Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Monday, 29 August 2011

Bình Liêu là huyện miền núi ở cực bắc tỉnh Quảng Ninh, phía bắc giáp với Sùng Tả và Phòng Thành Cảng, Quảng Tây, Trung Quốc, phía tây giáp với tỉnh Lạng Sơn, phía Đông giáp huyện Hải Hà, phía Nam giáp huyện Tiên Yên và huyện Đầm Hà.

Huyện lỵ, trung tâm Chính trị và hành chính: thị trấn Bình Liêu gồm Thị trấn Hoành Mô (Cửa khẩu Hoành Mô), Húc Động, Đồng Tâm, Tình Húc, Vô Ngại, Lục Hồn,Đồng Văn với 5 dân tộc anh em cùng chung sống chủ yếu là Tày, Dao, Sán chỉ, Kinh, Hoa.

Đến với Bình Liêu sẽ không có sự choáng ngợp bởi những cao nguyên đá hùng vĩ như Hà Giang. Sẽ không có sự sững sờ với những thửa bậc thang trải dài lên cao tít tắp như Sapa...

Đến với Bình Liêu chỉ có những lắng đọng êm đềm, sâu lắng của miền biên viễn với những xanh của núi rừng ngào ngạt hương hồi, hương quế; với những rì rào của suối, với những sắc màu thổ cẩm sặc sỡ trong buổi chợ phiên, với cuộc sống đậm chất nhân văn và giàu tình người...

Xin mượn lời tâm tình của một khách bộ hành khi đến Bình Liêu:
"Trong khói lam chiều đến Bình Liêu
Ngỡ ngàng anh hỏi, phải em yêu?
Miên man câu hát người thôn nữ
Cảnh đẹp này có được bao nhiêu?
< Riêng ở huyện Bình Liêu, cùng với dân tộc Tày và dân tộc Sán chỉ thì dân tộc Dao là 1 trong 3 dân tộc thiểu số (của Việt Nam) nhưng lại là đa số ở Bình Liêu.
< Tập quán sản xuất: ngày xưa họ làm nương, rẫy và du canh, du cư, săn bắn thú trên rừng và hái lượm, bây giờ cùng với sự quan tâm của Nhà nước họ đã biết trồng lúa (ảnh được mùa).
< Bình Liêu cũng có màu xanh đặc trưng của vùng núi, không mênh mông như đồng bằng, không trải dài tít tắp những thửa ruộng bậc thang như Tây Bắc, nhưng ở đây cũng là... ruộng bậc thang thôi!

Đúng là càng đi càng thấy mảnh đất hình chữ S có quá nhiều nơi để khám phá. Tuyệt thật! Những ruộng bậc thang, khung cảnh thiên nhiên hữu tình quá! Phải cố gắng làm chuyến ra miền Bắc tham quan thôi!

Du lịch, GO! - Theo Blog Yume
Đâu đó vẫn vang xa lời bài hát “Ai vô xứ Nghệ” với những ca từ mộc mạc mà sâu lắng lòng người:
“Ai ơi cà xứ Nghệ càng mặn lại càng giòn,
Bát chè xanh xứ Nghệ càng uống lại càng ngon…
Tình xứ Nghệ không lâu nhưng bén rồi càng sâu lắng,
Quen xứ Nghệ quen lâu càng tình sâu nghĩa nặng...”

Chắc hẳn cũng đều muốn được một lần trong đời ghé thăm nơi miền Trung nắng gió mà thẫm đẫm tình người, tình quê xứ Nghệ. Được thử một lần ăn món cà muối, uống bát nước chè xanh của xứ ấy ra sao.

Chè đâm - Nét độc đáo xứ Quỳ

Từ thành phố Vinh (Nghệ An) đi ngược theo đường 48 sẽ đưa bạn đến với huyện miền núi Quỳ Hợp. Nơi địa đầu phía Tây Bắc xứ Nghệ. Mảnh đất giàu truyền thống lịch sử cách mạng và văn hoá.

Quỳ Hợp nơi có sông Dinh, hồ Thung Mây thơ mộng, có hang Thẩm Ồm -Thẩm Poòng, có thác Bản Bìa quanh năm nước chảy trắng xoá, có truyền thuyết về Khủn Tinh huyền thoại, có bãi tập luyện binh của nghĩa quân Lê Lợi năm xưa. Nơi đây núi đồi trùng điệp, ruộng đồng nương bãi mênh mông, bốn mùa lúa, ngô, khoai, sắn, mía, chè… tốt tươi xanh lá.

Với những ai đã từng đến thăm Quỳ Hợp có lẽ đều không thể bỏ qua bát nước chè đâm. Nước chè đâm ở đây có thể nói là ngon không chê vào đâu được, uống một lần rồi nhớ mãi không quên, chè đâm ngon bởi không chỉ qua bát nước chè chứa đựng những tinh tuý của hương vị chè xứ Nghệ mà còn ẩn sâu trong đó là cả ân tình người xứ Nghệ. Nhưng để có được một bát nước chè đâm xanh ngon như vậy quả là không đơn giản chút nào. Đó là cả một quá trình phức tạp trải qua nhiều khâu nhiều công đoạn, từ cách chọn chè đến cách đâm chè rồi pha chế.

Chè đâm - Nét độc đáo xứ Quỳ Hợp - Nghệ An

Trước hết người ta phải chọn thứ lá chè xanh mơn mởn và dày, chè không quá già mà cũng không được quá non. Nếu già quá thì nước chè sẽ bầm đen trông không ngon. Hoặc chè non quá thì nước sẽ đắng và chát. Nước nấu pha chè đâm phải là thứ nước ngòn ngọt. Thường là nước mưa, hay nước giếng đá sỏi thì nước mới ngọt lúc pha chế với nước cốt chè đâm mới dậy được mùi chè.

Nhặt chè đòi hỏi phải đúng kĩ thuật, khi sơ chế không để nguyên lá chè mà phải tỉa nhặt những lá vàng, lá sâu. Ngắt chè thành từng đoạn nhỏ và ngắn, mỗi đoạn chè phải có cả lá và cành lúc đâm chè mới không bị nát, và khi ta chắt lấy nước cốt của chè để pha thì nước mới giữ được màu xanh của lá và mùi thơm đặc trưng, hương vị riêng của chè đâm.

Có người đã cho rằng “đâm chè là cả một nghệ thuật và người đâm chè, pha chế chè đâm là một người nghệ sĩ". Quả là không sai nếu bạn được chứng kiến tận mắt các công đoạn đâm chè và cách pha chế “đặc biệt” của chè đâm. Thoáng nghĩ thì thật là đơn giản, chỉ cần cho chè vào cối và cứ thế mà dùng chày đâm cho đến lúc nào thấy chè nát ra rồi đổ nước nóng vào chắt lấy nước chè, đổ ra uống thế là xong. Nhưng không phải như vậy. Nếu làm theo cách này sẽ có nhiều trường hợp xảy ra, đơn thuần như nước chè sẽ thật chát hoặc sẽ bị bầm đen làm mất đi hương vị thơm ngon vốn có của nó.

Thật may mắn cho tôi trong một lần đi khảo sát cùng Hiệp hội những người chơi cây cảnh - non bộ huyện Quỳ Hợp đến thăm nhà anh Vi Văn Ngọ, là người dân tộc Thái, hiện đang cư trú tại khối 19 thị trấn Quỳ Hợp, tôi mới được mở mang kiến thức và hiểu được thêm phần nào “công phu” của cái thứ nước uống gọi là “chè đâm” chốn Phủ Quỳ này.

Theo lời giới thiệu của một người trong nhóm tên Chung, tôi còn được biết ngoài thú chơi cây cảnh (nghệ thuật bonsai) anh Ngọ còn là một nghệ nhân đặc biệt đam mê “món chè đâm”. Khi được hỏi về nguồn gốc xuất xứ của chè đâm vùng quê này anh cho biết:

"Theo tiếng Thái thì “chè đâm” được gọi là “che tắm”. Và nó có từ lâu lắm rồi! Thời ông nội mình sinh ra đã có nó, theo lời kể của bố  mình là một già làng của một bản người Thái ở xã Châu Đình kể lại thì chè đâm xuất phát từ dân tộc Thái bản địa nơi đây. Xưa kia người Thái có cuộc sống du mục không định cư cố định ở vùng nào, họ sống bên những sườn đồi với cuộc sống săn bắt và hái lượm nên rất gần gũi với thiên nhiên. Ban đầu họ vào rừng bóc những vỏ cây và hái lá rừng về giã đun uống. Theo thời gian trôi qua khi cây chè xuất hiện và du nhập vào trong đời sống của họ, theo bản năng họ cũng đem chè vào giã và đun uống, dần dần nó đã trở thành một thứ đồ uống quen thuộc và không thể thiếu của người dân vùng đất này”.

Sau khi kể cho chúng tôi nghe sự tích ly kì và hấp dẫn về nguồn gốc của chè đâm miền sơn cước này, anh vội xin phép vào gian bếp trong nhà lấy ra một bó chè tươi. Như một lão làng đầy kinh nghiệm trong việc chế biến chè đâm, tay nhanh thoăn thoắt anh ngắt từng đoạn chè xanh rồi cẩn thẩn rửa sạch, vẩy ráo nước và nhét chúng vào một cái cối nhỏ hình trụ làm bằng thân cây cau, đế cối làm bằng gỗ lim, cối có chiều cao khoảng 30cm cùng chiếc chày anh cầm trên tay dài khoảng 70cm làm bằng gỗ Sến, một loại gỗ cứng và bền để khi đâm chè nhiều lần mà không bị cùn đầu đâm. Tiếp chuyện chúng tôi bên bộ bàn ghế làm bằng gốc cây do anh tự chế tác rất đẹp và sang trọng anh vừa cười nói, vừa đâm chè: “Hôm nay em sẽ thiết đãi các bác món chè đâm đặc biệt của Quỳ Hợp quê mình”.

Qua những tiếng lốp bốp phát ra từ chiếc cối anh đâm, tôi tò mò chạy lại ngồi bên cạnh anh và hỏi về kĩ thuật đâm chè, anh vui vẻ tâm sự: "Thuở nhỏ mình học cách đâm chè từ bố mình! Có rất nhiều cách đâm chè và nhiều dụng cụ dùng để đâm, nhưng chủ yếu người ta dùng chày và cối, đối với người dân tộc Thái họ có thể đâm chè bằng cối đá hoặc cũng có thể dùng dụng cụ mà họ vẫn thường giã gạo gọi là “loòng” sau khi đã rủa sạch để đâm. Đâm chè phải đâm đều tay và không được để chè nát quá nếu nát quá sẽ gây chát, đắng hoặc nhiều cặn chè, còn nếu đâm không đều tay, chỉ nát một nửa số chè trong cối, chè đâm sẽ bị loãng và không ngon”.

Nghệ thuật pha chè đặc biệt “ba sôi hai lạnh”

Sau 5 đến 7 phút đâm nhuyễn chè anh Ngọ vội lấy một ca nước đun sôi để nguội đổ đầy vào một nửa chiếc cối vừa đâm xong. Lắc nhẹ chiếc cối vài cái, anh lấy chiếc chày trên tay khuấy đều và dùng một cái nắp đậy vừa miệng cối, nhìn miệng nắp có nhiều lỗ nhỏ chi chít như mặt trên của một cái nia. Anh từ từ dốc ngược lên để chắt lấy nước cốt của chè vào một cái ấm tích nhỏ. Chỉ tay vào cái ấm tích nhỏ vừa đặt lên bàn, miệng nở nụ cười tươi anh nói tếu nửa thật nửa đùa: “Tinh tuý của cả một bó chè giờ chứa không đầy một cái ấm tích nhỏ này đó các bác ạ, để em pha chế mời các bác dùng thử!”

Rót đều mỗi tách một phần ba thứ nước cốt chè đậm đặc ấy, anh lại lấy nước nóng trong phích rót thêm vào hai phần ba tách chè còn lại sao cho nước trong tách chè gần đầy miệng mới thôi. Thấy vẻ mặt của tôi có gì đó đăm chiêu khó hiểu anh vội giải thích thêm: “Đó là công thức pha chế nước chè đâm “ba sôi hai lạnh” mà người dân nơi đây vẫn thường dùng, với công thức này đầu tiên cần chú ý đến nước sôi để nguội cho vào trong cối lúc đâm xong để hãm cho chè khỏi bị đỏ, chát và đắng, nước đó được gọi là nước cốt (nước cái).

Nước thứ hai dùng để pha chế thêm vào là  nước nóng vừa mới đun sôi để làm chín chè và làm dậy mùi hương của chè, nước này gọi là nước pha. Tuỳ vào lượng chè khi đâm mà người ta có cách hãm chè và pha chế thích hợp. Trong công thức “ba sôi hai lạnh” ta dùng 2phần nước nguội để hãm chè và 3 phần nước nóng để pha chế. Nước chè ngon phải đạt được những yếu tố cơ bản sau: Nước chè đâm phải không mang 1 vị riêng biệt nào, không đắng, không chát, và cũng không được quá loãng. Nhìn bát nước chè đâm ngon  phải xanh, ít cặn, lúc uống ban đầu ta có cảm giác hơi chát xen lẫn vị đắng và sau cùng thấy ngọt ở đầu lưỡi”.

Chè đâm mà ăn cùng với cu - đơ thì ngon không gì sánh bằng. Nghệ thuật uống chè đâm là phải ngồi nhâm nhi từng ngụm, thả hồn vào tách trà rồi thư giãn và cảm nhận như cách uống trà đạo của người Nhật Bản thì mới thấy được hương vị đặc trưng riêng của chè đâm.

Một điều rất quan trọng không kém phần để tạo nên nét đắc sắc riêng cho chè đâm Quỳ Hợp đó là bát dùng để uống chè đâm phải là bát làm bằng sứ hoặc tách làm bằng sứ thì uống chè mới ngon. Người dân bản địa nơi đây vẫn thường dùng bát sứ Hải Dương để uống, đó là một loại bát nhỏ làm bằng sứ có kích thước nhỏ hơn bát ăn cơm 1/2 lần, đường kính khoảng 8 - 10cm, mặt ngoài của bát được trang trí bằng hoa văn rất đẹp, nhưng cũng có loại không trang trí gì.

Khi uống chè đâm phải đông người mới vui, vừa uống vừa nói chuyện thì thật là lý tưởng. Như một truyền thống sẵn có, người Quỳ Hợp thường gọi mời nhau uống nước chè đâm mỗi khi nhà nào đó đâm được một ấm chè mới. Điều đặc biệt là chủ nhà không đến từng nhà để mời khách mà đứng ngay trước sân gọi to lên để mời nhau đến uống. Những vị khách được mời thường là hàng xóm láng giềng gần nhà hoặc cũng có thể là khách vãng lai.

Với những người nghiện chè đâm có thể sáng sớm chưa ăn gì, không chỉ uống 2-3 bát cho tỉnh người rồi đi làm việc. Có Người bị đau lưng, mỏi gối vì lao động mệt nhọc, họ pha thêm mật mía hoặc đường trắng với chè đâm uống vào thấy khoẻ người ngay. Uống nước chè đâm có lợi rất nhiều cho sức khoẻ, nó giúp hệ  tiêu hoá làm việc tốt hơn, đem lại sự tỉnh táo cho con người sau những giờ làm việc căng thẳng, mặt khác uống nước chè đâm một cách thường xuyên còn giúp tăng cường ngăn ngừa sâu răng và nhiệt miệng…

Cảm ơn ai đó đã dành cho xứ nghệ câu ca dao tuyệt đẹp và chan chứa những ân tình mà bất kì người con xứ Nghệ nào cũng khắc ghi trong sâu thẳm trái tim mình:

“Đường vô xứ Nghệ quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ”

Nhưng xứ Nghệ đẹp không chỉ có non xanh nước biếc, mà xứ Nghệ đẹp và thơ mộng vì còn có những phong tục tập quán lâu đời. Nó làm thành bản sắc văn hoá mang nét đặc trưng riêng của vùng. Trong những bản sắc văn hoá ấy là phong tục uống nước chè xanh.

Du lịch, GO! - Theo Ngọc Thu - VietDaily, internet
Mình đi chuyến này vô tình trùng khớp với Lễ Vu Lan, rằm tháng 7 nên các chùa có lượng khách đông. Ngay từ hồi quẩn quanh ở Chùa Di Đà đã thấy nhiều bạn trẻ đèo nhau trên những xe gắn máy chạy ra chạy vào, vừa người địa phương, vừa có thể là khách du lịch. Ở tu viện này còn đông hơn gấp nhiều lần.

Tại Lâm Đồng: Ngoài Thiền viện Trúc Lâm ở Đà Lạt thì vùng này còn có một tu viện đẹp không kém đó là Tu viện Bát Nhã ở thôn 10 - xã Damb'ri thuộc thị xã Bảo Lộc.
Tu viện Bát Nhã là một công trình kiến trúc độc đáo kết hợp với không gian thiên nhiên đẹp. Đây cũng là một trong những điểm tham quan của du lịch Đà Lạt kề cận cụm thác Damb'ri và Dasara.
"Tu viện Bát Nhã tọa lạc trên ngọn đồi có diện tích hơn 18 ha, cách thị xã Bảo Lộc khoảng 15km, cách thác Damb'ri khoảng 2km. Tu viện xây dựng năm 1992 do thượng tọa Thích Đức Nghi (niên trưởng của Tổ đình An Lạc - Bảo Lộc) khai sơn, đến năm 1998 thì hoàn thành...

... Nằm giữa không gian mênh mông, bạt ngàn đồi chè xanh thẳm, tu viện Bát Nhã thoát hiện với gam mầu đỏ tươi với mái ngói cong vút nổi bật trên nền trời cao nguyên lộng gió. Ngắm nhìn tu viện từ xa, du khách có thể cảm nhận có một chút gì đó rất nhẹ nhàng, thanh bình đang len nhẹ vào tâm hồn. Sự nhẹ nhàng ấy được mang lại từ những chi tiết rất nhỏ của kiến trúc tu viện: Điểm đầu tiên là hàng rào bao quanh mặt trước tu viện.
Hàng rào không xây bằng gạch mà được xếp bằng những tảng đá bôxít có gam mầu đỏ giống như mầu của đất đỏ bazan. Trên hàng rào cỏ mọc xanh như lụa, làm dịu đi sự thô cứng của đá. Bước vào cổng Tam Quan, du khách phải đi qua hơn một trăm bậc thang để vào sân tu viện.

Trước sân tu viện là bốn trụ cột xây cao vút giữa mênh mông mây trắng. Bên trái sân tu viện là một hồ nước rộng có hòn giả sơn rất đẹp. Chính giữa hồ nước là tượng Quan Thế Âm cao 3,5m được đúc bằng xi-măng. Bên hông trái sân tu viện là vườn Lâm Tỳ Ni (nơi Đức Phật Đản sinh); khu vườn được trang trí, phối cảnh rất công phu tỉ mỉ, kết hợp hài hòa giữa cảnh sắc thiên nhiên và nghệ thuật kiến trúc. Chánh điện dài 70m, rộng 45m; bên trong tôn trí tượng Phật Thích Ca cao 2,8m. Toàn bộ bàn thờ và cửa ra vào chánh điện làm bằng gỗ hương, được chạm khắc rất tinh vi.

Tu viện Bát Nhã có 25 lớp học tình thương với hơn 1.000 cháu là con em của bà con nông dân nghèo. Các lớp có tên Sen Hồng, Sen Trắng được mở tại Bảo Lộc, Bảo Lâm và cả trong những buôn làng xa xôi thuộc tỉnh Lâm Đồng.

Còn tại tu viện: phòng khám Tuệ Tĩnh Đường, khám và chữa bệnh từ thiện đã đi vào hoạt động được ba năm (Theo Thoduongdl)".
< Nhà ăn.

Gởi xe vào bãi thì chỉ hơn 11h đôi chút, bọn này tham quan một vòng tu viện chụp ít tấm ảnh rồi ghé vào trai đàn, nơi khách thập phương dùng bữa. Lần đầu ăn cơm chùa nên ngại ngần đôi chút, thật ra cứ ngồi xuống bàn - bao giờ đủ lượng khách cho một mâm (nói nôm na là "đủ tụ") thì những người phục vụ công quả của chùa sẽ mang chén bát, thức ăn ra thôi.
Hình như giờ này so với những người khác là đã khá trễ nên người ta nhẹ nhàng nói cho biết là không còn bún, xin khách dùng cơm và mì... chung quy là bao sòng cuối: còn chi ăn đó, cảm thông vậy.

< Xong bữa thì rửa mặt, rửa tay rồi bà xã ghé vào đây: Ăn nhờ cửa Phật, cúng dường chốn tiên.

Nói là còn gì ăn đó nhưng các món ăn ngon lắm dù chỉ là đồ chay, ăn vừa lạ miệng vừa no lòng.
Bắt chuyện với anh chị ngồi cùng bàn khá rôm rả, hồi sau ra sân lại gặp thêm lần nữa xem như duyên kỳ ngộ. Từ chuyện này mới nẩy ra vụ ghé thăm chùa Phước Huệ, lớn nhất tại Bảo Lộc.

< Rời tu viện Bát Nhã xuôi về Bảo Lộc.
< Anh tên Tỉnh, chị là Thanh... đang chạy phía trước dẫn đường do bọn mình không thể từ chối lời mời.
Xứ cao nguyên có khác: bạn trông trời nắng đẹp vậy chứ thay đổi nhanh lắm. Lúc ở tu viện, chị Thanh đã nói: đi nhanh kẻo mắc mưa.
< Thả dốc rồi lại lên đỉnh đồi...
< Rồi lại dốc...
Nhìn phía trước không thấy nhưng nếu bọn này "đào tẩu" là anh chị ấy sẽ trở ngược lại tìm ngay - hi hi...
< Xem ra khung cảnh Bảo Lộc cũng không thua kém gì Đà Lạt nhỉ.
< Mưa nặng hạt rồi, anh Tỉnh đón và gọi vào đây trú mưa: nhà một người quen của anh chị ấy.
Cơn mưa kéo dài cả giờ, khách lẫn chủ đốt thời gian qua nhiều câu chuyện rôm rả.
Vừa tạm dứt hạt thì gặp ngoài kia một đoàn mô tô hơn trăm chiếc chạy về Bảo Lộc - chiếc nào cũng có cờ đỏ nhỏ, cắm phía trước: Một chuyến diễu hành hay một phen lượt phượt của một hội xe máy nào đó?
Ngớt cơn mưa, anh chị ấy cùng bọn mình lại lên đường.
Thủ phủ Bảo Lộc giữa trưa nhưng mát lạnh với mặt đường loang loáng nước. Quẹo vài ngã rẽ thì đến đường Trần Phú, ngôi chùa lớn nhất thành phố ở đây, bên cạnh là nhà thờ Bảo Lộc.
Chánh điện của chùa Phước Huệ đây: trang nghiêm nhưng ấm nồng dù bên ngoài vẫn còn mưa lất phất.

Anh chân thành mời về nhà chơi, tiện thể ở lại đến sáng mai về.
Bọn mình cảm ơn nhưng phải từ chối vì đã đi từ sớm đến giờ (Mai về, chắc khách sạn lo cuống, he he...)

< Và theo như lời hứa của mình lúc đó, xin được đưa ảnh anh Tỉnh, chị Thanh lên đây - gọi là chút kỷ niệm gởi bạn phương xa.
< Rời chùa - ảnh là một góc của thành phố Bảo Lộc.

Đưa bọn mình ra QL20, thêm một đoạn dài đến tận ngã rẽ nhà: anh chị vẫy tay từ giã. Trái đất tròn, sau này có dịp thì bọn mình sẽ ghé nhà đó nhé.
< Ghé trạm xăng trên QL20 làm một bình cho hả giận: 6 lít, sướng cái sự đời, cho hả cơn "thiếu đói" của xế Win từ xế trưa đến giờ!

Chỉ cách 180km ngay trên đường đến Đà Lạt, Bảo Lộc là đô thị cao nguyên gần Sài Gòn nhất. Ngày xưa chốn này là xứ B'Lao nhưng bây giờ: B'Lao chỉ là tên của một phường trong thị xã, cũng là danh từ bất tử của một thương hiệu trà tuyệt ngon.


< Chạy ngang chợ Đại Lào.

Hai chữ Bảo Lộc mới xuất hiện từ năm 1958, khi tỉnh Lâm Đồng thay tên Đồng Nai Thượng. Lúc đó Lâm Đồng chỉ có hai huyện là Di Linh và Bảo Lộc. Trung tâm Bảo Lộc được chọn làm tỉnh lỵ. Địa giới của huyện kéo dài đến dưới chân đèo Chuối, bọc theo thượng nguồn sông Đồng Nai.
< Trạm thu phí.

Vùng đồi núi, sông suối và trảng cỏ chập chùng này nay chia ra đến 5 đơn vị hành chính. Thị xã Bảo Lộc và huyện Bảo Lâm bao quanh nằm trên cao độ 800 - 900m có cái lạnh dễ chịu, còn ba huyện Đạ Huoai, Đạ Tẻh và Cát Tiên ở phía dưới chân đèo chỉ cao chừng 200 - 300m nên nắng mưa không khác miền Đông, ban đêm se lạnh, ban ngày oi bức...

< Chuẩn bị vào đèo Bảo Lộc.
Vô tình lại gặp cố tri: mấy chú bò...
< Vào đèo rồi: tít xa vẫn phủ sương mù quẩn quanh.
Đèo Bảo Lộc dài khoảng 10km nằm trên QL20, là cung đường chính từ Đà Lạt dẫn về phía Nam. Đèo có hai chổ tạm dừng có bãi đâu là chỗ Đức mẹ Maria và chùa Phật Bà Quan Âm - Miếu Ba Cô.
Dù đèo được nâng cấp sửa chữa nhiều lần nhưng nơi đây vẫn thường xẩy ra nhiều tai nạn nên rất nhiều am thờ nhỏ ven đèo.
Đỉnh đèo Bảo Lộc có đài kỷ niệm đèo Blao, nơi đã diễn ra những chiến công chống ngoại xâm của quân và dân trong thời kỳ 1945 - 1975.
< Đi được hơn nũa đoạn đèo thì đến miếu Ba Cô.

Miếu Ba Cô là một thắng cảnh tâm linh đẹp mang mang hơi hướm huyền bí với câu chuyện về tích Ba Cô tại đây:

Người ta kể rằng trước đây có ba chị em là Loan - Hòa - Thảo là người dân Bảo Lộc, đều là sinh viên đang học tại Sài Gòn. Mùa hè đến, khi ba cô trên chuyến xe về quê, chạy tới khúc cua này do tài xế chạy nhay nên bị lật xe và lao xuống vực tử nạn.

Bẳng đi một thời gian, có một xe đò chạy tới khúc quanh này thì cũng lao xuống vực. May mắn thay trong đoàn xe ấy còn bốn người sống sót gồm một chàng thanh niên và ba cô gái.

Dù bị thương nhưng cả bốn người đều động viên nhau để cùng leo lên tới mặt đường. Do chàng trai bị thương nặng nên ba cô gái động viên giúp anh. Đến mặt đường thì chàng trai đã bất tỉnh rồi.
Khi hồi tỉnh, anh ta nhận ra mình trong bệnh viện nhưng không thấy ba cô gái kia đâu nên mới hỏi và biét rằng người đi đường chỉ thấy có một mình anh nằm ven đèo. Khi anh miêu tả nhân dạng của ba cô gái: cảnh sát nói rằng toàn bộ số người trong đoàn xe ấy đã thiệt mạng, hoàn toàn không có ai trẻ và giống như người chàng trai miêu tả và anh là người duy nhất may mắn còn sống sót. Điều đặt biệt là hình dáng chàng trai miêu tả lại rất giống với ba cô gái bị tử nạn lúc trước.

Người ta cho rằng vì chết quá trẻ và trong trắng nên oan hồn của ba cô gái lúc trước cứ vất vưỡng nơi chân đèo, khi gặp tai nạn tương tự đã hiển linh giúp đỡ chàng trai trẻ thoát chết.

Từ đó dân làng nơi đây đã lập một ngôi miếu nhỏ bên chân đèo để cầu siêu cho linh hồn của những người chết oan vì tai nạn và nhất là oan hồn của ba cô gái trẻ - cũng là chốn cầu an cho khách bộ hành có việc đi ngang qua đoạn đèo này.

Do vậy: cánh lái xe đường dài khi qua đây thường dừng lại thắp hương cầu bình yên.

Sau này do chiều rộng đèo có hạn, lưu lượng xe nhiều nên không còn chổ đậu nên họ thường bấm ba hồi còi ngắn khi chạy ngang tượng trưng cho việc xin đường và cũng như tưởng nhớ đến ba cô.
< Góc cong cuối cùng, sắp hết đèo rồi.

Vẫn bình an, xem ra không có gì quá nguy hiểm nếu lái xe cẩn thận. Mà đèo Bảo Lộc sau nhiều lần sửa chữa thì cũng tốt hơn ngày xưa nhiều, không cần quá âu lo chỉ vì thành tích "sát thủ" tích tụ nhiều chục năm.

Còn tiếp

Điền Gia Dũng

Phần 1 - Phần 2 - Phần 3 - Phần 4 - Phần 5 - Phần 6 - Phần 7 - Phần 8 - Phần 9 - Phần 10 - Phần 11 - Phần 12 - Phần 13 - Phần 14 - Phần 15 - Phần 16 - Phần 17 - Phần 18 - Phần 19 - Phần 20 - Phần 21

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống