Thiên Long, hang Vân Nguyệt. Ngọn phía đông thấp nhất gọi là Hạ Thai có Vọng Hải Đài, chùa Linh Ứng, động Ngũ Cốc, động Tàng Chân, phía dưới núi là Giếng Tiên và động Âm Phủ.

Theo những bậc thang bằng đá dài dằng dặc lên núi, chùa Tam Thai hiện ra. Theo sử liệu, chùa được xây dựng cách đây ít nhất 300 năm. Năm 1825, vua Minh Mạng, trong chuyến tuần du Ngũ Hành Sơn, đã cho xây lại chùa Tam Thai và đến năm 1827 đã cho đúc chín tượng và ba chuông lớn.

Phía phải chùa Tam Thai là Vọng Giang Đài. Đứng từ đây có thể nhìn bao quát cả một vùng rộng lớn, có núi có sông, nhà cửa san sát, gió thổi lồng lộng. Nhiều du khách đến đây, ngắm nhìn dòng Trường Giang uốn mình dưới chân mà có cảm giác như mình lạc vào chốn bồng lai tiên cảnh.

Vòng ra sau lưng chùa Tam Thai, theo một con đường đất, bạn sẽ đến động Huyền Không. Trong động có đường dẫn sâu xuống lòng đất. Xuống đến hang, một không gian rộng hiện ra với ánh sáng mờ ảo được rọi xuống từ lỗ hổng trên miệng hang. Cái lạnh trong lòng động như tăng thêm bởi những giọt nước chốc chốc lại rơi xuống, thấm vào đất, ướt cả một khoảng rộng. Trên vách động có nhiều hình ảnh thiên tạo đẹp mắt. Anh Lộc (hướng dẫn viên công ty du lịch Những Người Bạn) kể: “Trước đây, vách động có hình một con hạc lớn, nhưng theo thời gian, hình ảnh con hạc đã bị nước trong động bào mòn. Hiện nay chỉ còn nhìn thấy một phần”. Không gian lành lạnh, mờ mờ ảo ảo tạo cảm giác huyền diệu, linh thiêng.

Gian nan “đường lên trời”

Rời động Huyền Không, đi về phía đông, cụm hang động Trung Thai hiện ra. Cụm này có động Thiên Phước Địa, hang Vân Nguyệt và động Vân Thông. Động Vân Thông nằm gọn trong lòng núi, hình tròn như đường ống chếch lên phía ngọn núi. Trong động có một tấm bia cổ, khắc 3 chữ “Ngũ Uẩn Sơn”, giữa động có một tượng Phật rất lớn. Sau lưng tượng là đường đi lên động. Vì người ta có thể theo đường này bò lên đỉnh núi nên mới có tên gọi là “đường lên trời”.

Để có thể “lên tận mây” không dễ nếu không muốn nói là gian nan. Nhiều du khách trong và ngoài nước đã thử, nhưng được một đoạn là quay trở ra ngao ngán lắc đầu. Đường đi trong động không chỉ tối mà còn ngày càng hẹp lại. Hơi lạnh, nước rỏ xuống tạo cảm giác “thấu xương”. Nhưng đây lại là thách thức đối với những bạn trẻ, những người muốn chứng minh khả năng vượt thử thách của mình.

Theo chân những người trẻ trong đoàn du lịch, tôi cũng quyết tâm "bò lên trời”. Hang càng lúc càng tối, càng hẹp, phải khom người xuống để đi. Hang ẩm nên khá trơn, hướng dẫn viên chốc chốc lại nhắc chúng tôi cẩn thận bám vào những mẩu đá hai bên. Gần 5 phút đi khom là đến giai đoạn “bò”. Hang dốc, những mẩu đá là điểm tựa để bám thì rất nhỏ, chỉ gần nửa bàn chân.

Không gian tối đen, tiếng người phía trước rên rỉ: “Phải chi hồi nãy mua đèn pin”, “Làm sao một hồi leo xuống, sợ quá”… Có những đoạn dốc cao, người sau phải nhờ đến sự “tiếp cứu” của người đi phía trước. Người trước lên được một tảng đá sẽ giữ máy chụp hình, sổ tay để người phía dưới bám đá vượt lên dốc. Đoạn đường “leo, bò, và cả nhảy” này khá xa, nhiều người bắt đầu nản và lầm bầm: “Chắc không tới quá, leo xuống đi”, “Làm sao xuống được, lỡ rồi lên luôn”... Vậy là hành trình lại tiếp tục trong bóng tối vì người đòi bỏ cuộc cũng không cách nào xuống được khi phía dưới cứ đẩy lên.

Thế nhưng, chỉ một đoạn ngắn sau, ánh sáng từ “cổng trời” đã chiếu rọi vào động như những ánh hào quang, ai cũng vui mừng, động viên, hối thúc nhau đi tiếp.

“Tới đỉnh rồi!”

Lên cửa hang, đỉnh núi hiện ra rực rỡ trong cái nắng pha chút hơi lạnh của khí trời Đà Nẵng. Những âm thanh vui sướng vang lên: “Quá đã, quá đã, lên đây rồi mới thấy không uổng công… bò”. Những bức ảnh được chụp vội, những cái nhìn như vội vã mở rộng hơn để bao quát hết sông biển, ruộng đồng. Nhiều khách du lịch sung sướng giơ hết cả chân tay lên la lớn: “Ta đã tới trời rồi, ta muốn ôm cả đất trời…”. Riêng tôi chỉ yên lặng, lấy quyển sổ mang theo ghi vội những cảm xúc đang dâng lên. Có ai đó chợt tiếc nuối: “Tội cho những người già, mình trẻ đỡ quá, lên tới đây thấy sướng hết sức”.

Đứng trên đỉnh động chỉ gần 5 phút mà ai cũng có cảm giác như lâu lắm, những cảm xúc sửng sốt, sung sướng, hạnh phúc làm cho không gian hình như ngưng đọng. Nhưng rồi cũng đến lúc hướng dẫn viên nhắc nhở mọi người: “Xuống thôi, sắp tới giờ đoàn đi rồi”. Mọi người đành luyến tiếc rời "trời".

Đường xuống nằm ở bên ngoài động. Con đường mòn bằng đất có nhiều đá tảng to và dây leo chằng chịt đẹp mắt. Khi xuống, theo đà dốc, thân người chúi về trước nên rất dễ ngã. Nhiều khách du lịch đã bị “tuột dốc”, nhưng nhờ bám vào những dây leo xung quanh nên thoát nạn. Đường đi xuống nhanh hơn nên chỉ một chốc đã đến chân động.

Tiếp tục hành trình tham quan Hạ Thai, chúng tôi đến Vọng Hải Đài. Thuỷ Sơn thật lạ, một phía có thể nhìn thấy sông từ Vọng Giang Đài, một phía lại nhìn thấy biển từ Vọng Hải Đài. Cả hai đài đều có kích thước giống nhau, kiểu dáng như nhau. Chỉ khác là từ một điểm bạn có thể ngắm dòng sông uốn lượn, nhà cửa san sát, còn từ bên kia có thể phóng tầm mắt khắp vùng trời biển bao la nhộn nhịp ghe thuyền.

Phía dưới Vọng Hải Đài là chùa Linh Ứng - ngôi chùa có giá trị lịch sử cao, được xem là quốc tự và di tích Phật Giáo. Khách đến đây có thể chiêm ngưỡng ngôi tháp xá lợi uy nghi, đẹp mắt. Tục truyền trong tháp có cất giữ những viên xá lợi quý giá. Chỉ những ai có duyên với Phật, có “căn tu” mới nhìn thấy được vầng hào quang phát ra từ xá lợi, người thường không thể thấy.

Đường lên Thủy Sơn gian khổ bao nhiêu thì rời nơi này lòng ai cũng thấy ngẩn ngơ, tiếc nuối bấy nhiêu. Bởi với một tour du lịch ngắn, bạn sẽ chẳng bao giờ có đủ thời gian để có thể đi hết Thuỷ Sơn và bốn ngọn núi còn lại. Có người cho rằng để tham quan trọn vẹn Ngũ Hành Sơn phải mất cả tháng mới đi hết từng hang động, từng ngôi chùa, từng giếng nước linh thiêng... Và có như vậy mới thấy hết cái đẹp, cái lung linh huyền bí của danh thắng Non Nước. Tuy nhiên, vượt qua đoạn hang Vân Thông, lên “tới trời” cũng là một chiến tích đáng nhớ với những ai một lần ghé thăm Ngũ Hành Sơn.

Du lịch, GO! Theo Minh Khuê, ảnh internet
Cũng như nhiều miền quê Việt Nam, phố cổ Hội An có nhiều món “quà quê” dân dã, ăn xong vẫn chưa hết thèm. Dường như không ở đâu lại nhiều món ngon, đặc sản như ở Hội An, và người lữ khách có thể dễ dàng tìm thấy tại hầu hết các hàng rong khu phố cổ mà không cần phải đến một nhà hàng sang trọng nào.

1.Cao Lầu 

Nguồn gốc của món cao lầu đến nay vẫn là đề tài đàm luận của nhiều người. Có người cho rằng cao lầu có xuất xứ từ xứ sở hoa anh đào (Nhật Bản), có nét giống món mì ở vùng Icé (Ice udon). Có người lại cho rằng cao lầu có xuất xứ từ Trung Quốc, nhưng những người Hoa kiều ở Hội An không công nhận đây là món ăn truyền thống của họ. Dù có nguồn gốc từ đâu thì cao lầu vẫn là món ăn riêng có của Hội An và ngày càng được nhiều thực khách trong, ngoài nước biết đến.

Sợi cao lầu được cán từ bột gạo ngâm với nước tro, hấp qua 3 lần lửa, nên cứng và có màu vàng tự nhiên. Nhân cao lầu chủ yếu là thịt xá xíu, trộn với ít tép mỡ làm bằng sợi mì chiên dòn ăn với sợi cao lầu, rau sống, xì dầu, tương ớt.

Cách chế biến cao lầu mới nghe qua trông rất đơn giản nhưng ẩn chứa nhiều bí quyết nghề nghiệp khó mà khám phá. Có người bảo rằng, ngày xưa người ta phi ra tận đảo Cù Lao Chàm lấy củi đốt thành tro đem về ngâm với nước giếng Bá Lễ ở Hội An thì mới chế biến được sợi cao lầu ngon như ý.

2. Mỳ Quảng 

Mỳ Quảng, từ lâu đã được biết đến như cái “hồn” nghệ thuật ẩm thực của vùng đất Quảng Nam. Bây giờ, ngoài Quảng Nam ra, nhiều nơi cũng có quán ăn mì Quảng. Mì Quảng theo chân những người Quảng Nam tha hương và cùng họ có mặt khắp nơi như người bạn đồng hành tri kỷ. Mì Quảng thường có mặt trong những bữa tiệc “vọng cố hương” của người Quảng Nam xa xứ.

Cũng như phở, bún hay hủ tiếu, mì Quảng cũng được chế biến từ gạo nhưng có sắc thái và hương vị riêng đặc biệt. Mì được làm từ lá bánh tráng thái thành sợi, nhân mì thường được chế biến từ nhiều loại nguyên liệu khác nhau: tôm, gà, thịt heo, thịt bò, cá lóc, cua… và có cả mì chay dành cho người hành đạo. Nhưng là nhân gì đi nữa thì mì Quảng cũng không thể thiếu cái bánh tráng nướng, trái ớt xanh, lát chanh, vài hạt đậu phộng và đĩa rau sống đi kèm.

Rau để ăn mì Quảng thường là rau muống chẻ nhỏ hoặc cây cải con trộn với búp chuối non thái mỏng, rau thơm, rau quế…Đến Quảng Nam, du khách dễ dàng bắt gặp nhiều quán ăn mì Quảng nằm dọc trên tuyến đường quốc lộ 1A luôn đông đúc khách sành ăn: quán mì gà Bình Nguyên (huyện Thăng Bình), quán mì gà Kỳ Lý (thị xã Tam Kỳ), quán mì tôm cua Cây Trâm (huyện Núi Thành), quán mì bò Cẩm Hà (thị xã Hội An)…

3. Bánh su sê 

Bánh su sê hay còn gọi là bánh phu thê. Tên gọi này gắn liền với câu chuyện kể về vợ chồng người lái buôn thuở xưa. Chuyện kể rằng, trước lúc người chồng lên đường đi buôn ở phương xa, người vợ làm bánh tặng chồng và thề rằng cho dù xa nhau nhưng lòng nàng vẫn luôn ngọt ngào, đậm đà như bánh. Chồng cảm động đặt tên cho bánh là phu thê (tức bánh vợ chồng). Chẳng ngờ đến phương xa, người chồng bị say đắm bởi sắc đẹp của các cô gái lạ và không muốn quay về. Người vợ ở nhà biết tin liền làm bánh gởi cho chồng kèm theo lời nhắn:
“Từ ngày chàng bước xuống ghe
Sóng bao nhiêu đợt bánh phu thê rầu bấy nhiêu”

Nhận được bánh và lời nhắn của vợ, người chồng hối hận liền tức tốc quay về và không còn nghĩ đến chuyện thay lòng đổi dạ nữa. Từ đó bánh phu thê thường hay có mặt trong các tiệc cưới nhằm nhắn nhủ lời thuỷ chung đến các đôi vợ chồng trẻ.
Bánh su sê có màu vàng nhạt, dẻo, vị ngọt và thơm. Bánh cũng được bao bọc bởi một lớp lá chuối giống như bánh ít lá gai. Là một trong những loại đặc sản được bày bán nhiều nơi ở Hội An.

4. Bánh bao bánh vạt 

Do có hình dáng nhỏ nhỏ, xinh xinh và có màu trắng trông như những đoá hoa hồng nên bánh bao bánh vạc còn có tên gọi là White Rose (hoa hồng trắng). Đây là món ăn khá phổ biến trong thực đơn của các nhà hàng, quán ăn ở Hội An. Bánh báo bánh vạc là hai loại có tên gọi khác nhau nhưng thường có mặt trong cùng một đĩa bánh và cùng có chung một loại nước chấm rất đặc biệt: không quá mặn, không quá nhạt và có thơm hương, vị ngọt của thịt tôm..

Nguyên liệu chính để chế biến bánh bao bánh vạc là gạo nhưng được thực hiện qua nhiều công đoạn rất công phu. Gạo xay xong phải “bòng” với nước nhiều lần (khoảng từ 15 đến 20 lần) để chọn cho được loại bột bánh ngon. Nhân bánh bao chủ yếu chế biến từ tôm tươi xay nhuyễn trộn với muối, tiêu, hành và một vài loại gia vị khác. Nhân bánh vạc thì có thêm một số nguyên liệu như: nấm mèo, giá hột, lá hành, thịt heo … đã được thái mỏng và xào chín.

Cả hai loại nhân đều được bao bọc bởi một lớp bột bánh mỏng và hấp chín qua lửa. Hiện nay, tại Hội An chỉ còn có một gia đình trên đường Hai BàTrưng sản xuất loại bánh này để cung cấp cho các nhà hàng, quán ăn phục vụ thực khách.

5. Hoành thánh 

Về xa xưa, có thể nói, Hoành thánh là món ăn ảnh hưởng từ Trung Hoa. Có nhiều tên gọi để chỉ món ăn nầy. Ở Hội An, miền Trung người ta gọi là ” hoành thánh “, trong khi đó ở miền Bắc và một số địa phương khác gọi là ” mằn thắn ” hoặc ” vằn thắn “. Muốn làm bánh hoành thánh ngon người ta phải chọn loại bột mỳ thượng hạng thì bánh mới dẻo, mềm. Trộn bột mỳ, nước, trứng gà theo một tỷ lệ vừa phải, sau đó nhồi nhiều lần cho thật nhuyễn.

Dùng một vật tròn, nặng, cán bột trên một chiếc bàn dài, phẳng. Bột cán càng mỏng thì bánh hoành thánh càng dẻo, mềm. Khi độ mỏng đạt yêu cầu dùng kéo cắt thành từng miếng nhỏ kích thước chừng 01 tấc vuông. Những miếng da bánh nầy khi được xếp gọn trong thau trông như một chồng giấy mỏng, màu phớt vàng. Đây chính là phần để làm vỏ bánh. Nhân bánh làm bằng tôm. Tôm lột vỏ, rửa sạch, thêm gia vị hành, tiêu, tỏi, mắm với tỉ lệ thịch hợp cho vào cối quết.

Khi làm bánh, người ta đặt phần vỏ bánh lên lòng bàn tay, múc nhân tôm đổ vào giữa, gói lại và bắt đều các mí cho thật khít. Kỷ thuật bắt mí đòi hỏi phải có kinh nghiệm, nếu không, khi hấp hoặc chiên phần nhân sẽ bị bung vỡ hoặc bánh sẽ không được mềm. Những chiếc bánh sống đã làm xong, nhưng còn ăn món hoành thánh thì lại có cách chế biến riêng.

Nếu muốn ăn hoành thánh nước thì bánh được lót lá chuối, cho lên xửng, đặt vào nồi hấp sơ qua cho chín lớp vỏ. Nước nhưn của hoành thánh làm bằng xương heo, chặt nhỏ, nấu rục, cho thêm vào nồi một ít nấm rơm, su, thơm (dứa), nấu chín, nêm gia vị và hạ lửa. Hoành thánh chiên: cũng với da bánh và nhân ở giữa, người ta gấp 4 mí lại thành một chiếc bánh vuông vức và cho vào chảo dầu để chiên. Khi bánh chín vàng, giòn thì gắp ra vỉ, để ráo dầu.

Chuẩn bị ít cà chua, khoai tây làm nước xốt. Xếp bánh ra đĩa, bên dưới rải một lớp rau xà lách, cà chua xét mỏng, rau thơm. Khi chan nước sốt lên mặt bánh xong là ta có được đĩa hoành thánh với những chiếc bánh vàng ươm, vuông vức, ở giữa là viên nhân tôm tròn trỉnh, thơm phức trông rất ngon miệng. Hoành thánh mỳ: tuơng tự như hoành thánh nước. Phần gia thêm ở đây là mỳ. Mỳ dùng cho hoành thánh là sợi mỳ nhỏ. Khi trụng vào với nước sôi cho chín đều, đổ ra bát. Xếp hoành thánh đã chín lên trên. Chan nước nhưn và thêm gia vị, sa tế, rau thơm…

6. Bánh ít lá gai 

Cũng giống như nhiều miền quê trên mọi miền đất nước, bánh ít lá gai từ lâu đã đi vào trong đời sống ẩm thực của người dân đất Quảng, là lễ vật đầy ý nghĩa trong những ngày Tết cổ truyền, dịp cúng tổ tiên, ma chay, cưới hỏi…

Cách chế biến bánh không quá cầu kỳ nhưng đòi hỏi sự kỹ lưỡng ở từng công đoạn chọn nguyên liệu: gạo nếp, đậu xanh, mật đường, lá cây gai, lá chuối. Bánh ít lá gai Quảng Nam có hình dáng mộc mạc, chân chất như những sản vật miền thôn dã nhưng vẫn hàm chứa cái hương vị rất riêng của vùng đất giàu lòng mến khách. Bánh ít lá gai được bày bán nhiều nhất ở Hội An, ngay trên những khu phố, chợ và trong các nhà hàng, quán ăn.

7. Bánh Xèo

Ở Hội an vào mùa mưa là “mùa thịnh” của bánh xèo. Nguyên liệu chính để làm bánh xèo ngoài gạo, đòi hỏi phải có tôm, thịt chỉ là phần phụ, hơn nữa làm bánh xèo phải ngồi bên bếp lửa liên tục rất nóng nực, vì vậy mùa mưa là mùa thích hợp nhất cho việc làm loại bánh nầy. Gạo tốt cho vào ngâm rồi xay thành nước bột gạo. Nước bột gạo cũng được pha chế sao có độ lỏng vừa phải để tạo nên cái giòn, cái dẻo của bánh.

Nếu đặc quá, bánh sẻ khô, sống. Nếu lỏng quá bánh sẽ mềm, nát, sít với chảo. Khi chuẩn bị bột và các nguyên liệu phụ như giá, thịt, dầu phụng xong, người ta bắt tay vào đổ bánh xèo. Những chiếc chảo con thân trệt được bày lên bếp như những chiếc cồng chiên trông lạ mắt. Khi chảo nóng, người ta dùng một nhúm thân hành nhúng dầu phụng thấm đều quanh chảo và đặt vào lòng chảo một vài con tôm và thịt ba chỉ xắt nhỏ. Thịt và tôm đã được ướp mắm, muối, gia vị và chấy sơ qua cho vừa chín. Dầu chín toả mùi thơm thì dùng vá múc nước bột gạo đổ vào chảo. Bột gặp dầu nóng phát ra tiếng kêu “xèo, xèo” nghe rất vui tai. Có lẽ vì những âm thanh nầy mà người ta đặt tên bánh là bánh xèo chăng?

Sau khi đã cho bột vào chảo, người chủ cho lên trên một ít giá đậu xanh rồi đậy vung lại cho bánh chín. Lúc bánh chín giòn được gắp ra sắp lên đỉa để mời khách. Nhìn những đỉa bánh vàng giòn, thơm ngát, thực khách đã muốn thưởng thức ngay. Nước chấm của bánh xèo cũng được chế biến khá kỷ lưỡng. Người ta dùng nước tương trộn với gan heo, mè, đậu phụng xay nhuyễn, sau đó dùng dầu tô chín và pha thêm ít bột gạo, gia vị để làm thành một loại nước chấm lạ miệng. Bánh phải ăn nóng mới ngon, đúng điệu, tức làm đến đâu ăn đến đấy và khi ăn không dùng đủa, muỗng mà chỉ dùng tay. Cách thưởng thức bánh xèo ngoài việc dùng khứu giác, vị giác ra, bắt buộc người ăn phải dùng đến xúc giác, thính giác mới thấy hết phần hấp dẫn.

8. Bánh Lăn

Hằng năm, vào những dịp Tết âm lịch hay những ngày giỗ, bà con Hội an và các vùng lân cận như Điện Bàn, Đà nẳng đổ về Hội an để mua được Bánh Lăn về cúng ông bà, tổ tiên và làm quà cho những người thân trong gia đình, dọng họ.

Để làm được những cái bánh thơm ngon, đòi hỏi phải có 1 – 2 người thợ bánh phải chịu nhọc nhằn qua nhiều cung đoạn khác nhau. Trong một thời gian nhất định, bột nếp phải đem rang, gừng bỏ củ vào cối giã cho nát. Sau khi bột nếp rang xong và gừng đã giã nát, người thợ làm bánh bắt đầu trộn lần lượt gừng, đậu phụng, mè lên bột nếp và đổ nước đường đã thắng vào. Người thợ vừa dùng cây khuấy đều, vừa nhồi bánh để nước đường thấm vào bột. Nhồi đến khi nào bột dẻo. Người thợ tiếp tục khâu quan trọng: lăn bánh là khâu tạo nên những cái bánh nho nhỏ xinh xinh.

Đó là cái bánh mịn màng với màu trắng trong, với mùi thơm của gừng hoà quyện trong hương thơm nồng của bánh làm cho bạn vừa đưa lên ngửi thì lưởi đã hỏi thăm.

9. Xí Mà (Chí Mà Phù) 

Tại phố cổ Hội an, bên cạnh những món ăn mang tính truyền thống địa phương còn có khá nhiều món ăn “ngoại nhập” từ những thế kỷ trước. Ngoài các món: Tàu Xá, Lường Phảnh, Xí Mà (Chí Mà Phù) là một trong những món ăn độc đáo, tiêu biểu, được đông đảo cư dân địa phương và du khách gần xa ưa thích. Nhiều người cho rằng, món ăn nầy có nguồn gốc từ Trung Hoa. Xí mà là tên gọi theo tiếng Quảng Đông ( Trung Quốc ).

Đúng ra phải đọc là “Chí Mà” nhưng từ lâu người ta đã đọc thành Xí Mà, mãi cho đến nay nhiều người vẫn quen gọi như thế. Nguyên liêu làm Xí Mà chính là mè đen, ngoài ra còn có các loại: bột khoai, thanh địa, rau má, rau mơ, đường, những thứ nầy toàn là những nguyên liệu sẳn có của địa phương, duy chi có thanh địa là một vị thuốc của đông y phải mua ở tiệm thuốc. Xí Mà được nấu trong nồi kim loại bình thường, khi chín người ta vẫn để nguyên trong nồi và gánh đi bán.

Xí Mà chín có dạng hơi đặc như chè tàu xá, chè đậu xanh, nhưng lại có màu đen ít mùi, khi ăn thì mới nghe thoang thoảng mùi thơm của mè đen và mùi của rau mơ, rau má. Xí Mà là một món ngọt độc đáo, hấp dẫn khác xa những món ngọt thông thường về chất lẫn hương vị, nó không chỉ là món ăn ngon mà còn là một ” thang thuốc bổ” bởi các nguyên liệu để nấu Xí Mà như là các vị thuốc để hợp thành ” thang thuốc bổ” ấy.

10. Bánh Ướt (Bánh Đập)

Bạn đã một lần nếm thử bánh ướt Cẩm Nam chắm mắm nêm bên bờ sông Hoài dưới bóng tre râm mát ?
Một đĩa bánh ướt mỏng tang, một vài kẹp bánh tráng nướng cũng giòn tan và một chén mắm nêm kèm chút tương ớt. Bạn đã có thể thưởng thức hương vị dân dã Hội an rồi đó !

Bánh ướt được tráng từ bột gạo. Chọn loại gạo ngon, sàng sảy sạch sẽ tạp chất, vo gạo sạch rồi ngâm từ 3 – 4 giờ sau đó đem xay bột mịn. Tỷ lệ gạo và nước thường được ước lượng do kinh nghiệm của người làm bánh để có bánh ngon dẻo không bị rách, nhão. Để tráng bánh ướt người ta dùng lò tráng – lò thường được đắp đất sét để giữ nhiệt. Quan trọng nhất là kỷ thuật căng vải trên miệng nồi. Vải không được căng lắm cũng như trũng lắm. Khi nước đã sôi già, múc một vá nước bột trải đều theo hình xoáy tròn trên mặt vải. Đậy nắp kín sau một phút thì bánh chín. Dùng một đủa tre được chút mỏng từ từ lật mí rồi vớt bánh ra. Người ta thường xoa dầu ăn giữa hai lớp bánh và dùng lề bằng lá chuối để kẹp bánh.

Bánh ướt có thể phơi một nắng rồi đem nướng than. Khi ăn thường kẹp một bánh tráng nướng mỏng và một bánh ướt – có lẻ vì thế mà người ta còn gọi là Bánh Đập.

11. Bánh Bèo 

Trong các món ăn chế biến từ gạo, sau mỳ Quảng, bánh bèo là món ăn chiếm được sự ưa chuộng của đông đảo cư dân Hội An, nhất là cư dân các vùng nông thôn. Để làm bánh bèo, người ta chọn loại gạo ngon cho vào ngâm nước để gạo mềm rồi xay thành nước bột mịn. Bánh ngon hay dở phụ thuộc phần lớn vào khâu xay nầy. Nước bột không được quá đặc, vì đặc bánh sẽ cứng, nếu lỏng quá bánh sẻ nhão, không đứng tròng ( chén bánh không trũng ở giữa). Nước bột này khi lấy tròng xong được cho vào chén rồi sắp lên vỉ tre đặt vào nồi để hấp.

Bánh chín được vớt ra để chồng úp lên nhau cho nguội. Chén bánh khi chín trắng tinh, mềm mướt, giữa lại có một xoáy tròn thật là ngộ nghĩnh. Chén để làm bánh bèo là một loại chén bằng đất nung tráng men, nhỏ hơn chén ăn thông thường, mà tròn trịa dể thương. Nhưn ( nhân ) bánh bèo chủ yếu được làm từ những sản vật địa phương, đó là tôm thịt…

Tôm bỏ đầu băm nhỏ, thịt xắt nhỏ hạt lựu, trộn vào với tôm, ướp với gia vị, pha thêm chút bột điều cho tăng phần hấp dẫn rồi đưa lên bếp xào chín, hoà thêm ít nước bột gạo đổ vào, sao cho nhưn chín có dạng sền sệt màu đỏ hồng, vị ngọt béo lẫn vị cay the và thơm là đạt yêu cầu. Nhưn nấu chín được đựng trong một chiếc nồi con, trên mặt rải một lớp tiêu lấm chấm đen và vài cộng hành xanh xanh cắt nhỏ. Khách vào quán, người chủ sắp nhiều chén bánh lên khay, múc nhưn đổ vào, thêm dầu mở, tương ớt, hành thơm rồi bày lên bàn.

Tuỳ theo khẩu vị của người ăn, có thể thêm tí nước mắm hay tí ớt vào. Nhìn chén bánh bèo trắng phau, nhưn giữa màu đỏ hồng điểm tôm thịt như nhuỵ một đoá hoa đang khoe hương khoe sắc. Lại thêm mùi sực nức, đầy hấp dẫn khiến cho người ăn muốn ăn một lần hết mấy chục chén bánh bèo cho hả dạ Dụng cụ để ăn bánh bèo không phải đủa, cũng không phải muỗng mà là một thanh tre vót hình lưỡi dao, gọi là “dao tre”. Lối ăn thế nầy cũng gợi bao sự hiếu kỳ cho khách và cũng là lối ẩm thực khác biệt giữa bánh bèo và các loại bánh được chế biến bằng gạo.

12. Đậu Hủ 

Đậu hủ là một món ngọt dân dã phổ biến ở Hội An. Tuy là món ăn thông thường làm bằng đậu nành, nhưng để làm được nó là cả một quá trình chế tác không đơn giản và đỏi hỏi phải có kinh nghiệm “gia truyền” mới có thể làm được.

Để làm đậu hủ, người ta dùng đậu nành tróc sạch vỏ, ngâm nước, đem xay nát rồi cho vào một tấm vải, bòng ( lọc ) lấy tinh chất của đậu, sau đó cho vào nồi nấu pha thêm thạch cao cho sữa đậu dể đông. Thạch ở đây dưới dạng khối rắn như phèn sa, phèn chua.

Trước khi pha vào sữa đậu, người ta cho thạch vào nồi nung nóng, sau đó đem nghiền nát thành bột. Công đoạn nầy đỏi hỏi kinh nghiệm nhiều nhất vì nếu như pha nước, pha thạch không đúng tỉ lệ và không quen tay thì sửa đậu sẻ không đông mà bị vữa. Đậu hủ ngon đúng điệu cũng nhờ một phần nhỏ của nước đường. Để nước đường tăng phần đặc sắc người ta giã nhỏ một ít gừng cho vào, làm cho vị đường có vị cay ngọt, mặn nồng khó quên.

Hủ đựng đậu thường được làm bằng hủ sành giản dị, chung quanh quấn một lớp rơm rạ để giữ cho êm hủ đậu và giữ độ nóng cho đậu bên trong, bên ngoài có một giỏ tre bảo vệ và để tiện cho việc vận chuyển gánh đi. Hàng ngày trên các đường phố Hội An, các bà các cô kĩu cà kĩu kịt gánh đậu hủ trên vai rao bán khắp nơi. Những gánh đậu ấy, những tiếng rao ấy cũng góp phần tô điểm sắc thái cho phố cổ thân thương.

13. Bánh Đậu Xanh 

Bánh đậu xanh ở Hội An có lịch sử lâu đời. Từ thế kỷ thứ XVIII, bánh đậu xanh đã là một món quà có giá trị được cư dân địa phương dùng để dâng tặng các quan lại. Trong một lần Vua Minh Mạng tuần du vào Quảng Nam, cư dân ở đây đã dâng tiến loại bánh đậu xanh thượng hạng ở phố Hội An để ngài ngự dụng.
Tiếng thơm nầy không phải ngẩu nhiên mà có. Cũng là đậu xanh, nếp, đường, nhưng chiếc bánh ở phố cổ Hội An có hương vị và cách trình bày riêng. Những chiếc bánh đậu xanh ở đây có dáng hình tròn hoặc vuông. Cũng là bánh đậu xanh ướt nhưng nó không quá bở và mềm như bánh đậu xanh Hải dương. Nó có độ dẻo vừa phải để khi ngậm vào miệng không tan ngay. Một số loại bột thơm cũng được sử dụng khéo léo để tăng hương vị của bột đậu.

Lại có loại bánh đậu xanh khô. Người ta trộn bột đậu xanh, nếp, đường theo một tỉ lệ vừa phải, cho vào khuôn nhỏ bằng gỗ để làm nên những chiếc bánh đậu xanh xinh xắn. Sau đó đem sấy bánh trên lò than để chúng săn cứng, giòn, thơm. Đặt biệt là loại bánh đậu xanh khô có nhân thịt. Đây chính là sản phẩm độc đáo của phố Hội và thật đáng tiếc cho ai đến Hội An mà bỏ qua dịp để nếm thử những chiếc bánh in nầy. Chúng vừa ngọt, vừa béo, vừa thơm, vừa giòn. Một sự pha trộn kỳ lạ mà chỉ có nghệ nhân tài hoa về ẩm thực mới có thể nghĩ ra và chế biến được.

Tuy có nhân thịt nhưng do xử lý kỹ nên bánh có thể giữ được lâu từ nửa tháng đến một tháng mà không sợ bị ôi thiu. Ngày nay, những phong bánh in đã được bày bán nhiều nơi ở trong phố Hội An và rất được du khách ưa chuộng. Chúng đã góp phần tôn vinh truyền thống ẩm thực vốn có của cư dân nơi đây.

14. Bánh Ú Tro 

Hằng năm, vào ngày mồng năm tháng năm âm lịch, bà con Hội An và các vùng lân cận như: Điện bàn, Đà nẳng đổ về phố Hội An để mua bằng được vài trăm bánh ú tro về cúng ông bà tổ tiên và làm quà cho người thân, nhân dịp lể tết mông năm lại đến. Dân gian truyền rằng: vào thời chiến quốc tại nước Sở có một người tên là Khuất Nguyên vừa là một thầy thuốc vừa là một trung thần nhưng không đuợc vua trọng dụng.
Ông trầm mình tại sông Mạch La thuộc nước Sở vào ngày 5 tháng 5 âm lịch. Từ đó về sau, đến ngày ấy, nhân dân mua bánh ú tro để cúng ông, vì bánh ú tro có 4 góc nên thả xuống nước cá không ăn được.

Phong tục đó dần được người Việt tiếp thu và chuyển hoá thành tết mồng năm với tục hái lá thuốc và giết sâu bọ khá đặc trưng. Dường như người ta không còn nhớ mình cúng ai vào ngày nầy nhưng bánh ú tro, thịt vịt, hoa quả thì phải sắm đủ. Bánh muốn ngon phải gói bằng lá kè tại núi ngoài Huế. Nếp phải lựa kĩ không cho lộn gạo tẻ, đải sạch ngâm với nước tro mè (Cây mè đốt lấy tro, hoà vào nước, lọc qua hồ cát ) để qua đêm. Nước tro pha một ít phèn sa để bánh không bở.

Nhờ nước tro mè mà hạt nếp nhuyễn thành bột. Chỉ có một muổng cafe nếp mà những chiếc bánh được sắp xếp vuông vức. Do vậy ông bà ta thường dạy: ”học ăn, học nói, học gói, hoc mở ”. Ngoài ra để có những chiếc bánh không sống, qua kinh nghiệm cho biết, khi nước sôi thì thắp một cây hương, đến khi hương tàn thì chín bánh. Chiếc bánh vừa mềm, vừa dẻo lại vừa dòn sựt sựt, nhưng ăn nó phải có đường cát thì mới hợp gu.

15. Cơm gà phố Hội 

Đến Hội An, du khách đừng bỏ lỡ dịp thử qua món cơm gà với cách chế biến và hương vị độc đáo riêng của người dân phố Hội. Vào những đêm phố cổ, ngang qua dãy phố, dưới những vòm mái ngói rêu phong cổ kính, dưới những ánh đèn lồng lung linh, quý khách không thể làm ngơ trước những con gà tơ luộc chín bày lên trên đĩa, trước mùi thơm hấp dẫn bay ra từ trong hàng quán cơm gà. Muốn làm cho cơm ngon cũng phải biết chọn gà và phải có kinh nghiệm. Phải chọn loại gà tơ thịt mới mềm, mới thơm vì ” vịt già, gà tơ “.

Nếu không chọn được gà tơ thì phải xem ” tướng mạo ” mà chọn theo kinh nghiệm ” cựa dài thì rắn, cựa ngắn thì mềm “. Đến thao tát vặt lông cắt cổ cũng phải làm sao cho nhanh, cho sạch và đúng bài bản ” sớm chí tai, mai chí hầu “. Sau hồi trò chuyện, cơm đã làm xong. Nhìn đĩa cơm nóng đang bốc khói và toả mùi thơm nức, bên trên rải những miếng thịt gà tơ lụt chín, xé nhỏ, thực khách đã thấy thèm ăn. Ăn kèm với cơm là những lát hành tây trắng nõn, tương ớt đỏ tươi, muối tiêu lấm chấm và nước mạ trộn nhiều tim gan cật gà, vô cùng hấp dẫn.

Ăn món thịt gà tất nhiên không thể thiếu dĩa rau răm vì thiếu nó như thiếu đi một phần thú vị ” gà cồ ăn quẩn cối xay, rau răm muối ớt xé phay gà cồ “. Đêm đêm, những gánh cơm gà vẫn được bày bán trên một số ngã phố, góp phần làm phong phú chủng loại và tính độc đáo của món ăn Hội an.

16. Hến Cẩm Nam 

Hến Cẩm Nam từ lâu đã thành một món quen thuộc, có mặt hàng ngày trong các bửa ăn của những gia đình bình dân cũng như khá giả ở phố Hội an. Sau những giờ lao động vất vả, cả nhà ngồi quây quần bên rổ khoai lang, vị dai dai, ngọt ngọt của hến với vị cay cay của ớt, của hành làm không khí gia đình ấm cúng hẳn lên. Hến không những nấu với bầu, ăn với khoai lang mà hến kia cộng với rau muống thái nhỏ thì ta được một tô canh hến tuyệt vời trong những ngày hề oi bức. Trước cái rét của mùa đông ước gì có được một tô cháo hến gạo lức sền sệt thơm phức trên mặt rải một ít cọng hành và tiêu thì thật chẳng có món nào bằng.

Ngoài ra món hến trộn còn là đặc sản trong các quán ăn, nhà hàng. Trông đĩa hến trộn thật hấp dẫn từ con hến bé tí đến cộng rau, cộng hành xanh xanh và mít non trắng xắt mỏng. Cái vị dai dai, ngọt ngọt của hến gặp vị thơm, béo của những tép hành hương giòn tan, mùi đậu phụng rang thơm phức, cay của rau húng, ớt hoà cùng những sớ mít chín mềm ngọt đã làm món hến trộn Cẩm Nam trở nên độc đáo. Hến là loại thức ăn mát, tuy ngọt ngon nhưng dể bị lạnh bụng vì vậy phải kèm rau răm, mít non để đề phòng bụng dạ. Sự tính toán mới chu đáo làm sao.

Ngày nay, nghề hến góp phần trong công cuộc phát triển kinh tế gia đình tại địa phương. Có dịp đến với phố cổ Hội an, bạn không những được thăm chùa, miếu mộ mà còn được tận hưởng, thưởng tức những món ăn dân dã, trong đó có hến và bạn sẽ nhớ mãi, thoả mãn và hài lòng cho một chuyến đi đầy thú vị và hấp dẫn.

17. Tương Ớt Hội An. 

Bất cứ một món ngon nào cũng không thể thiếu phần gia vị, mà tương ớt là một trong những gia vị không thể thiếu được trong những món ăn ngon. Tương ớt Hội An tuy chỉ là một loại tương cay thông thường nhưng hương vị, chất lượng khó có nới nào bì kịp. Nguyên liệu để làm tương ớt chủ yếu là ớt mua từ các vùng nông thôn đưa lên bán. Quả ớt để làm tương yêu cầu phải chín đỏ, tươi. Cách làm tương cũng không kém phần phức tạp. Ớt tươi đem luộc rồi xay nhuyễn trộn với cà chua vừa đủ, khử dầu, cho vào chảo đun sôi. Lại cho thêm các thứ mè rang, tỏi… trộn đều cho thấm, tiếp tục xào cho ráo nước để thành tương ớt.

Khi tương ớt đã nguội được cho vào lọ. Trên mặt lọ tương đổ một lớp dầu khử chín để giử được lâu và tránh mốc. Một lọ tương ớt đạt yêu cầu là phải có màu đỏ đẹp, có vị cay mà không gắt và mùi thơm dịu. Tương ớt Hội An không chỉ sản xuất để phục vụ cho các nhà hàng, khách sạn hay các quán ăn trong nội tỉnh mà còn được bán đi khắp nơi trên đất nước như TP Hồ chí Minh, Huế, Quảng Ngải..Tại Hội An trước đây có tiệm tương ớt Triều Phát rất nỗi tiếng. Hiện nay tương ớt được nhiều nhà sản xuất và bày bán, chất lượng tuy không bằng trước nhưng vẫn được nhiều người, nhiều địa phương ưa chuộng.

18. Bánh Đúc Đậu đỏ

Bánh đúc bằng gạo, xay giã còn mộc mạc thuần quê. Hình thức bên ngoài xấu xí “da dày như da bánh đúc” nhưng lòng lại đỏ au sắt son, thơm thảo. Chính vì thế mà muốn làm đúng loại bánh đúc, người ta phải chọn cho được thứ gạo mùa chính tông, càng lứt (lớp vỏ lụa đỏ vẫn còn) càng tốt. Gạo vo sạch, xay thành bột. Bột đã lấy trùng (độ cân bằng giữa nước và bột) đem hòa với tí nước vôi chín, đặt trên lửa giáo đều cho bột quánh đặc. Xong, người ta chia đều những phần bột đã được giáo ấy vào khuôn. Ngày trước, khuôn được chằm bằng lá chuối to gấp đôi chén bánh bèo và được gọi là ổ. Đem các ổ bánh hấp cách thủy cho chín. Nhìn mặt bánh, hễ da bánh sần sùi, màu bánh hồng tươi thì ngon.

Trước khi đem thưởng thức, người ta phết lên trên mặt ổ bánh một lớp dầu phụng đã khử nén, phi hành để vừa tạo thêm chất béo vừa làm chất kết dính nhân bánh. Nhân bánh là tôm xào khô, băm nhỏ đỏ hồng, đậu phụng rang vàng giã dập và một ít hành lá tươi xanh xắc nhỏ. Bánh đúc ở xứ Quảng được ăn với mắm cái giã ớt tỏi cay nồng, nặn thêm tí chanh tươi mới thấm thía ý vị.

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ Danangexplorer, BansacVN, ảnh internet

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống