Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Monday, 25 July 2011

Cửu Đỉnh ở Huế đang được Nhà nước Việt Nam xét duyệt để công nhận là một bảo vật quốc gia. Trên bộ tác phẩm nghệ thuật bằng đồng này, phần lãnh hải của Việt Nam đã được cổ nhân lưu lại một cách cụ thể, sống động bằng cả hình ảnh và ký tự.

Lâu nay, biển Đông đã trở thành một vấn đề thời sự chẳng những của Việt Nam mà còn của khu vực và một số nước trên thế giới. Riêng ở Việt Nam, trong những năm trở lại đây các tài liệu liên quan đến chủ quyền biển đảo của Việt Nam đã được công bố ngày càng nhiều, làm cho vấn đề ngày càng sáng tỏ.

Ngoài hàng vạn thư tịch cổ thể hiện rõ chủ quyền của Việt Nam từ nhiều đời về biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, hình ảnh biển Đông còn được chạm nổi sắc nét trên bộ Cửu Đỉnh hiện được bảo lưu tại hoàng cung triều Nguyễn bên bờ sông Hương (góc phía tây nam của khu Đại nội).
.
Bản kiểm kê tài sản quốc gia

Cửu Đỉnh là một bộ tác phẩm nghệ thuật bằng đồng gồm chín cái đỉnh to lớn được Bộ Công đúc tại kinh đô Huế vào năm 1836 dưới thời Minh Mạng. Chín cái đỉnh được đặt thành một hàng ngang trước sân Thế Miếu, nơi thờ các vua triều Nguyễn. Mỗi đỉnh đối diện với một gian thờ trong tòa miếu ấy. Riêng đỉnh tương ứng với gian thờ vua Gia Long đặt hơi nhích về phía trước, vì vua Minh Mạng cho rằng đó là vị hoàng đế đã có công khai sáng triều đại.

Ở mặt trước hông các đỉnh đều đúc nổi hai chữ đại tự với chữ dưới là chữ đỉnh và chữ trên là tên gọi tắt miếu hiệu của từng vua. Chẳng hạn như Cao Đỉnh (Cao là miếu hiệu của vua Gia Long), Nhân Đỉnh (Nhân là miếu hiệu của vua Minh Mạng), Chương Đỉnh (vua Thiệu Trị), Anh Đỉnh (vua Tự Đức)…, cứ thế lần lượt theo thứ tự các chữ từ vị vua đầu của nhà Nguyễn là Cao, Nhân, Chương, Anh, Nghị, Thuần, Tuyên, Dụ và Huyền.

Đáng chú ý nhất ở đây là 153 hình ảnh được thể hiện xung quanh hông các đỉnh. Ở hông mỗi đỉnh người xưa đã đúc nổi 17 cảnh vật, được phân bố theo một biểu đồ chung: chia làm ba hàng ngang, mỗi hàng gồm một chủng loại. Tại mỗi hình ảnh đều có chữ chỉ tên từng cảnh vật.

Bằng kỹ thuật đúc đồng điêu luyện và nghệ thuật chạm khắc tinh vi, các nghệ nhân thời Minh Mạng đã thể hiện một cách khái quát nhưng súc tích sự phong phú và đa dạng của các cảnh vật tạo nên sự giàu đẹp của Tổ quốc, bao gồm núi sông, lãnh hải, cửa biển, cửa ải, động vật, thực vật, binh khí, xe thuyền...

Nếu ở Nhân Đỉnh có hình ảnh sông Hương thì ở Tuyên Đỉnh có sông Hồng và Huyền Đỉnh có sông Cửu Long. Nếu ở Cao Đỉnh có hình ảnh biển Đông (Đông Hải) thì ở Nhân Đỉnh có biển Nam (Nam Hải) và ở Chương Đỉnh có biển Tây (Tây Hải). Nếu ở Nghị Đỉnh có cửa biển Thuận An (Thuận An hải khẩu) thì ở Thuần Đỉnh có cửa biển Cần Giờ (Cần Giờ hải khẩu) và ở Dụ Đỉnh có cửa biển Đà Nẵng (Đà Nẵng hải khẩu). Nếu ở Cao Đỉnh có cọp trên rừng thì ở Nhân Đỉnh có cá voi dưới biển....

Khi đánh giá cao 153 hình ảnh trên Cửu Đỉnh, một nhà nghiên cứu phương Tây là R.P. Barnouin đã nhận xét bộ hiện vật bằng đồng này “tạo thành một bản tài liệu biểu thị kiến thức bách khoa của các nho sĩ thông thái trong triều đình Huế năm 1836, tài liệu được giữ nguyên vẹn dưới mắt chúng ta, trong khi đó thì những tài liệu khác đã bị tiêu hủy hoặc sai lạc”

(The urns constitute a text expressing the encylopedic knowledge of the learned men of the Court of Hue in 1836, a text preserved intact under our eyes whereas many others have perished or been deformed) (“Les bas- reliefs des urnes dynastiques de Huế”, tạp chí của Hội Nghiên cứu Đông Dương, bộ mới, tập XLIX- 3, 1974, Sài Gòn, trang 426).

Vào khoảng năm 1990, nhà nghiên cứu mỹ thuật Việt Nam Huỳnh Hữu Ủy đã nhận định một cách sâu sắc về Cửu Đỉnh trong một bài viết của ông như sau: “Đây là một cuộc triển lãm... xây dựng trên đời sống trí tuệ và tâm linh của cả một dân tộc mà cho đến ngày nay giá trị ấy càng được xác định hơn. Tâm hồn của đất nước truyền thống biểu hiện tài tình... để ca ngợi Tổ quốc hoa gấm, nước biếc non xanh giàu đẹp, vững bền”.

Có thể nói thêm rằng cuộc triển lãm lộ thiên này, trong một chừng mực nào đó, cũng là một bản kiểm kê tài sản quốc gia vào những thập niên đầu thế kỷ 19.

Giấy chủ quyền của dân tộc

Trong những tài sản quý báu nhất của đất nước được thể hiện trên Cửu Đỉnh, có phần lãnh hải của Tổ quốc, mà cụ thể là biển Đông, biển Nam và biển Tây.

Biển Tây là vùng biển nằm ở phía tây của Nam bộ, tiếp giáp với hải phận của Thái Lan, được gọi chung từ xưa là vịnh Thái Lan (Gulf of Siam). Biển Nam là phần lãnh hải nằm ở phía nam của Nam bộ, tiếp giáp với hải phận của các nước Malaysia, Indonesia... Riêng hải phận của biển Đông xem ra rộng lớn hơn nhiều so với hai biển kia.

Các hải phận của nước ta đã được triều đình nhà Nguyễn bấy giờ quan tâm một cách đặc biệt. Hình ảnh biển Đông được thể hiện trên Cao Đỉnh (Gia Long), biển Nam trên Nhân Đỉnh (Minh Mạng) và biển Tây trên Chương Đỉnh (Thiệu Trị) là ba cái đỉnh to cao nhất và quan trọng nhất, tượng trưng cho ba ông vua đầu tiên của triều đại.

Cửu Đỉnh ở Huế đang được Nhà nước Việt Nam xét duyệt để công nhận là một bảo vật quốc gia. Trong các giá trị của nó, chắc hẳn người đời nay không ai không quan tâm đến chủ đề lãnh hải mà cổ nhân đã lưu lại một cách cụ thể bằng cả hình ảnh lẫn ký tự trên đó.

Dù đã trải qua 175 năm (1836-2011) với bao cơn bão táp của thiên nhiên và thời cuộc, Cửu Đỉnh vẫn còn đứng vững giữa lòng đất nước. Bộ tài liệu bằng đồng này cung cấp cho chúng ta nhiều thông tin cần thiết, trong đó có những hình ảnh khẳng định chủ quyền của dân tộc về lãnh hải nói chung, biển Đông nói riêng.

Với giá trị mang tầm quốc gia, hình ảnh này xứng đáng được đưa vào hồ sơ biển Đông của Việt Nam để đấu tranh ngoại giao trên trường quốc tế.

Du lịch, GO! - Theo

Sunday, 24 July 2011

Chiếc ca nô khởi hành từ bến tàu ở Năm Căn lướt nhanh vào vùng nước mênh mông, chẳng mấy chốc, ngoái lại nơi xuất phát chỉ còn thấy một đường kẻ nhạt.

Điểm đến của chúng tôi là Mũi Cà Mau. Trên thuyền ai nấy đều như vừa trải qua một trò chơi cảm giác mạnh. Người lái ca nô cho biết, từ Năm Căn xuống Mũi Cà Mau với quãng đường 60 km sẽ đi mất đúng 55 phút.

Thật thích thú khi vừa được hít thở không khí trong lành, vừa được nhìn ngắm quang cảnh hai bên bờ sông. Màu xanh nối tiếp, nhà cửa san sát, cũng hàng quán hai bên "đường" không khác gì trên đất liền: cửa hàng điện thoại di động, shop thời trang, tiệm cắt tóc, quán phở, quán nhậu, vựa cá, cửa hàng xăng dầu, trại thu mua tôm... Những ngã ba, ngã tư, những góc cua trái, quẹo phải... cảm giác thót tim.
.
Không thể diễn tả hết cảm giác bồi hồi khi được đặt chân đến điểm cực Nam của đất nước. Mũi Cà Mau thuộc địa phận xóm Mũi, xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, cách thành phố Cà Mau khoảng 120km. Có ba điểm tham quan tại đây. Hướng dẫn viên du lịch sẽ giới thiệu với bạn lần lượt, bắt đầu từ đài quan sát cao 21m. Đứng trên đài, khách có thể thấy "mũi nhọn" trên bản đồ hình chữ S nằm ở phía Đông, đó cũng là bên lở. Hàng kè chắn sóng chạy dài và đến chóp mũi có đặt những ống bê tông vừa để đánh dấu và cũng vừa để bảo vệ cái "mũi nhọn" đó. Xa xa, một nhà hàng thủy tạ màu xanh, thỉnh thoảng vài chiếc vỏ lãi hay ca nô từ ngoài khơi chạy vào trong lạch, để lại một đường sóng cong vòng thật đẹp trên mặt nước.

< Cửa biển.

Bờ phía Tây là rừng mắm, đước... xanh rì trải dài ngút mắt tiếp giáp với mây trời. "Mắm đi trước, đước theo sau". Cây mắm mọc lên trên đất bồi, rễ cây đâm tua tủa để giữ đất, sau đó là đước và những cây rừng ngập mặn khác như sú, vẹt.. đua nhau mọc lên khiến bãi bồi ngày càng chắc chắn. Nơi đây, mỗi năm biển bồi hàng trăm mét. Trái cây đước khi già rơi cắm xuống đất và cứ thế sinh sôi nảy nở, hình thành nên khu rừng ngập mặn lớn nhất của Việt Nam, là khu dự trữ sinh quyển của thế giới. Đứng trên đài quan sát có thể thấy xóm Mũi với những mái nhà lúp xúp nằm giữa vùng rừng cây xanh mát, là vùng đất có cư dân sinh sống cuối cùng phía Nam của đất nước. Tạo hóa đã hào phóng ban cho Mũi Cà Mau một điều kỳ diệu và độc đáo mà không nơi nào có được, đó là: "Ðất nở ra, rừng biết đi và biển sinh sôi".

< Điểm mốc tọa độ quốc gia ở khu du lịch Mũi Cà Mau, ấp Mũi, xã Đất Mũi.

Chúng tôi rời đài quan sát để đi đến Mũi Cà Mau. Cảm giác hồi hộp và sung sướng khi được chụp hình bên tượng đài có hình dáng chiếc thuyền với dòng chữ Mũi Cà Mau 803730" vĩ độ Bắc, 104043 kinh Đông hay chụp hình tại doi đất nhỏ xíu cuối cùng vươn ra biển.

Nơi tham quan cuối cùng là mốc tọa độ quốc gia, điểm tọa độ GPS 0001 màu vàng nổi rõ trên nền hoa sen sáu cánh màu đỏ. Tại đây có một sân bay trực thăng nhỏ, những chiếc cầu khỉ thơ mộng cho du khách tha hồ chụp hình.

Nhà hàng tại khu du lịch Mũi Cà Mau không thiếu các đặc sản biển hay của vùng nước lợ như tôm, sò, cua, ghẹ, ốc, cá... Và tất nhiên, trên đường về lại thành phố Cà Mau, nếu đi từ Năm Căn, du khách sẽ không quên ghé lại các quán lá hai bên đường để mua ít bồn bồn tươi hay đã muối dưa là đặc sản của Cà Mau.

Trong tương lai, khi tuyến đường bộ từ thành phố Cà Mau đến đất Mũi hoàn thành, khách du lịch sẽ đến với đất Mũi dễ dàng hơn, nhưng rõ ràng khó có thể sánh được với kiểu đi du lịch bằng ca nô, được  nhìn ngắm cảnh quan đặc trưng của vùng sông nước.

Du lịch, GO! - Theo Phunu online, internet
Mỗi độ Xuân về, du khách, tăng ni, Phật tử, tín đồ đạo hữu trong và ngoài nước lại hành hương về non thiêng Yên Tử lễ Phật, vãn cảnh chùa và chiêm ngưỡng vẻ đẹp thiên nhiên hùng vĩ của núi rừng Yên Tử.

Trăm năm tích đức tu hành
Chưa về Yên Tử chưa thành quả tu

Trải dài gần 20km trong cánh cung Đông Triều vùng Đông Bắc tổ quốc, khu di tích lịch sử và danh thắng Yên Tử thuộc địa bàn hai xã Phương Đông và Thượng Yên Công, thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. Hầu hết các chùa, am, tháp nằm trong 2.686 ha rừng đặc dụng Yên Tử, có hệ sinh thái đa dạng phong phú của rừng Nhiệt đới và Á nhiệt đới. Trên những triền núi đá còn dấu tích của những vỏ sò, vỏ ốc là minh chứng của một thời kỳ kiến tạo địa chất lâu dài.
.
Núi Yên Tử còn được gọi là Bạch Vân Sơn hay Phù Vân Sơn, gắn liền với cuộc đời sự nghiệp của Vua Trần Nhân Tông (1258-1308) sau hai lần lãnh đạo nhân dân kháng chiến chống giặc Nguyên-Mông thắng lợi đã rời bỏ ngai vàng và xuất gia về Yên Tử tu hành (1299) lấy pháp hiệu Trúc Lâm Đại Đầu Đà, sáng lập ra Thiền phái Trúc Lâm. Từ đây, Yên Tử trở thành Trung tâm Phật giáo của Quốc gia Đại Việt. Phật hoàng Trần Nhân Tông đã cho xây dựng hàng trăm công trình lớn nhỏ trên núi Yên Tử để làm nơi tu hành và truyền kinh, giảng đạo. Sau khi ông qua đời, người kế tục sự nghiệp là Pháp Loa Đồng Kiên Cương, vị tổ thứ hai của dòng Trúc Lâm và Huyền Quang Lý Đạo Tái vị tổ thứ ba của phái Trúc Lâm. Với tinh thần nhập thế và yêu nước, giáo lý Thiền phái Trúc Lâm trở thành nền tảng tư tưởng dựng nước và giữ nước thời Trần, có ảnh hưởng sâu sắc đến Phật giáo Việt Nam sau này.

Hành trình tới đỉnh non thiêng bắt đầu từ suối Giải Oan với cây cầu đá xanh nối hai bờ suối. Tục truyền, khi vua Trần Nhân Tông nhường ngôi lại cho con là Trần Anh Tông rồi tìm đến cõi Phật, rất nhiều cung tần và mỹ nữ đã đi theo để khuyên ông trở về cung cấm nhưng không được nên đã gieo mình xuống suối tự vẫn. Vua Nhân Tông thương cảm cho lập một ngôi chùa để siêu độ giải oan cho họ, từ đó con suối cũng mang tên chùa: Giải Oan. Xung quanh chùa có 6 ngọn tháp, lớn nhất là tháp mộ vua Trần Nhân Tông, hai bên là tháp mộ sư Pháp Loa và sư Huyền Quang.

Tiếp đó tới chùa Hoa Yên còn được gọi là chùa Cả, chùa Phù Vân, chùa Vân Yên;  nằm ở độ cao hơn 500m so với mực nước biển. Đây là ngôi chùa chính, quan trọng và đẹp nhất trong hệ thống chùa ở Yên Tử. Nhìn theo thế núi, chùa Hoa Yên tọa lạc nơi đầu rồng. Đôi mắt rồng ở ngôi tháp Tổ, hai dãy núi đông, tây vươn về phía nam ôm lấy con đường hành hương dưới chân núi Giải Oan như đôi cánh tay rồng. Sách xưa ghi lại: chùa Hoa Yên ngoài tiền đường, thượng điện để thờ Phật, tả hữu còn có viện Phù đồ, có lầu trống, lầu chuông, nhà dưỡng tăng, nhà khách nghỉ… tạo thành một quần thể kiến trúc rộng lớn.

Phía trước chùa Hoa Yên là Tháp Tổ (Huệ Quang Kim tháp) nằm trong Lăng Quy Đức, được xây dựng năm 1309 sau khi Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông viên tịch, là nơi giữ xá lị của Ngài. Trong tháp thờ tượng Trần Nhân Tông ở tư thế ngồi thiền. Đế tháp trang trí hoa văn sóng nước và đài sen cách điệu tinh tế. Xung quanh chùa Hoa Yên, Tháp Tổ có rất nhiều cây tùng, cây đại cổ thụ, tuổi đời đến 700 năm, tương truyền được trồng từ khi vua Trần Nhân Tông lên núi tu hành. Ngoài những tượng, bia, tháp cổ, chùa Hoa Yên còn lưu giữ nhiều di vật quí giá: gạch hoa cúc, ngói mũi hài kép thời Trần, phù điêu chạm trên đá hình đầu rồng, sư tử…

Phía trên độ cao 700 m là chùa Vân Tiêu ẩn hiện trong làn mây mù bên triền núi cùng nhiều di tích danh thắng nổi tiếng khác như chùa Một Mái, chùa Bảo Sái, tượng đá An Kỳ Sinh, am Ngọa Vân, bàn cờ tiên…

Nằm cách không xa non thiêng là Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử - công trình thiền viện lớn nhất Việt Nam, được xây trên nền dấu tích của chùa Lân có tên chữ  Long Động tự. Vua Trần Nhân Tông đã dừng chân tại đây trước khi lên núi tu hành. Năm Kỷ Hợi (1293) ngài đã cho tôn tạo, xây dựng chùa Lân thành một nơi khang trang lộng lẫy, chùa Lân trở thành Viện Kỳ Lân, là nơi giảng đạo, độ tăng. Trong hệ thống chùa tháp ở Yên Tử, chùa Lân là ngôi chùa quan trọng chỉ đứng sau chùa Hoa Yên, nơi có nhiều vị cao tăng đã trụ trì, thuyết pháp, trong đó vua Trần Nhân Tông đã từng giảng đạo tại đây.

Chùa Lân- Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử nằm trên một quả đồi có hình dáng một con lân nằm phủ phục. Danh tiếng và sự nguy nga của chùa Lân còn được lưu truyền trong dân gian qua câu ca: Ngõ chùa Lân, sân chùa Muống, ruộng chùa Quỳnh.  Những dấu tích xưa, ngõ dài rộng, hai bên có nhiều tháp mộ các nhà sư vẫn còn tồn tại tới ngày nay.

Nhưng độc đáo và linh thiêng nhất trong hệ thống những ngôi chùa ở Yên Tử là chùa Đồng tên chữ là Thiên Phúc Tự được khởi dựng vào thời nhà Hậu Lê, tọa lạc trên đỉnh non thiêng cao 1.068 m so với mặt nước biển. Mấy trăm năm trước, Tam tổ Trúc Lâm và các Thiền sư thường ngồi thiền để “Thân hoà đồng trụ, giới hoà đồng tu”. Nơi đây, không gian thiên nhiên bao la, quanh năm mây trắng sương mờ bao phủ. Đứng trên đỉnh núi những lúc trời quang, mây tạnh, phóng tầm mắt ra xa là một bức tranh thiên nhiên vùng Đông Bắc rộng lớn kỳ vĩ với sông Bạch Đằng lịch sử, những đảo nhỏ thấp thoáng trong Vịnh Hạ Long.

Năm 2007, chùa được trùng tu, đúc mới bằng đồng nguyên chất nặng 70 tấn, chiều dài 4,6 m, chiều rộng 3,6m, cao 3,35m, hình dáng chùa như một đài sen, trong Chùa thờ Đức Phật Thích ca Mâu Ni và Tam tổ Trúc Lâm. Có người nói, chữ Đồng trong tên chùa không chỉ là tên vật liệu đã làm nên 5000 chi tiết chạm khắc, trang trí ngôi chùa mà đấy là chốn thiêng liêng nhất của Yên Tử, nơi đất trời và con người hòa đồng, đắm mình trong một không gian thiên nhiên hùng vĩ;  dưới chân ta là đất Phật còn ngay trên đầu ta đã là cổng trời.

Để lên đến chùa Đồng trên đỉnh  Yên Tử, du khách có thể hành hương vượt chặng đường dài khoảng 6000m, qua hàng ngàn bậc đá, đi giữa đường tùng xanh mát, ngắm mai vàng rực rỡ khoe sắc mỗi độ xuân về hoặc chọn cho mình hành trình ngắn hơn bằng phương tiện cáp treo. Ngắm nhìn toàn cảnh rừng núi Yên Tử từ trên cao, một màu xanh tươi của cây rừng xen lẫn đá núi chắc hẳn sẽ đem đến cho những du khách những cảm nhận mới lạ đầy thú vị.

Trải hơn 700 năm, qua sự biến động của lịch sử, tác động của thiên nhiên, có những chùa am của Yên Tử trở thành phế tích, có những công trình được trùng tu, tôn tạo lại. Song những giá trị lịch sử văn hoá, tư tưởng của Thiền phái Trúc Lâm vẫn trường tồn cùng non sông đất nước Việt Nam. Năm 1974, khu di tích lịch sử và danh thắng Yên Tử đã được Nhà nước xếp hạng là một di tích đặc biệt quan trọng của quốc gia.

Non thiêng Yên Tử bốn mùa mây bay khói tỏa, bốn mùa trầm mặc và linh thiêng đón khách hành hương nhưng đông vui nhất vẫn là vào dịp hội Xuân diễn ra từ ngày mồng 10 tháng Giêng âm lịch và kéo dài đến cuối tháng 3 âm lịch. Sự uy nghi của núi non hoà với nét cổ kính trầm mặc của những ngôi chùa, tháp tạo nên vẻ đẹp có một không hai. Hành hương trên những con đường đá mòn, rợp mát bóng tùng, thông, trúc, mai, lắng nghe tiếng róc rách của những con suối nhỏ trong mát, hít thật sâu bầu không khí trong lành, du khách thập phương bỗng quên nỗi mệt nhọc của đường dốc cheo leo.  Ấy là lúc khách trần lạc chốn bồng lai, mọi ưu phiền cũng chợt tan biến như lời câu hát “Mênh mênh mang mang Phù Vân Yên Tử, vi vi vu vu Trúc Lâm thiền tự. Thổn thức nỗi lòng ai kẻ tình si, giữa chốn thiền không tìm người trong mộng”.

Một mùa Xuân mới đang về trên quê hương, mùa của những lễ hội, những chuyến du xuân, thăm thú cảnh đẹp đất nước. Và những người con đất Việt từ mọi miền đất nước và cả ở nước ngoài lại bắt đầu những chuyến hành hương về với non thiêng Yên Tử, vùng đất Tổ của Phật giáo Việt Nam, để cùng nhau tìm hiểu, bảo tồn và gìn giữ những nét đẹp truyền thống của ông cha.

Du lịch, GO!: Vẻ đẹp danh thắng Yên Tử, Quảng Ninh

Du lịch, GO! - Theo Quehuong online, ảnh internet

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống