Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Sunday, 31 July 2011

Đình làng ở Huế trong điều kiện cụ thể về tự nhiên và xã hội, đã có những sáng tạo để thích nghi với môi trường mà nó đang tồn tại.

Trong một chừng mực nào đó khi những người dân Việt, mở mang bờ cõi về phương Nam đã thổi vào đây một đời sống văn hóa tinh thần. Ngoài những công trình kiến trúc mang dáng dấp cung đình, thì Huế vẫn còn đó những Đình làng mang đầy đủ dấu ấn tâm linh mà người xưa để lại.

Từ lâu, do sự dịch chuyển của cơ chế làng sang tổ chức cơ chế đô thị đã làm cho nhiều ngôi Đình, một một dấu ấn đặc trưng của làng mất dần đi tính chất quan trọng. Sinh hoạt văn hóa cộng đồng có tính truyền thống ở các ngôi Đình vì vậy mà cũng bị mờ nhạt dần theo năm tháng. Do đó, việc cúng tế theo qui tắc chuẩn của người xưa cũng mang tính giản lược. Tuy nhiên, những ngôi Đình xưa đang còn tồn tại trong lòng cố đô vẫn là niềm tự hào của dân tộc Việt trong hành trình Nam tiến.
.
Khi nhìn qua tổng thể Đình làng của xứ Huế, rất dễ dàng nhận ra, bởi bản thân kiến trúc của những ngôi Đình này đều gặp nhau trong một dáng vẻ chung và tạo nên một phong cách Đình làng xứ Huế. Không kể đến các ngôi Đình thuộc các làng, xã nằm xa đô thị.

Chúng tôi  đã có dịp viếng thăm các “Đình làng trong phố” như: Đình làng Phú Xuân, Đình làng Kim Long, Đình làng An Cựu, Đình làng Lại Thế... và ở đây chúng tôi được chiêm ngưỡng về một loại hình kiến trúc cổ của Huế xưa.

Những ngôi Đình của Huế với tư cách là một bộ mặt đại diện cho văn hóa của làng, được xây dựng ở ngay đầu làng như một người chủ hiếu khách niềm nở chào đón những ai đến thăm. Đến gần với mỗi ngôi Đình có thể nhận rõ được giới hạn trong một khuôn viên cụ thể: cửa đình được xây bằng những trụ gạch vuông vức vươn cao, có bổ ô trang trí.

Qua cửa vào sân đình, cũng như nhiều kiến trúc cổ của Huế, Đình làng cũng xây một bức bình phong, buộc ta phải đi vòng sang hai bên, nếu muốn tiến sâu vào bên trong sân Đình. Bức bình phong trước hết theo quan niệm “phong thủy” là để che chắn những gì không tốt, không hay, tạo sự kín đáo cho công trình phía trong, đồng thời là một diện rộng để vẽ trang trí những hình có tính chúc tụng dân làng. Sân Đình thường có lối đi rộng ở giữa dẫn vào tòa Đại đình, còn vùng đất trống hai bên thường được dùng để trồng cây lưu niên (Đình làng Phú Xuân hiện vẫn giữ gìn được nguyên trang phong cách này).

Đa số những ngôi Đình trong lòng cố đô đều được xây dựng vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX với lối kiến trúc khá đơn giản:  Không có các dãy Tả vu, Hữu vu ở hai bên sân, không có tòa Tiền tế ở phía trước và Hậu cung ở phía sau (Những ngôi Đình làng ở ngoài Bắc đa phần đều có những mảng kiến trúc này).

Đình làng của Huế chỉ có duy nhất tòa Đại đình mặt bằng chữ nhật. Theo Thủ từ Lê Xuân Trai năm nay 72 tuổi, người kế tiếp bố mình để trông giữ Đình làng Kim Long, nơi hiện đang thờ các họ tộc như: Mai Khắc, Mai Công, Trương Đình, Nguyễn Văn, Trần Hữu, Trần văn... thì có lẽ do trước đây, khi ngôi Đình còn sống đầy đủ đời sống xã hội của nó, việc ăn uống và tế lễ linh đình cũng như việc linh thiêng hóa Thành hoàng làng không nặng như ở ngoài Bắc.

Theo các nhà nghiên cứu, Đình làng ở Huế thường có ba gian và hai chái, ở hai đầu không có tường bao, luôn mở với bên ngoài. Những Đình lớn như Đình Lại Thế thì hai chái kéo dài, mở rộng thành những chái kép, tạo cho lòng Đình như năm gian hai chái. Phía hiên trước Đình thường có mái đua vươn ra một khoảng rộng do một hệ thống cột đỡ, nên từ trước về sau Đình có số hàng cột lẻ, thường là bảy. Các “vài” nối với nhau tạo thành nối liên kết ngang, gồm thượng lương và hoành tử.

Thượng lương trong kiến trúc Đình làng Huế, giống như nhiều kiến trúc khác ở đây, gồm hai lớp trên và dưới song song với nhau gọi là trùng lương (tức thượng lương kép), thường có đắp khung rộng ở khoảng giãn cách. Các xà thượng ở đầu cột cái, xà trung ở đầu cột quân và xà hạ ở đầu cột hiên đều được gọi là cái xuyên. Song song với các xà (ở trên đầu cột), do kèo (hoặc kẻ ở phần mái đua) đỡ, là các hoành tử.

Những Đình làng ở Huế, hiện trạng và kiến trúc đều thuộc phong cách cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Song các nhà nghiên cứu cũng cho rằng, đó là niên đại tu bổ hơn là khởi dựng. Chẳng hạn kiến trúc Đình Kim Long còn ghi rõ: “Khải Định, Canh Thân đại tu bổ” cho biết lần sửa Đình qui mô lớn (như làm lại hoàn toàn) là vào năm Canh Thân đời Khải Đinh, tức năm 1920.

Còn ở Đình Lại Thế, mặt bụng chiếc xà nối đầu hai cột quân ngoài của gian giữa ghi lại đầy đủ các mốc làm và tu sửa. Những dòng chữ cho biết vào giờ Dậu (17 giờ đến 19 giờ) ngày mồng 6 tháng 10 năm Tân Dậu, niên hiệu Vĩnh Hựu (tức năm 1741 - thật ra năm này đã là năm thứ 2 đời Cảnh Hưng rồi, có lẽ do Huế thuộc Đàng Trong nhận được tin muộn hay lúc đầu chưa chịu thừa nhận Cảnh Hưng nên vẫn giữ niên hiệu Vĩnh Hựu) đặt thượng lương (tức cất nóc khi làm Đình). Giờ Tỵ (9 giờ đến 11 giờ) ngày 11 tháng Tư năm Canh Tý niên hiệu Cảnh Hưng 41 (tức năm 1780) lại đặt thượng lương (tức làm lại hoàn toàn). đến giờ Giáp Thìn ngày Nhâm Thân 15 tháng Một năm Ất Tỵ niên hiệu Thiệu Trị (tức năm 1845) làm lại Đình. Và lần sửa đình qui mô sau cùng đặt thượng lương vào khắc Kỷ Hợi ngày Tân Mùi mồng Tám tháng Năm năm Tân Mão, niên hiệu Thành Thái 2 (tức năm 1891).

Đình làng là một nơi thiêng liêng, nhưng thân mật với tất cả những người dân. Đây còn là một sợi dây tinh thần nối chặt con người lại với nhau. Ông Nguyễn Tri Kha năm nay 84 tuổi, hiện đang là Thủ từ Đình làng Phú Xuân cho biết, ông mới nhận chức Thủ từ này 2 năm nay (mỗi nhiệm kỳ 6 năm), với ông công việc Thủ từ như là một sự tri ân mà ông đền đáp với tổ tiên, và vừa qua ông đã tự bỏ ra 1100 USD để sửa chữa lại khoảng sân của ngôi Đình.

Ông Kha cho biết: Đình làng Phú Xuân hiện đang thờ 7 dòng họ gồm: Hồ, Lê, Nguyễn, Huỳnh, Trương, Trần, Phạm. Và Đình làng cũng đã được Bộ văn hóa công nhận là di tích lịch sử năm 1994. Hiện nay, cứ vào ngày mồng 6 tháng 6 âm lịch làng đều tổ chức tế Đình và cũng như ngày xưa tế Tam sanh (trâu, dê, heo) là nét văn hóa được những người dân coi trọng và gìn giữ.

Hiện nay, những Đình làng đang được các Nhà quản lý văn hóa từng bước trả về với “nhiệm vụ chính” của nó. Thủ từ Lê Xuân Trai cho biết, năm 2007 chợ Kim Long sau một thời gian dài “chểm chệ” nơi sân đình được di dời và Đình làng Kim Long đã được trả về với chức năng nguyên thủy. Ông kể: Cách đây vài năm, có người muốn sử dụng Đình làng Kim Long để làm nhà kho, ông Trai tâm sự điều này với Nhà nghiên cứu Phan Thuận An. Ông An đã nói với người Thủ từ già rằng: “Nếu ai bảo mở cửa thì anh đừng mở, nếu họ phá khóa thì kệ họ”. Tuy nhiên, sau đó những người này đã không dám phá bỏ một nơi mang đầy đủ gia trị văn hóa tinh thần của dân làng Kim Long.

Đình làng ở Huế trong điều kiện cụ thể về tự nhiên và xã hội, đã có những sáng tạo để thích nghi với môi trường mà nó đang tồn tại. Trong một chừng mực nào đó khi những người dân Việt, mở mang bờ cõi về phương Nam đã thổi vào đây một đời sống văn hóa tinh thần. Ngoài những công trình kiến trúc mang dáng dấp cung đình, thì Huế vẫn còn đó những Đình làng mang đầy đủ dấu ấn tâm linh mà người xưa để lại.

Du lịch, GO! - Theo  Vietnamnet, ảnh internet
Thời gian đẩy đưa, thấm thoát từ ngày bọn mình đi chuyến Phan Rang đến giờ cũng đã hai tháng. Hơn sáu mươi ngày ở nhà lại nhớ hình bóng của thiên nhiên, của biển và núi rừng - lại ngóng chờ cơ hội cho chuyến kế tiếp.

Việc nhà lu bu, sinh kế mà - ai cũng vướng chuyện cơm áo gạo tiền, không làm thì lấy gì ăn - đóng cửa đi chơi hoài không khéo sập tiệm, chả còn khách nữa thì khốn! Mà hổm rày vào mùa nên mưa khá nhiều nên có đi cũng phải tính toán kỹ lưỡng: phượt dăm ngày nhưng dính ngay cái thời tiết đỏng đảnh, gió bảo ì ầm thì ruột gan tan nát hết, phí công phí của lắm.

Mấy hôm nay bà xã cũng thay đổi dự tính tùm lum nên cũng chưa nhất quyết nơi nào sẽ đến trong chuyến sau - Lúc thì nghĩ đến biển Suối Ồ, biển Bình Châu - lúc lại nghĩ về Cẩm Mỹ Cẩm Đường. Toan đi tính lại thấy Madagui cũng hay hay... nên rút cuộc cũng chưa có phương án cuối cùng.

Chả sao cả, mình cho bà xã tha hồ chọn lựa đến lúc có một vài địa danh rồi chốt lại sẽ tính toán cung đường đi. Dẫu gì bọn mình cũng là những kẻ du phượt cực kỳ tự do mà, cứ tính rồi bung - không ai có thể kìm hãm cái sự đi lại của bọn mình ngoại trừ Thượng đế cứ cho mưa bão ầm ầm suốt tuần (cái này thì pó tay!).

Ham mê đi mọi nơi, ham thích du phượt chắc không chỉ vợ chồng bọn mình. Ước gì đến ngày nào đó không còn phải buôn phải bán gì nữa... tức là lúc về hưu, ước thêm hai điều nữa là có rủng rỉnh tiền, có râm rang sức khỏe... thì chừng đó có lẽ bọn mình nhắm đến những chuyến dài hơi - ví dụ như xuyên Việt, Tây Bắc...
Chẹp chẹp, nghĩ mà phát mê hoặc trong lòng!

Nhưng đó là chuyện mơ, chuyện xa. Còn chuyện hiện tại thì vẫn cứ phải tính phải toan. Liệu trời có nắng tốt không? Liệu sắp có mưa bão dài ngày tiếp? Đi đâu, núi rừng hay biển cả? Chẹp, hạ hồi phân giải vậy - Có lẽ chuyến này sẽ đến sau một hai tuần nữa thôi. Và dĩ nhiên trước chuyến đi mình sẽ có lộ trình để báo trước cùng các bạn.

Cái "tông" bọn mình thì như các bạn đã biết: thích cảnh đẹp nhưng còn hoang sơ chứ không phải cái đẹp do nhân tạo. Thích nhấm nháp những món lạ nhưng không khoái chuyện chặt chém...
Có lẽ nhiều bạn cho là đi du lịch như vậy thì hơi buồn nhưng thà vậy còn hơn là những bãi biển nhun nhúc người, những trận cãi vã ình xèo do cái giá trên trời, mất hứng cả một chuyến đi. Mà cảnh đẹp nhân tạo thì thành phố cũng có nhiều: như Suối Tiên, Đầm Sen, Bửu Long... nhưng bọn mình không khoái tí nào.

Xem ra... phượt bụi có vẻ cũng kén khách nhỉ!

Điền Gia Dũng
Làng Tả Van Giáy thuộc xã Tả Van, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai. Làng ở dưới chân núi, gồm 110 hộ dân với 550 nhân khẩu. Nằm trong địa phận của Vườn Quốc gia Hoàng Liên, làng Tả Van Giáy là nơi hội tụ tinh hoa của đất trời. Đến đây, du khách sẽ có dịp được tìm hiểu thêm về phong cách, lối sống cũng như những nét văn hóa đặc sắc của người Giáy.

Từ thị trấn Sa Pa, xuôi theo con đường mòn uốn lượn trên lưng chừng núi khoảng 10km, du khách sẽ đến xã Tả Van. Con đường đất vào thôn Tả Van Giáy nhỏ, hẹp, hai bên là màu xanh ngắt của những thửa ruộng bậc thang màu mỡ ngô và lúa non. Thấp thoáng trong làn sương mỏng một chiếc cầu treo bắc qua suối Mường Hoa - đường vào thôn Tả Van Giáy, với hai bên đầu cầu là những bụi lau, sậy, những vạt hoa đỗ quyên... đung đưa trong gió. Ngay đầu cầu treo là ngôi miếu thờ 3 gian - nơi người Giáy tổ chức lễ hội “Nào Cống".
.
Tả Van Giáy là cách gọi ngày nay, còn người dân địa phương ở Lào Cai và dân tộc Giáy ở Lai Châu cũng chỉ quen gọi “Mướng Và”, tên gọi này bị gọi chệch từ “Mướng Vá” theo âm của tiếng Tày, có nghĩa là “Sải tay”. Tương truyền, làng này ngày xưa chỉ có người Tày sinh sống nên mới có tên gọi như vậy. Trung tâm của làng còn có một mỏm đồi được người dân gọi là “Pỏm mò dà táy” (nghĩa là đồi mộ bà Tày).

Đến Tả Van Giáy, du khách không chỉ đắm mình giữa khung cảnh thiên nhiên với tiếng suối chảy róc rách, tiếng chim rừng đang gọi bạn tìm nhau... mà còn được khám phá vẻ đẹp bình dị, mộc mạc của ngôi làng.

Làng Mướng Vá dựa lưng vào núi, trước mặt là con suối Mường Hoa. Thế của làng dựa lưng vào hướng Tây nhìn sang Đông, các nhà quay mặt về hướng Đông Bắc, bởi hướng chính Đông vừa là núi đá cao sừng sững, hướng Nam có dòng suối chảy xuôi. Theo quan niệm về phong thủy của người Giáy, hướng nhà về núi đá và xuôi theo dòng nước là không tốt…

Làng Mướng Vá tính từ khi người Giáy ở có lịch sử trên dưới 300 năm. Dòng họ đến sớm nhất theo người già trong làng nói là họ Sần, tiếp đó là họ Vàng, họ Lù và các họ tiếp theo. Họ cư trú quần tụ với hàng trăm nóc nhà và thành từng làng, bản, mường ở chân đồi núi, những thung lũng ven sông, ven suối. Xung quanh là dân tộc Mông cùng sinh sống nhưng người Giáy vẫn giữ được nguyên vẹn vốn văn hóa truyền thống của trong phong tục tập quán, tín ngưỡng, lễ hội.

Mùa cưới của người Giáy là tháng mười âm lịch của năm trước đến tháng hai âm lịch của năm sau (từ tháng 3 - 7 không bao giờ được tổ chức đám cưới; tháng 8, 9 có thể cưới được). Đám cưới có nhiều bước cầu kỳ như xem mặt, xem nhà; thả mai mối (cha mẹ người con trai có thể hỏi con trai mình về người con gái); thách cưới (chủ yếu: thách rượu thịt để mời khách trong ngày cưới, làm vốn cho người con gái). Lễ “đoạn lời” được tổ chức ăn ở cả hai bên. Lúc này đôi trai gái được công nhận là con của hai gia đình, coi như đã thành vợ chồng. Sau ba năm tính từ lễ này nếu nhà trai không đón được dâu thì hai bên tự do đi với người khác, nếu chưa đủ ba năm mà “phá rào” thì sẽ bị phạt. Lễ cưới tổ chức ở hai gia đình. Đoàn đón, đưa dâu phải quàng 2 băng vải đỏ chéo nhau. Khi đám cưới kết thúc, đoàn nhà gái ra về được đánh dấu bằng phẩm đỏ vào má, cùng với những “quả đấm” của nhà trai để đừng bao giờ “quên” nhà trai.

Người Giáy quan niệm khi trong nhà có người chết, con cháu tiến hành rửa thi thể bằng lá bưởi, lá chanh cùng với chậu nước ấm, rồi thay quần áo mới cho người quá cố. Thi hài người chết đặt ở gian giữa nhà, trên thi hài phủ lớp vải trắng, mặt phủ giấy vàng, miệng ngậm đá (lấy từ đá mài dao) và những miếng bạc cắt ra từ đồng bạc trắng. Có bao nhiêu con đẻ, cháu nội thì ngậm bấy nhiêu viên đá, miếng bạc. Điều này có ý nghĩa là để người chết khi gặp con cháu sẽ không mở miệng vì hồn ma người quá cố hỏi ai thì người đó sẽ bị ốm đau. Khi đã đưa thi hài ra nằm ở giữa nhà các con cháu mặc áo trái, đi chân đất, để đầu trần và phải ăn chay, nằm đất ngồi xổm đến khi đưa người quá cố đi chôn. Đặc biệt trong tang ma của người Giáy có Mo lễ tang gồm có 80 bài của 13 tiết mo, nội dung chủ yếu nhằm răn dạy con cháu về đạo làm người…

Trong tôn giáo, tín ngưỡng của người Giáy, quan trọng nhất là thờ cúng tổ tiên và cúng thần. Thờ cúng tổ tiên là thờ các dòng họ Vàng, Lù, Lò, Lý… mà không phải thờ người cụ thể. Bàn thờ được đặt gian giữa nhà, lưu giữ nguyên vẹn cấu trúc cổ xưa, cả độ tuổi của gỗ và tai ngăn kéo làm từ đồng. Ngoài thờ tổ tiên, người Giáy thờ thiên thần (chứ không thờ không thờ nhân thần), trong đó có hai loại thần là “ Thú tỷ” - thổ địa, “Srú pướng” và “Đong xía” - Thần rừng.

Trong một năm, ở Tả Van Giáy có nhiều lễ Tết như: Tết tháng Giêng “Đươn xiêng”; Tết tháng 7; Tết mồng 3/3, 4/4; Rằm tháng 5; Rằm tháng 8; Tháng 9 ăn cơm mới; Tháng 10 làm bánh dày kết thúc mùa vụ; Tháng 11 đón Tết Đông chí và đặc biệt nhất là Lễ hội Xuống đồng “Roóng poọc” tổ chức vào ngày Thìn tháng Giêng.

Trong tháng Tết, từ mồng 10 tháng Giêng trở đi chính quyền bàn với người già về ngày xuống đồng, sau khi thống nhất ngày, người ta cử một người già đứng ra chủ trì, rồi họp dân đóng góp để mua một con lợn, 1 đôi gà, 5 cân gạo nếp, 5 lít rượu, 1 cân cá tươi, 5 quả trứng, hương vàng… làm đồ cúng tế, trả thù lao cho thầy mo. Mức đóng góp chia đều cho các hộ gia đình. Tại một cánh đồng trước làng, người ta đặt bàn thờ cúng thần làng chung, còn lại các gia đình đều có mâm cúng riêng. Mâm cúng của gia đình chủ yếu là bánh trái, thịt gà hay cá, trứng. Người ta đặt cột nêu có vòng nhật nguyệt với hình âm dương. Khi xong lễ các cụ bà ném còn tượng trưng, sau đó là người đi lễ hội ném còn sao cho thủng vào vòng nguyệt, tiếp là hạ nêu, trao thưởng người ném chúng, kéo co là kết thúc lễ hội.

Văn nghệ dân gian ở làng Tả Van Giáy rất phong phú và đa dạng gồm nhiều truyện cổ tích; Câu đố và tục ngữ có nhiều bài về đố vui, đố cây cỏ, vật dụng trong gia đình, các hiện tượng thiên nhiên… hay những câu tục ngữ để răn dạy con trẻ, đối đáp trao đổi những việc hệ trọng và cũng là tiêu chí ứng xử trong xã hội…
Ngoài ra còn hơn 10 bài dân ca đám cưới, trên 300 bài hát giao duyên và 15 bài trong tiệc rượu…

Trong bữa ăn hàng ngày của người Giáy thường có món xào và món canh. Khi có khách thì thêm món luộc, rán.

Ngày lễ Tết có thịt quay, thịt nướng, chả và không thể thiếu món Khẩu nhục. Đồ uống của người Giáy trong lễ Tết chỉ có rượu; nước uống hàng ngày có nước cơm, nước chè, rau hoặc nước đun sôi có khi cả nước lã. Đến tả Van Giáy, du khách sẽ được thưởng thức những món ăn đặc sản của đồng bào dân tộc do chính tay họ chế biến như: cá suối nướng Mường Hum, thắng cố thịt ngựa Mường Khương, thịt lợn cắp nách Bắc Hà, xôi nếp ngũ sắc Văn Bàn... được hòa mình trong không khí lễ hội, các trò chơi dân gian của người Giáy như lễ Nào Cống, Roóng Poọc (xuống đồng), ném còn, đánh yến... và cùng tham gia các tour du lịch bản làng.

Trang phục và trang sức người Giáy khá đơn giản. Nam mặc quần lá tọa màu đen hoặc trắng, áo ngắn màu đen là chủ yếu, có màu trắng nhưng không có màu khác, cài khuy lệch sang trái, đầu đội khăn vải bông nhuộm nước chàm không thấm tạo thành những chấm trắng như sao với các hình vuông, chữ nhật, tam giác, quả chám, hình cây, lá… Nữ cũng mặc quần như nam giới, nhưng là vải đen, mềm như vải láng, lụa, sa tanh. Tuy nhiên cạp quần nữ có thể dùng vải màu, như màu đỏ và khâu luồn dây thắt, còn nam chỉ vắt chéo và dùng thắt lưng, áo nữ màu đen, đủ các loại màu nhưng lại không có màu trắng, cài khuy vải hoặc khuy bạc ở nách bên phải. Cổ đứng 3 cm, ở vạt cài khuy, viền tay áo có chắp vải khác nhau. Trang phục của phụ nữ còn có thêm nắm sợi len màu đỏ độn tóc (bằng sợi bông tự nhuộm).

Hiện nay, ở Tả Van Giáy có 24 gia đình được ngành an ninh và du lịch tỉnh Lào Cai cấp giấy phép được đón khách du lịch khi họ muốn dừng chân hay nghỉ qua đêm. Du khách tới Tả Van Giáy phần lớn từ châu Âu như Thuỵ Điển, Pháp, Na Uy hay từ châu Mỹ, châu Úc và nhiều nước ở châu Á.

Du lịch, GO! - Theo Báo Thái Nguyên, internet

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống