Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Monday, 18 July 2011

Niềm tự hào Tốc Tan
.
“Đây là niềm tự hào nhất của tôi”, thượng tá Trần Quốc Thống chỉ vào tấm ảnh chụp căn nhà cấp 1 ở đảo Tốc Tan năm 1990.

Nhà cấp 1 ngày đó còn thô phác như một cái lô cốt hình trụ, màu bêtông xám như muốn lẫn vào trời biển, mấy ô cửa sổ nhỏ hẹp hình chữ nhật như mấy con mắt. Ngón tay của ông chỉ lên nóc nhà, trên đó có một hình khối được đặt trên cột ximăng, mặt quay chính diện ra trước máy ảnh còn đọc được dòng chữ mờ nhòa màu đỏ: “CHXHCN VN - đảo Tốc Tan - kinh độ: 08o48’N; vĩ độ: 113o59’E”.

Thuốc thử bản lĩnh

Ông Thống kể ngày ấy Tốc Tan là đảo thứ ba mà ông đến xây dựng. Những tấm bia chủ quyền nối tiếp dựng lên như một kế tục quyền làm chủ biên cương trên biển từ bao thế hệ cha ông truyền lại. Bia hình khối hộp tam giác ba mặt, chữ đắp nổi bằng ximăng. Một mặt là quốc kỳ, mặt thứ hai là quốc hiệu, tên đảo và tọa độ, mặt thứ ba là tên đơn vị thi công.
.
Nghe chúng tôi kể chuyện được đến Trường Sa, được chơi bóng chuyền ở sân đảo nổi, được hóng gió trên lầu cao ở đảo chìm, ông Thống cười tự hào: “Công trình của công binh chúng tôi đó!”.

Niềm tự hào thật là to lớn của một người chỉ huy. Còn người làm quân y kiêm hậu cần của Đoàn M31 như trung tá Lê Văn Học thì có niềm tự hào về những bí quyết bảo quản thuốc men, rau củ, ngón nghề ủ giá, làm đậu phụ, nuôi heo, nuôi gà, vịt dưới hầm tàu để đảm bảo được bữa ăn cho anh em những ngày chưa có lấy một mặt phẳng làm chỗ trồng rau. Những người lính tự hào về những ngưỡng của thể lực, của lòng quyết tâm mà mình đã vượt qua. Chính trị viên Đoàn M31 như trung tá Lê Văn Hữu cứ nhắc mãi về tính đồng đội, tính trong sáng đến tuyệt đối của những con người ngoài biển khơi...

Niềm tự hào có cả trong câu chuyện về hai thùng nước ngọt 200 lít còn lại cho cả 80 con người mà tàu tiếp nước, tiếp hàng thì không biết bao giờ mới tới. Nát óc suy nghĩ, ông Thống ra lệnh pha thêm nước biển vào để nước ngọt biến thành nước lợ và chỉ sử dụng để nấu canh, nấu cơm, cắt hết phần nước uống của cả cấp chỉ huy. Những bữa ấy cơm nấu không chín, vị mặn ở khắp nơi nung cơn khát, anh em nhìn nhau không ai nói một lời, quay đi để giấu cái nhăn mặt.

< Tàu Vàm Cỏ 24 chở 2000 tấn cát đá xi măng ra để xây dựng ngôi nhà bát giác cho những người giữ đảo. đảo vào mùa xuân năm 1988.

Sau hai ngày thì tàu tới. “Tôi nghe nhẹ cả người vì đã có nước cho anh em, lại tiếc hai thùng nước ngọt đã biến thành bốn thùng nước lợ phải đổ bỏ. Nhưng rồi nghĩ thấy cũng hay, thỉnh thoảng lại có những tình huống như là liều thuốc thử cho bản lĩnh, cho tình cảm, cho sự gắn bó của đội mình. Cứ qua một lần như vậy lại thương nhau hơn...”.

Những liều thuốc thử ấy của đời công binh nhiều lắm, những câu chuyện cứ miên man trong ngày họp truyền thống của Đoàn M31 mỗi ngày 6-11 hằng năm.

“Trường Sa khổ mà vui...”

Trung tá Hữu cười khà khi bật mí: dưới thềm ximăng của đảo anh em thường dùng que vạch một câu ghi dấu: “Trường Sa khổ lắm nhưng mà thật vui”.

< Công binh vận chuyển vật liệu xây dựng nhà trên đảo Tiên Nữ năm 1989.

“Ở trong bờ không thể tưởng tượng được sự vất vả của công binh ngoài ấy, trong những ngày ấy” - ông Hữu chỉ nói vậy. Hàng ngàn tấn đá, cát, ximăng, sắt thép đi qua vai người lính công binh, cả thềm đảo, cả các công trình xây từ những bàn tay trần bợt bạt vì ngâm nước, trên không có mái che nắng lửa, dưới không có chỗ đặt chân khỏi mặt biển, sụp tối không có điện, vật liệu xây dựng mau chóng bị ăn mòn bởi nước mặn, áo quần, găng tay, giày vớ mau chóng bị mục nát vì ngấm muối, vì cọ xát... Chỉ có thịt da con người là vẫn còn và mồ hôi còn mặn hơn nước biển.

“Bệnh ngoài da hầu như ai cũng bị vì ngâm nước muối, tuột da tay, giập, đứt ngón tay cũng xảy ra thường xuyên trong giai đoạn kéo xuồng”, trung tá Học kể. Nhưng nguyên tắc của lính là không nghỉ ngơi, không rảnh rỗi nên những người bị bệnh, bị thương vẫn bình thản nhận những công việc phù hợp hơn, tiếp tục làm việc mỗi ngày trên 14 tiếng, tiếp tục chuyển hàng tấn vật liệu mỗi ngày và bệnh tật cũng trôi luôn xuống biển, ngấm xuống làm cứng hơn nền đảo.

< Buổi chào cờ đầu tuần trên Đảo Thuyền Chài.

Đã có những hi sinh không tránh khỏi của anh em công binh. Ngày 9-5-1988, trong lúc giật mìn để tạo hố móng, anh Nguyễn Văn Vĩ (quê Nghệ An) bị sức ép của mìn, của sóng tạo ra từ vụ nổ, hi sinh. Ngày 20-6-1989, khi cẩu hàng xuống xuồng để kéo vào đảo, giữa những cơn sóng lắc, bốn người phải kéo căng dây chỉnh con xuồng chao đảo, bập bềnh, đỡ khối hàng xuống cho cân. Sóng gió tạt ngang, khối hàng chao nghiêng một bên đánh văng anh Nguyễn Duy Thiệu (quê Quảng Ninh) xuống biển. Khi anh em lặn xuống vớt được lên anh đã tắt thở. Cả hai cùng hi sinh ở đảo Đá Lớn ở độ tuổi 20.

Những người ở lại không một ai nản lòng. “Là chỉ huy, tôi rất cảm kích với sự chia sẻ của anh em. Hễ nước lên, bất kể ngày đêm các chàng trai của chúng tôi vẫn lao xuống biển kéo xuồng, có khi họ vừa kịp chợp mắt, có khi bộ quần áo vừa kịp khô, có khi lòng bàn tay chưa hết rỉ máu...”, ông Hữu bồi hồi nhắc.

< Điểm ném đá xây mới nhà cấp 1 bêtông cốt thép trên đảo Tốc Tan A tháng 3-1999.

Những ngày ấy, người sĩ quan đóng vai trò khung trưởng như ông luôn đứng ở đầu sóng ngọn gió với nghĩa sát thực nhất. Trong tấm ảnh chụp hiếm hoi ngày đặt viên đá xuống chân móng đảo Thuyền Chài, toàn thân ông Hữu ngập dưới nước, chỉ nhô lên cái đầu. Tàu vừa neo, ông đã là người đầu tiên lao xuống làn nước thăm thẳm xanh bơi vào đảo, tìm chỗ buộc dây kéo xuồng chở đá. Ông cười nụ cười sảng khoái sau mấy mươi năm “chỉ huy không đi trước thì làm sao điều động lính được”.

Những công trình ấy đã tiếp tục mọc lên nhanh không kém tốc độ xây dựng hiện đại hôm nay và “chất lượng thì chỉ có từ 100% trở lên mà thôi”, ông Hữu lại cười. Ông nói động lực thúc đẩy nhanh tiến độ, giám sát đòi hỏi chất lượng công trình cao nhất: thiên nhiên. Gần tới mùa gió bão là công trình buộc phải hoàn thành.

Chinh phục đại dương

< Công binh tập kết đá xây nhà cấp 1 trên đảo Len Đao, tháng 5/1989.

Đi xây đảo từ năm 1989, cái thời chưa có xuồng máy để chuyển tải mà chỉ dùng tay kéo xuồng chở vật liệu từ tàu vào đảo, từ lúc chưa có máy trộn bêtông mà phải trộn bằng tay với những dụng cụ thô sơ... những ký ức về Trường Sa của trung tá Lã Ngọc Tuân - chủ nhiệm chính trị E83 - vẫn sống động sau gần 20 năm...
Tháng 6-2007, chính trị viên tiểu đoàn 885 Lã Ngọc Tuân được giao nhiệm vụ làm khung trưởng khi xây âu tàu ở đảo Song Tử Tây.

< Đường vào đảo Đá Đông.

“Thời gian thi công đúng vào lúc biển động - ông Tuân nhớ lại - ở quần đảo Trường Sa, về mức độ dữ dội của sóng gió thì đảo Song Tử Tây chỉ đứng sau đảo An Bang! Công binh vẫn đội mưa đội gió chuyển tải đá hộc vào đảo để tạo thành phần thân đê. Sóng quá to. Xuồng lắc, tròng trành dữ dội. Anh em trên xuồng bị say sóng, nôn ọe ngay lúc cúi xuống để bưng đá”.

Từng viên đá hộc được quăng vào những vị trí đã đánh dấu bằng hệ thống cọc tiêu để tạo thành khuôn hình của thân đê.

“Chúng tôi xác định: làm không chỉ cho khung mình mà còn cho đồng đội sau này đỡ vất vả. Đá hộc được xếp trong rọ và liên kết với nhau. Phần đầu của đê sóng gió đánh nhiều quá, rọ bị đứt, một số viên bị sóng cuốn ra xa. Chờ khi nước cạn, anh em lại đóng bè đi gom từng viên về xếp lại”.

< Nhà thuộc hai thế hệ 1988 và 1999 trên đảo Tốc Tan A.

Cứ thế mất ba năm (từ tháng 7-2007 đến tháng 8-2009), hàng ngàn tấn đá hộc chuyển ra mới xếp thành khuôn hình kè chắn sóng âu tàu. Tính ra mỗi năm, suốt sáu tháng trời công binh mới làm được hơn 100m thân kè.

Khó khăn lớn nhất là chuyển tải đá hộc vào vị trí tập kết trên đảo. Anh em chuyển tải bằng xuồng cũ một đáy, bề ngang chỉ rộng hơn 2m, thành xuồng cao 1m, khi lấy đá ra rất vất vả và nguy hiểm bởi sóng luôn làm xuồng lắc lư, tròng trành. Đã vậy, xuồng một đáy rất hay bị thủng. Mỗi lần xuồng thủng, anh em công binh phải huy động 20 người đẩy xuồng lên nền san hô để hàn.

“Rồi bão, áp thấp nhiệt đới hoành hành. Có ngày chúng tôi chỉ chuyển được 10 tấn đá hộc. Trong khi những ngày biển êm, anh em chuyển được 100-150 tấn đá một ngày. Định mức bình thường của một chiến sĩ là 3-4 tấn hàng một ngày. Trong khi đó, thời gian cho anh em là trong 10 ngày phải chuyển hết 1.000 tấn hàng!”, trung tá Tuân khẽ chép miệng khi kể lại.

Sáng tạo công binh

< Công binh M31 xây kè chắn sóng ở đảo Song Tử Tây tháng 5-2008 - Ảnh: E131 cung cấp.

Trung tá Tống Văn Hóa - chủ nhiệm kỹ thuật của Trung đoàn E83 - đã sáng tạo loại xuồng... lật. Đó là loại xuồng rộng gấp đôi xuồng cũ, có hai khoang đặt hai máy bơm nước. Xuồng được đóng kín, thành xuồng không cố định và chỉ cao 30cm.

Gần tới vị trí đổ đá, máy bơm ở khoang 1 sẽ bơm nước vào làm đầy khoang. Còn máy bơm của khoang thứ hai sẽ bơm nước ra. Khi đó, trọng lượng một bên xuồng giảm 50% và nghiêng qua bên khoang đầy nước.

Anh em thấy xuồng nghiêng đến một độ an toàn để đá đủ sức trượt xuống biển thì rút chốt thành, đá tự động tuột xuống. “Trước, một xuồng cần 7-8 người quăng đá và phải mất 15-20 phút thì bây giờ chỉ cần hai người (một giữ neo, một sử dụng máy bơm) và mất 10 phút”, ông Tuân tự hào nói.

Sau này xuồng lật thế hệ thứ hai được cải tiến: chỉ cần một máy bơm. Máy bơm của bên khoang hút nước vào được thay bằng một van. Chỉ cần vặn van ở đáy xuồng là nước tự động chảy vào khoang.


< Chuyển vật liệu cho công trình kè chắn sóng ở đảo Song Tử Tây năm 2008 Ảnh: E131 cung cấp.

Việc thi công trên đảo luôn gặp nhiều khó khăn. Công binh phải mở luồng để xuồng đi lại thuận lợi và phải dùng thuốc nổ phá một vùng san hô tạo luồng đá rộng 3m. Sau khi nổ, việc lấy và chuyển san hô đổ ra xa gặp rất nhiều khó khăn. Anh em phải vét sạch những cục san hô vụn ở độ sâu hơn 3m chuyển ra ngoài mép xanh (sâu 40-50m)!

Một nhóm 8-9 người chỉ có ống thở và kính lặn thông thường cả ngày lặn ngụp dưới đáy luồng gom san hô để đồng đội kéo lên xuồng. Lại ngốn một lượng lớn thời gian, ảnh hưởng đến tiến độ thi công công trình. Công binh E83 đã sáng tạo loại xuồng mở đáy. San hô tự rơi xuống biển chứ không phải ngốn sức bộ đội vứt từng cục san hô. Trước đây công việc cần 10-15 người/xuồng thì nay chỉ cần 4-5 người.

Ở lòng đại dương...

Nguyễn Văn Dương là một trong hai thợ lặn chuyên nghiệp giỏi nhất của E83. Quê Thanh Hóa, đi xây công trình ở Trường Sa từ năm 1994. Năm 2008 anh được giao nhiệm vụ ở lại trông coi công trình. Một đêm, khoảng 2g sáng, đang đi kiểm tra ván khuôn, một cú trượt chân làm anh bị thương 41%. Sau khi về trị vết thương một năm, nhớ đảo, Dương lại xin ra Trường Sa ở đến tận bây giờ.

Trung úy Dương kể: “Anh em bị thương phần lớn là do sóng xô và gió thổi. Có người bị thương khi lao ra cứu vật liệu trong gió lốc; có người khi đang chỉ đạo kỹ thuật trên giàn giáo bị gió thổi rớt xuống đất; có người đang đứng chỉ huy trên kè, gió thổi bay từ độ cao 6m xuống...”.

Trung tá Lã Ngọc Tuân bùi ngùi khi kể về liệt sĩ Đặng Quang Chiểu, hi sinh năm 2003 khi đang làm nhiệm vụ tại đảo Nam Yết. Chiểu được phân công theo xuồng chuyển tải chở sắt, thép vào đảo. Sóng bất ngờ cuộn lên đánh ụp xuống xuồng. Chiếc xuồng tải trọng cả tấn trong tích tắc đã chìm nghỉm. Một đầu sắt móc vào áo Chiểu, kéo người chiến sĩ 19 tuổi xuống biển. Hai ngày sau anh em mới đưa được Chiểu về đất liền.

Một trường hợp khác, khi đang cẩu đá hộc xuống xuồng, sóng lớn, xuồng tròng trành liên tục, cần cẩu bất ngờ va vào cạnh xuồng. Một người chiến sĩ bị ngã, đầu đập vào thành tàu rồi rơi vào đáy đại dương trong sự bất lực của đồng đội. Sáng hôm sau, anh em lặn xuống chỉ tìm thấy một dây thắt lưng và một phần bộ đồ hải quân còn sót lại...

Du lịch, GO! - Theo Tuoitre + internet

Một thời vác đá xây Trường Sa - Phần 1
Một thời vác đá xây Trường Sa - Phần 2
Một thời vác đá xây Trường Sa - Phần 3
Một thời vác đá xây Trường Sa - Phần 4
Muốn đến cù lao Minh (Bến Tre), có thể đi theo hai đường. Nếu đi từ TP.HCM, phải qua phà Hàm Luông (Mỏ Cày), cách thị xã chừng ba cây số. Còn nếu xuất phát từ Cần Thơ, Vĩnh Long, phải sang phà Đình Khao cách thị xã Vĩnh Long chừng năm cây số, rồi theo quốc lộ 57 là đến nơi. Từ TP.HCM đi Bến Tre khoảng 85 km, từ Cần Thơ đến Vĩnh Long chừng 30 km

Tỉnh Bến Tre, được hình thành bởi ba cù lao lớn là Minh, Bảo và An Hóa, nằm ở hạ nguồn Mekong, giữa bốn con sông Mỹ Tho, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên. Người ta thường gọi ba cù lao này là “ba đảo dừa xanh”. Cù lao Minh ngày nay gồm có ba huyện là Chợ Lách, Mỏ Cày và Thạnh Phú, trải dài theo sông Hàm Luông và Cổ Chiên đến biển Đông hơn 80 km, có các vùng thổ nhưỡng nước ngọt, lợ, mặn với nhiều nét văn hóa đặc trưng, độc đáo.
Vào địa phận huyện Chợ Lách, ghé chợ Phú Phụng, có thể dùng thuyền nhỏ đi qua cồn Phú Đa thuộc xã Vĩnh Bình. Đây là một cù lao với nhiều bờ bãi còn khá hoang sơ. Đất đai cồn Phú Đa màu mỡ, cây trái sum suê, nhiều nhất là dừa, sầu riêng, nhãn…
.
Rời Phú Đa, du khách sẽ đến với làng trái cây, làng hoa kiểng Cái Mơn thuộc xã Vĩnh Thành. Nơi đây là xứ sở của những giống trái cây ngon như sầu riêng, măng cụt, chôm chôm, xoài, sa-pô-chê, cam quýt và những loại hoa kiểng nổi tiếng. Nghề làm cây giống và hoa kiểng có từ khá lâu đời đã giúp cho người dân Cái Mơn có cuộc sống khá giả. Kiểng thú là một loại kiểng mới xuất hiện thời gian gần đây nhưng cũng đã gây được sự chú ý và bắt đầu thâm nhập vào thị trường với nhiều triển vọng.

Đình rắn và nhà cổ

Ở Định Thủy, cách thị trấn Mỏ Cày khoảng hai cây số, có một di tích độc đáo, gợi tò mò cho nhiều người. Đó là đình Rắn với nhiều câu chuyện và huyền thoại bí ẩn. Đường vào Đình Rắn xuyên qua những hàng bạch đàn thâm u và vắng lặng. Chuyện rắn thần ở Đình Rắn được dân gian kể lại nghe lạ và hấp dẫn:

< Đường vào đình Rắn.

Hồi đó, khoảng năm 1964-1965, khi chiến tranh đã đến hồi ác liệt, dân Định Thủy tản cư gần hết. Đình Rắn là nơi thường diễn ra những cuộc họp của các lực lượng cách mạng địa phương. Người ta đồn rằng cặp rắn thần ngày xưa, dài hơn 20m, mình to như khạp năm cân đã trở về đình. Nhiều người quả quyết đã trông thấy cặp rắn này! Rắn đi rạp lúa làm thành lằn lớn, có khi dài cả cây số. Sự thật thì đó là vết xuồng của bộ đội! Chuyện rắn thần trở về ở đình làng Định Thủy đồn râm ran khắp nơi…

Ngày nay, đình Rắn được tôn tạo lại trên nền đất cũ ở ấp Định Nhơn, hoành tráng, to đẹp nhưng vẫn theo kiến trúc cổ của những đình chùa Nam bộ. Vào các ngày 14, 15, 16 tháng 5 Âm lịch hàng năm, hàng ngàn dân, khách các nơi đổ về thăm viếng, tham quan hội đình Định Thủy.

Ở xã Đại Điền có ngôi nhà cổ của cụ Hương Liêm được xây dựng từ cuối thế kỷ XIX, ảnh hưởng phong cách kiến trúc của Pháp, bên trong mang dấu ấn truyền thống. Thời gian từ thi công đến hoàn chỉnh mất hết mười năm. Ngôi nhà cất theo hình chữ nhật, có diện tích trên dưới 500 m2, 48 cột lớn nhỏ. Cột bằng gỗ lim và căm xe núi. Cột cái cao 4,5m, bề hoành (tròn) cỡ 1,2m. Cột hàng nhì cao 3,9m, bề hoành gần 1m. Cột hàng ba cao 3,5m, bề hoành hơn 80cm. Tất cả xiên, kèo, cột được vào niêm, ghép mộng, kết cấu, liên thông chắc chắn.

Khách tham quan rất ấn tượng với bức hoành phi “Hiếu Để Trung Tín” treo cao ở trung tâm gian chính, nằm trên xiên luồn, sơn son thếp vàng. Các hoa văn, họa tiết ở một số cột được cẩn xà cừ rất tinh xảo theo phong cách Huế. Nền nhà cổ cao tới bụng người lớn, cẩn đá hộc lớn, mái lợp ngói âm dương. Nhà cổ Đại Điền là một công trình kiến trúc có giá trị văn hóa cao, ghi dấu ấn của một thời kỳ quá khứ với nhiều biến động lịch sử tại cù lao Minh.

Sản vật và ẩm thực độc đáo

Do đặc điểm địa lý với hệ sinh thái đa dạng, cù lao Minh có nhiều sản vật đặc trưng cũng như các món ẩm thực đặc sắc. Về huyện miền biển Thạnh Phú, đến Thạnh Phong, An Quy, du khách sẽ được thưởng thức nhiều món hải sản độc đáo như cháo nghêu, vọp nướng, sò huyết rang me, cua luộc hèm, tôm sú tái chanh.

Ngược về Mỏ Cày, ghé vào nhà lồng chợ thực phẩm của huyện, sẽ thấy những gian hàng bán mắm tép rất ngon, bởi mắm được làm bằng tép bạc đất sống ở môi trường nước ngọt, hoặc hơi lợ. Mắm tép Mỏ Cày có màu vàng đỏ tự nhiên, trộn với đu đủ mỏ vịt (hườm) thơm ngon, hương vị đậm đà, được làm theo một quy trình nghiêm nhặt, phụ thuộc vào nắng trời, lên men tự nhiên. Ghé Mỏ Cày, nếu không mua kẹo dừa chính hiệu thì thật đáng tiếc. Kẹo dừa Mỏ Cày đã có lịch sử và tiếng tăm hơn nửa thế kỷ, bởi hương vị thơm ngon đặc trưng.

Trở về Chợ Lách sau một chuyến du hành nhiều thú vị, có thể ghé bất cứ một gian hàng dọc đường nào để mua biếu cho người thân ít trái cây đặc sản của vùng đất đầu nguồn cù lao Minh. Sầu riêng Chín Hóa, Sáu Ri đã trở thành những thương hiệu được ưa chuộng. Ngoài ra còn có chôm chôm, nhãn da bò… Sau cùng, có thể ghé chợ Phú Phụng mua vài ký ốc gạo Phú Đa để luộc hoặc lể ra làm gỏi với đu đủ bào và da heo hấp cơm. Món đặc sản dân dã này để lai rai với bạn bè rất… hợp lý!

Du lịch, GO! - Theo DNSGCT, internet
Tranh Ðông Hồ có từ thời Lê, thuộc xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, Hà Bắc.Theo câu thơ của thi sĩ Hoàng Cầm "Anh đưa em về bên kia sông Ðuống...", đến thị xã Bắc Ninh ngày xưa đây là đất dừng chân của cánh buôn tranh Ðông Hồ,nay chỉ giản đơn là đất dừng chân của người đợi qua phà Hồ.

Dù ai buôn bán trăm nghề
Nhớ đến tháng chạp thì về buôn tranh...

Dịp đó các ngày 6, 11, 16, 21, 26, chợ tranh họp 5 phiên trong tháng duy nhất của năm-tháng chạp. Chợ chỉ họp và bán tranh sau khi các gia đình đã sửa lễ cúng thánh.
Tranh đẹp hay không đẹp đều chỉ nhất loạt giữ giá một, người sành chơi có thể tuỳ ý lựa chọn. Không khí Tết chộn rộn không chỉ ở cảnh kẻ bán người mua tấp nập, mà cả bởi vẻ rực rỡ, sắc màu t­ơi rói cử những bộ tứ bình, Thạch Sanh, những gà, lợn, mèo, chuột, ngựa...

Có thể nói, cái đặc biệt của tranh Ðông Hồ là ở chỗ đó. Tranh dân gian Hàng Trống, Kim Hoàng, Huế ... không thể có sắc màu muôn hồng ngàn tía của tranh Ðông Hồ, cũng không thể có nền giáy điệp quyến rũ đó.
Ngời sành tranh Ðông Hồ chính bởi chất dân gian chứa đựng trong tờ tranh nền giấy điệp trắng ngà, lướt nhẹ lượt hoà vàng hay vang đỏ, không khỏi chạnh lòng nhớ tranh Ðông Hồ ngày xưa

Ở cái làng nghèo mà hào hoa như làng tranh Đông Hồ trước đây thường truyền nhau câu ca "Làng Mái có lịch có lề - Có sông tắm mát, có nghề làm tranh" và "Lịch sử cũng thế Đông Hồ". Không khí sầm uất vào cữ một chạp, các thuyền từ xứ Đôn xứ Đoài ghé bến "ăn tranh". Người làng tranh trước ở ngoài đê vào mùa vụ làm tranh cũng phải một sương hai nắng tất bật khuya sớm. Thôi thì chỗ này rậm rịch tiếng chày giã điệp, chỗ nọ dỡ ván in tranh cọ rửa lau chùi sạch sẽ. Khói đốt than lá tre ẩn hiện la đà trên các ngọn cây. Làng Đông Hồ ruộng đất ít, từ cụ già đến con trẻ  đều mê và nghiện trà đặc.

Thuốc lào Tiên Lãng và chè móc câu Thái Nguyên là thứ không thể thiếu được trong các đêm làm tranh. Tiếng rít thuốc lào sòng sọc nghe vui tai, nước trà đặc sánh, làm cho đầu óc minh mẫn, tỉnh táo khiến cho nét vẽ, màu vẻ thêm sống động, có hồn có vía. Nhất là nết ăn, nết ở của người lang tranh hào hoa có vẻ hơi cầu kỳ nhưng bao giờ cũng trọng chữ tín và nghĩa tình trong quan hệ xóm giềng. Không biết tự bao giờ đã thành lệ, các cụ làng Đông Hồ được mời đi ăn cổ làng bên chỉ đụng đũa đụng bát cho phải phép, ở nhà vẫn lo cơm canh cất dọn đàng hoàng.

Rượu chỉ uống chén hạt mít, ăn cũng chỉ qua loa dăm miếng thịt là các cụ đứng dậy xin phép gia chủ ra về. Khi có khách xa đến được mời cơm, gia chủ hân hạnh ngồi đầu nồi xới cơm, không đụng đũa cả vào cạng nồi cơm. Người sắp mâm thiếu thức gì biết ý phải đi lấy, không để khách phải g ọi, nếu để sơ suất dễ bị nói! Ngay ông Nguyễn Đăng Sấn được mời ra trường Mỹ thuật Việt Nam giới thiệu cho lớp sinh viên về dòng tranh Đông Hồ, ngay phút lâm chung ông cũng yêu cầu di hài mai táng tại quê nhà nơi ông gắn bó với làng tranh một đời. Và ông Sần nhất định đòi cậu con trai chuyển bằng được bộ sưu tập ông đã dầy công sưu tầm cho anh Trần Nhật Tấn người trong họ như muốn truyền lại cái tinh hoa của dòng tranh Đông Hồ đến người tâm huyết:

"Chỉ có cậu Tấn mới có khả năng tiếp thu được, tôi cho cậu để phát huy cái hay, cái đẹp của dòng tranh ông cha để lại" Nghĩ kể cũng lạ, bất cứ người làng Hồ đi làm ăn xa về xin ván tranh khắc, các cụ nghệ nhân trong làng nhất định không cho. Ngay cả dân làng Hồ chuyên sản xuất tranh nhưng chẳng bao giờ treo trong nhà mà đem bàn hoặc cho thiên hạ hết. Người làng ra Hà Nội sinh sống làm ăn tập trung quanh chợ Đồng Xuân làm lại nghề lâu rồi và do đó quen gọi là phố Hàng Mã. Mà cũng chỉ làm hàng mã thật chứ tịnh không thấy sản xuất tranh như ở làng Đông Hồ.

Nghề làm tranh trong làng rất được trọng vọng; ai có hoa tay, có thú chơi cầm, kỳ, thi, họa đều được mọi người vị nể (cũng là theo cái thú tao nhã của nhà nho xưa). Làng tranh cũng trải qua biết bao nhiêu thăng trầm. Các cụ nghệ nhân trong làng kể lại: Hồi Pháp thuộc, người ở nhà Bác Cổ thỉnh thoảng lại đánh xe ô tô về mua tranh, thậm chí mua cả bản khắc tranh nữa! Nhà cụ Lử có bản khắc tranh gà rất quý đưa đi đóng cửa chuồng gà, người Pháp phát hiện ra hỏi mua cụ bán liền. Nghĩ mà tiếc đứt ruột!

Lại còn nhớ cái thuở Tây càn, dân làng Hồ chạy loạn, binh lửa chiến tranh liên miên và cái khí hậu ẩm ướt khắc nghiệt của thiên nhiên miền Bắc, ván khắc tranh bị hỏng và thất lạc khá nhiều. Bản gốc tranh Đánh ghen, Gà đại cát, lợn ăn lá dày... cũng không còn nữa. Sau ngày Hòa Bình lập lại thấy trên báo Pháp có in tranh dân gian làng Hồ, Chính phủ ta phải liên hệ với Đảng Cộng sản Pháp xin cho khắc lại ván tranh để bảo tồn.

Tranh Đông Hồ có một dạo lên đến điểm "cực thịnh", đã từng sáng giá trong các triển lãm nghệ thuật lớn ở các nước trên thế giới với nét vẽ nhuần nhụy, tươi tắn như hồn người đất Việt. Bà con Việt kiều khi về nước cũng phải tìm mua bằng được những "bức tranh làng Hồ và cô Tố Nữ dáng quê hương" (Thơ Chế Lan Viên) để khi ở xa quê trong sương mù Luân Đôn hay cái giá lạnh của Pa-ri hoa lệ, cảm thấy ấm lòng ở chốn tha hương.

Thực trạng của làng tranh bây giờ ra sao? Cũng khó tìm ra được lời giải đáp cụ thể nếu Nhà nước không đứng ra đầu tư và tiêu thụ. Có một dạo Xuhasaba (Hà Nội) nhận đặt và xuất khẩu với số lượng tranh lớn cũng làm nức lòng người dân nơi đây vì giá thành tranh không đắt lắm. Nhu cầu vài năm gần đây thay đổi, cứ mạnh ai nấy làm. Người làng tranh bây giờ nảy sinh tâm lý: ai đặt thì làm, nhiều khi với số lượng tranh quá ít cũng không muốn làm. Thi thoảng lắm cũng có nơi về làng tranh đặt vài nghìn tờ, không sản xuất được thường xuyên nên cũng khó tổ chức sản xuất tranh được đều đặn trong năm, ảnh hưởng đến thu nhập của người làm tranh.

Các nghệ nhân như cụ Thúc, ông Sâm, ông Lăng... có tay nghề cao và kinh nghiệm, đều mắt mỏi tay run hoặc dần dần khuất núi cả. Lại nhớ đến ông Lý Lăng, hơn mười năm trước tôi và anh bạn về thăm ông trong ngôi nhà tranh bốn gian tường vách tranh đạm. Ông là nghệ nhân vẽ mẫu tranh nổi tiếng làng Đông Hồ theo kinh nghiệm. Nghĩa là vừa làm vừa học... Cứ bắt chước, cứ học hỏi dần. Nhà này nhờ vẽ mẫu tranh này, nhà khác gọi giúp mẫu tranh khác...

Cũng là tình xóm giềng, ông chẳng tiếc sức, tiếc công! Ngoài việc sáng tác mẫu tranh, ông còn truyền đạt kinh nghiệm nghề nghiệp của mình cho lớp trẻ học hỏi. Chẳng hiểu bây giờ còn bao nhiêu người cụ đã truyền nghề cho, "trụ lại" được với nghề trước thủ thách của cơ chế thị trường khắc nghiệt, nhất là đối với một dòng tranh như dòng tranh Đông Hồ...

Dẫu người làng tranh có làm tranh đi nữa cũng phải chạy theo thị trường, nghĩa là khi pha màu chủ yếu là bột goát để giá thành được rẻ... Còn đâu như thủa nào tranh làng Hồ giữ nguyên được sắc màu tươi tắn, nhuần nhụy của các màu lấy từ... cây vườn, nội cỏ! Họa chăng tranh làng Hồ còn giữ được sắc thái tự nhiên (theo nguyên nghĩa của từ này) chỉ còn được chiêm ngưỡng ở Viện bảo tàng và các sưu tập tư nhân mà thôi! Mà sức sống của tranh dân gian này chủ yếu phản ánh tâm tư nguyện vọng của người lao động. "Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp", một nhà thơ xứ Bắc đã từng viết như thế.

Chỉ cần vài tờ tranh cuộn lại bên cạnh nải quả cúng tổ tiên và dán treo trên vách nứa tường tre cũng làm nhẹ nhõm thư thái lòng người khi tết đến và nguôi đi nổi nhọc nhằn cấy hái trên đồng ruộng! Đấy là chưa kể những khu du lịch ở khắp đất nước ta nếu tiêu thụ được cũng là có dịp để giới thiệu cho bạn bè năm châu thấy cái hay, cái đẹp của tranh dân gian, phần nào góp phần xây dựng đời sống văn hóa trên cơ sở tìm về cội nguồn dân tộc.

Bây giờ ở làng tranh Đông Hồ này có lẽ hiếm có ai lại mê vẽ như anh Trần Nhật Tấn. Thới buổi của cơ chế thị trường, hầu như cả làng đổ xô vào làm hàng mã, cũng vốn là "mặt hàng" truyền thống trước đây. Thôi thì đủ loại: hoa tai, đồng hồ, nhà táng, hon-da, "cúp" giấy. Rẻ cũng mươi đồng, đắt cũng đến hàng trăm nghìn... tùy theo nhu cầu người đặt mua. Làng thường giao cho người bán buôn đi Hà Nội.Còn tranh Đông Hồ một thời nổi tiếng của dòng tranh xứ Bắc, kỹ thuật công phu, giấy đắt, đủ các loại màu lấy từ chất liệu tự nhiên, tiêu thụ lại khó. Người sành tranh lắm băy giờ mới dám chơi tranh Đông Hồ, chứ không như ngày nào tranh bày bán trên mẹt quê khắp các chợ Phủ Thuận và ở nhiều nơi khác.

Dạo qua các hè phố cứ thấy tranh Tàu, tranh Thái bày treo la liệt trên các quầy sách báo và văn hóa phẩm như lấn áp người xem, người mua. Lâu rồi chúng tôi mới có dịp trở lại làng Đông Hồ, thăm anh Tấn, quanh cảnh xóm thôn nghe chừnh đổi khác nhưng nét chân tình trong con người anh vẫn như xưa.

Vẫn giọng nói hồ hởi khi anh nói về tranh và lật giở tờng tranh cho chúng tôi xem, nghe anh giảng giải kỹ thuật vẽ tranh mới càng thấy biết bao công phu trong nghề. Có hôm trời nắng nóng độ khô ẩm tăng phải gia giảm màu cho phù hợp với độ xốp của tranh. Quấy hồ đặc quá, giấy cong vênh như bánh đa quá lửa, không in tranh được...

Rồi kỹ thuật khắc ván tranh, chế tạo màu từ lá tre, rỉ đồng, hoa hòe, vỏ điệp... Anh Tấn tâm sự: "Nhà đông, tôi cũng phải cho các cháu làm thêm hàng mã để sống. Nhưng mình không l à m tranh nữa mà để mai một dòng tranh thì thật tuổi hổ với ông cha, các anh ạ! nhiều khi tôi dành hẳn một gian buồng trong nhà để sáng tác mẫu tranh. Gian ngoài cho các cháu làm hàng khỏi bề bộn và đỡ bận tâm đến không khí sáng tác của mình. Kinh tế gia đình từ những năm kinh tế cũng đỡ nên tôi cũng có điều kiện vẽ tranh hơn".

Do chịu khó học hỏi và yêu nghề làm tranh dân gian, anh Tấn được các cụ nghệ nhân trong làng "truyền nghề"cho. Các loại tranh in ván, tranh khắc, trổ lé... anh đều nắm vững và xử lý kỹ thuật làm tranh thuần thục. Những năm trước anh Tấn đã được tín nhiệm phụ trách tổ làm tranh Đông Hồ gia công cho Nhà nước theo chủ trương phụ hồi dòng tranh dân gian. Các nhà nghiên cứu nghệ thuật Vương Như Chiêm, Chu Quang Trứ, khi về Đông Hồ đều tìm đến anh Tấn để hiểu ngọn ngành của dòng tranh "độc nhất vô nhị " này...

Nhiều đoàn khách nước ngoài: Nhật, Tiệp, Thụy Điển, I-ta-li-a, Mỹ, Đức... qua sự trình bày của anh Tấn đều viết bài ca ngợi vẻ đẹp của làng tranh với sức sáng tạo dồi dào của các nghệ nhân trên các báo và tạp chí nổi tiếng của thế gjới. Anh Tấn đã sáng tác hàng trăm tranh, có nhiều tranh chưa đưa ra xuất bản, biểu hiện công phu tìm tòi xử lý chất lượng trong tranh dân gian. Các tranh "Bắt sống giặc lái Mỹ", "Bác Hồ về thăm làng" đã được bảo tàng mỹ thuật Việt Nam bày treo trang trọng và in trong các vựng tập là niềm vui của anh trên đường tìm về với những giá trị văn hóa dân tộc.

Nét say mê nghệ thuật ấy chưa bao giờ giảm, mặc dù anh sắp vào tuổi sáu mươi. Anh vẫn cất công ra các phố phường Hà Nội để sưu tầm bộ tranh Bát tiên và Tố nữ cổ mà lâu nay thất lạc. Có lẽ mong muốn hơn cả trong anh là tỉ nh Hà Bắc và Bộ Văn hóa thông tin sớm ra đời Trung tâm tranh Đông Hồ để khôi phục và phát triển dòng tranh dân gian đang có nguy cơ bị mai một.

Du lịch, GO! - Theo CGTĐT Bắc Ninh, ảnh internet

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống