Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Friday, 9 September 2011

Trong các tộc người ở vùng văn hoá Trung Bộ, văn hoá Cơtu nằm ở tiểu vùng văn hoá Quảng Nam, là một trong những nền văn hoá đặc trưng tiêu biểu. Giá trị văn hoá Cơtu không chỉ toả sáng những đặc trưng trong phong tục tập quán, tín ngưỡng, lễ hội...mà còn ẩn chứa trong nghệ thuật văn hoá cổ truyền. Mà đặc sắc hơn cả là trong những điệu múa.

Múa là bộ môn nghệ thuật phản ánh một hoạt động của cuôc sống qua hình thức đặc biệt của nó. Múa đã trở thành lĩnh vực văn hoá thể hiện cái nhìn thẩm mĩ của các tộc người và trở thành một trong những dấu hiệu làm nên đặc trưng văn hoá từng dân tộc, từng khu vực vô cùng độc đáo. Nếu trong nghệ thuật văn hoá Tây Bắc có múa xoè của người Thái, múa khèn của người Mông, múa sạp của người Mường... thì ở vùng văn hoá Trung bộ điệu múa “tung tung, ya yá” của người Cơtu là nổi tiếng hơn cả.

Có thể nói múa là một trong những nghệ thuật không thể thiếu được trong sinh hoạt tinh thần của người Cơtu. Người Cơtu nam hay nữ khi biết chạy, biết nhảy thì đã biết múa.

Múa của dân tộc Cơtu bao gồm hai thể loại: múa tung tung (múa nam) và múa ya yá (múa nữ). Hai điệu múa này thể hiện tinh thần tập thể, tính cộng đồng rất cao trong đời sống của người Cơ Tu ở Quảng Nam, đã trở thành nét văn hoá nổi bật của dân tộc Cơtu.

Tung tung, ya yá là hình thức múa dân tộc phản ánh cuộc sống lao động và đấu tranh sinh tồn giữa con người với thiên nhiên và phản ánh sức sống mãnh liệt của dân tộc Cơtu. Múa tung tung, ya yá vừa mang đậm bản sắc dân tộc vừa thể hiện giấc mơ của người Cơtu về cuộc sống thanh bình, ước muốn ấm no hạnh phúc, điệu múa tung tung, ya yá còn thể hiện tính nghệ thuật cao qua từng bước đi, điệu nhảy.

Trong mỗi điệu múa còn chứa đựng tâm hồn, tình cảm và cả cốt cách của người dân miền sơn cước. Tung tung, ya yá được hình thành lâu đời từ thực tế được khao khát tự do vươn tới ấm no hạnh phúc. Những điệu dân vũ này đã trở nên sống động và trường tồn trước dòng chảy của thời gian.

Múa tung tung, là điệu múa của nam giới. Tung tung là điệu múa diễn tả, tái hiện cảnh đi săn thú, là điệu múa mừng chiến thắng thể hiện tinh thần thượng võ của người Cơtu hoà nhập với điệu múa cầu mưa - ya yá của người phụ nữ.

Điệu múa tung tung không chỉ là điệu múa đơn thuần mà là cốt cách tâm tư của những chàng trai Cơtu. Vũ điệu ấy là chất men nghệ thuật làm say lòng người qua bao mùa lễ hội. Khi múa tung tung, ya yá người đàn ông đóng khố hoặc choàng tấm vải từ vai xuống lưng. Ở những lễ hiến tế thần linh người múa tay trái cầm thêm chiêng, tay phải cầm kiếm hoặc cây giáo lưỡi ngắn, động tác múa hùng dũng nhịp nhàng theo nhịp 2/4 lấy tiếng trống làm nền cho sự chuyển nhịp.

Múa ya yá là vũ điệu của nữ giới. Đó là vũ điệu uyển chuyển như cây lau trước gió, như dòng suối mượt mà uốn quanh. Khi múa đôi chân đứng thẳng khoan thai, đôi tay vươn lên khởi đầu, bàn tay đưa ngả theo hướng sau lưng như chống cả bầu trời, giống đôi sừng trâu biểu tượng "đầu trâu móng nước" một sắc thái văn hoá nhiều dân tộc tiểu số, cũng như tượng hiến tế của người Cơtu.

Ya yá được ví như là tuyệt tác, là nghệ thuât, là tâm hồn và là biểu tượng của văn hoá truyền thống Cơtu. Người ta đã dùng không biết bao nhiêu từ hoa mỹ để ca ngợi vẻ đẹp của "vũ điệu  dâng trời". Điệu múa này được bắt nguồn từ những động tác dân lễ vật từ thờ xa xưa. Động tác dâng lễ ấy theo quá trình phát triển kéo dài của lịch sử được nhân dân sáng tạo, cách điệu hoá thành nghệ thuật có trình độ thẫm mỹ cao. Người ta dâng lễ vật, đầu và thân kết hợp hài hoà cùng những bước nhảy xiên, nhảy trượt ngang, xoay lật nhún nghiêng, nhích quay lượn người... thể hiện dáng vẻ, đường nét tạo hình rất sinh động, tạo nên hình tượng nghệ thuật múa cơ thể thật mượt mà, thanh tao, cổ kính và đầy sức sống.

Theo truyền thống của dân tộc, vào những ngày lễ hội, tết, ngày vui của làng bản, những chàng trai cô gái Cơtu trong trang phục truyền thống nhún nhảy vòng quanh. Tiếng trống, tiếng chiêng nổi lên đan xen tiếng reo hò, những điệu nhảy điệu nhún trở nên cuốn hút lôi kéo người xem. Các động tác của tung tung ya yá thể hiện tinh thần thượng võ, tính cách mạnh mẽ dũng cảm, nhanh nhẹn và tài hoa của người con trai  và sự uyển chuyển tinh tế của người con gái Cơtu. Tung tung ya yá trở thành thần tố thúc đẩy lao động sản xuất phát triển. Sau những ngày lao động vất vả của đồng bào dân tôc, đêm đêm dưới ánh trăng bên bếp lửa bập bùng tiếng trống chiêng vang lên như mời gọi mọi người.

Trong không khí đêm hội, con người quên đi những mệt nhọc, cùng cười vui bớt sầu lo, trở về với tâm trạng thoả mái. Sau đêm hội trở lại với cuộc sống đời thường, con người thấy yêu lao động hơn, yêu cuộc sống hơn và hăng hái sản xuất chờ ngày hội mới. Tung tung ya yá còn là nơi con người gởi gắm tình yêu đôi lứa, yêu làng bản, yêu con nước, yêu mảnh rừng... của người Cơ Tu. Khi tham gia vào điệu múa, những nam thanh nữ tú được gần gũi tìm hiểu nhau. Tung tung ya yá như gắn bó chặt chẽ con người với con người, con người với cuộc sống thiên nhiên hơn.

Trải qua quá trình hình thành và phát triển, điệu múa tung tung ya yá tựa như một công trình nghệ thuật được gọt dũa, chắt lọc công phu, vừa cổ kính thiêng liêng lại vừa  hiện đại sống động. Trên tiết tấu nền nhạc cồng chiêng dồn dập lôi cuốn, tiếng trống rộn ràng hoà với trang phục dân tộc độc đáo. Đặc biệt, điệu múa còn thêm hấp dẫn lôi cuốn du khách làm mê lòng những ai muốn trở về với cuộc sống nơi núi rừng.

Tung tung ya yá đã trở thành một niềm tự hào của người dân Cơtu và là "đặc sản" văn hoá truyền thống, góp phần xây dựng cuộc sống lành mạnh thúc đẩy sản xuất. Hiện nay, điệu múa tung tung ya yá vẫn còn phổ biến ở nhiều lễ hội của người Cơtu và được đưa đi lưu diễn ở nhiều nơi trong và cả ngoài nước, góp phần xây dựng nền văn hoá Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc trong thời kỳ mới.

Du lịch, GO! - Theo  GD&TĐ, internet
Du khách dừng chân trước tấm bảng giới thiệu lịch sử chùa Giám. Chỉ khoảng vài chục hàng chữ nhưng chứa đựng hàng trăm năm thời gian, ghi dấu biết bao công lao to lớn của danh y Tuệ Tĩnh và công đức của những người tạo dựng chùa từ bao đời đến nay.

Từ hướng Hải Phòng qua TP Hải Dương, tới Ghẽ thì gặp con đường nhỏ bên phải đi vào… Đường đi rộng 5 mét, hai bên đồng ruộng gió xuân mơn man qua da mặt mát lạnh pha lẫn hương đất, bụi mưa xuân hờ hững trên vai áo, cảm nhận trời đất giao hòa ngày xuân mà lòng xốn xang quen quen lạ lạ. Đi chừng 4 cây số tới chùa Giám.



Ngay trước cổng Tam quan chùa có 3 chữ Hán “Quán Tự Tại”. Qua cổng tam quan là hai bên vườn cây xanh, một hồ hình chữ nhật thả hoa sung. Cách một lối đi là hồ non bộ, vườn cảnh mô phỏng thiên nhiên sơn thủy hữu tình.


< Cửu phẩm liên hoa.

Liền đó là sân tiền đường rộng lát gạch vuông màu đỏ, xung quanh là lối đi nối sang hai nhánh. Bên phải là 5 gian nhà khách thoáng mát với những cánh cửa gỗ chạm khắc hình nổi từng ô, rất kỳ công tạo thành những bức tranh ước lệ.

Du khách dừng chân trước tấm bảng giới thiệu lịch sử chùa Giám. Chỉ khoảng vài chục hàng chữ nhưng chứa đựng hàng trăm năm thời gian, ghi dấu biết bao công lao to lớn của danh y Tuệ Tĩnh và công đức của những người tạo dựng chùa từ bao đời đến nay.

Nguyên thủy của chùa Giám là Nghiêm Quang tự do sư Hải Triều trụ trì, vốn nằm trên nền đất trống phía đông huyện Cẩm Giàng. Chùa được xây dựng năm 1336 vào thời Lý, thời đó người ta dựng chùa chủ yếu bằng gỗ, chạm trổ hoa văn cầu kỳ, lợp ngói đỏ. Bởi vậy, khi ngôi chùa hình thành đã trở thành một công trình văn hóa nghệ thuật của Phật giáo thời bấy giờ và rất có giá trị về lịch sử, nghệ thuật với thời nay.

Do thời gian và ảnh hưởng của bom đạn chiến tranh nên ngôi chùa cổ đã bị xuống cấp nhiều. Tháng 4 năm 1970, chùa Giám chuyển về xã Cẩm Sơn hiện nay, cách mặt bằng cũ gần 7 cây số, được dựng lại nguyên kiến trúc cũ. Do các tượng và các vật liệu có giá trị văn hóa cần phải được bảo tồn nguyên dạng nên việc di chuyển tượng hoàn toàn bằng phương tiện thô sơ, rất công phu trong suốt ròng rã 7 tháng trời. Đến năm 1975 chùa Giám ở khu đất mới được hoàn chỉnh.

< Bàn thờ thiền sư Tuệ Tĩnh.

Trong chính điện có các tượng Phật Thích Ca và các vị Bồ tát, tượng Phật Đản Sinh, tượng Quan Âm Thị Kính và Thập Điện Diêm Vương. Trong nhà phẩm là tòa tháp Cửu phẩm Liên hoa bằng gỗ hình lục giác màu cánh sen có 9 tầng, mỗi tầng đều có 18 vị bồ tát bằng đồng ngự và 54 tầng cánh sen nổi, khắc những họa tiết sinh động. Có tất cả 145 pho tượng, duy nhất tượng Phật A Di Đà ngự tầng trên cùng, khách viếng chùa không thể chiêm ngưỡng gần mà chỉ bái vọng mà thôi.

Tòa Cửu phẩm liên hoa nặng 4 tấn, nếu đẩy sẽ xoay vòng tròn, là một tác phẩm điêu khắc nghệ thuật bằng gỗ độc đáo nhất trong kiến trúc Phật giáo Việt Nam. Riêng bức tượng đồng A Di Đà được đúc năm 1712 do Thái Phi Trương Thị Ngọc Chứ, Liễu Hạnh công chúa  Hòa diệu đại vương Đức Bà đóng góp công đức. Năm 1717, chùa đúc tượng đồng Quan Âm thánh vị 24 tay và năm 1775 xây dựng điện Thiên Đế cũng do các cung tần và một số người khác thời ấy đóng góp công đức xây dựng....

Bên ngoài chính điện là 2 dãy hành làng có 11 gian thờ 18 vị La Hán. Hậu đường có 7 gian thờ Thiền Sư Tuệ Tĩnh và thờ sư Tổ.

< Khu Tháp cổ.

Quan sát toàn cảnh kiến trúc chùa Giám, ta thấy các kiến trúc sư, các nghệ nhân đã tạo trên mặt bằng của chùa sự liên hoàn của các hạng mục tôn lên vẻ tráng lệ cổ kính, ẩn chứa nhiều tầng trí tuệ văn hóa. Ngôi nhà phẩm rộng 7,90 m2 cao trên 10m, khung nhà bằng gỗ, mái ngói vẩy cá rêu nâu đều đặn, 4 góc mái uốn cong hình đuôi rồng nổi rõ dưới nền trời vừa mềm mại vừa uy nghi. Bên trái là khu tháp Tổ màu xám trắng rêu phong, xung quanh xào xạc cây xanh bên vài cây cau cao thanh cảnh. Từ nhà Tăng đến dãy nhà khách, nhà thọ trai đều được được xây cất với một phong cách rất riêng của kiến trúc Việt Nam. Bụi lá trầu không cuốn quýt cây cau xanh ngả chùm quả như muốn níu bàn tay lá trầu. Cây hồng xiêm nặng cành, các loại hoa thơm quanh vườn toả hương bốn mùa. Bên nhà Nghè, cây đa cổ thụ xoè tán rộng.

Ngày 13/2 âm lịch hàng năm, chùa Giám tổ chức lễ hội rước tượng Tuệ Tĩnh. Ban lễ nghi lần lượt thực hiện từng phần trong lễ rước: Rước hoa và múa lân rồng, biểu diễn thể thao, rước hồng kỳ, đi sau là đội trống, đội siêu đao – chấp kích – bát bửu, rước kiệu thuốc nam, đoàn tế nam, nối bước là đoàn tế nữ, tiếp theo là đoàn cung nghinh kiệu Tuệ Tĩnh, tượng của Ngài được đặt trên đòn bát cống, có lọng che hai bên rất long trọng, cuối cùng là đoàn chư tăng, chư ni với Pháp phục và các Phật tử cùng các bô lão và những người con quê hương Hải Dương dù làm ăn ở đâu, học sinh, sinh viên, học ở các tỉnh thành khác, kiều bào các nơi đều nhớ ngày lễ hội về tham dự.

Du lịch, GO! - Theo VOV

Thursday, 8 September 2011

Bản sắc văn hóa Việt vốn thống nhất trong đa dạng với những sắc thái văn hóa các vùng miền. Là một trong 54 dân tộc anh em trên dải đất Việt Nam tươi đẹp, từ lâu người Khmer đã sáng tạo lên một bản sắc văn hóa vô cùng phong phú và đa dạng. Một trong những phong tục, đó là lễ cưới (Pi-pea,).

Theo quan niệm của ngươi Khmer thì lễ cưới phải được tổ chức vào những tháng đủ (30 ngày) thì mới được may mắn và hạnh phúc. Lễ cưới của đôi trẻ người Khmer thường được chọn theo dương lịch và diễn ra với ba nghi lễ: Lễ Sđây Đol Đâng (Lễ nói), Lễ Lơng ma ha (Lễ hỏi), Lễ Pithi A-pe-pì-pe (Lễ cưới).

Lễ Sđây Đol Đâng (Lễ nói) là lễ đầu tiên trong hệ thống các nghi lễ cưới của người Khmer. Trong lễ này, đàng trai chọn Nék Chău Ma Ha (người làm mai) đi cùng đến nhà gái làm lễ nói. Lễ vật gồm: Bánh, trái cây, trầu cau …, mỗi thứ đều là số chẵn.  Bà mối  trong lễ Sđây Đol Đâng phải là người có uy tín, ăn nói hoạt bát, hiểu biết nhiều. Đây là người đã lập gia đình, vợ chồng sống hạnh phúc, đầm ấm, cháu con đầy đủ. Bà mối đến nhà gái dạm hỏi và tìm hiểu ngày tháng năm sinh của cô gái.

< Lễ vật cưới: Bánh, trái cây, trầu cau …, mỗi thứ đều là số chẵn.

Lễ tiếp theo là lễ Lơng ma ha (Lễ hỏi), hai nhà thông báo cho thân nhân và lối xóm biết hai đàng đã chính thức là xui gia. Lễ vật nhà trai đem sang nhà gái gồm: 4 nải chuối, 4 chai rượu, 4 gói trà, 4 gói trầu, 2 đùi heo, 2 con gà, 2 con vịt và một số tiền. Trong lễ này, ngày tháng tổ chức đám cưới cũng được hai họ thống nhất. Thông thường, để làm tốt công việc này bà mối phải đến nhà gái 3 lần. Có những gia đình nhà gái yêu cầu sau khi bà mối đến thì phải có 3 ông mối đến nói chuyện với cha cô gái. Sau khi định rõ ngày lành tháng tốt, ông – bà mối cùng đàng trai đem lễ vật đến cúng tổ tiên nhà gái.

Sau khi định rõ ngày lành tháng tốt, ông – bà mối cùng đàng trai đem lễ vật đến cúng tổ tiên nhà gái. Lễ vật đặt trên các đĩa bạc hoặc trong các thạp gỗ sơn son thếp vàng. Vị a-cha đọc kinh cầu nguyện cho đôi trai gái thành vợ thành chồng cũng như đọc kinh phù hộ cho họ có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Rồi sau đó chọn người ăn nói vui vẻ đến dự lễ ăn hỏi hầu mang đến niềm vui cho hai họ, nhất là cho cô dâu chú rể. Sau lễ hỏi, chú rể tương lai được phép đến nhà cô dâu để hầu hạ cha mẹ vợ sắp cưới của mình.


< Nhà gái ra nhận lễ.

Lễ  quan trọng nhất trong hệ thống lễ cưới của người Khmer là lễ  Pithi A – pe –pì – pe (lễ cưới).  Lễ này được diễn ra tại nhà gái, dưới sự điều khiển của Acha Pô Lia (thầy cúng). Những nghi lễ chính: tiễn đưa chàng rể về nhà gái; dâng cơm cho sư; cắt tóc; lạy ông bà; rắc bông cau; nhập phòng, nghi lễ được thực hiện theo các điệu nhạc múa cổ truyền.

Lễ cưới thường được tổ chức trong 3 ngày khá phức tạp và tốn kém. Trước ngày cưới, nhà trai dựng cạnh nhà cô dâu một dãy nhà tạm bằng tre lá. Nhà có ba gian: một gian làm bếp, một gian để đãi tiệc và một gian để các chùm hoa cau. Ngày thứ nhất là ngày làm bánh (thường phải có bánh tét, bánh ít và đặc biệt không thể thiếu bánh gừng (Num kha-nhây) và bày tiệc.


< Đôi trẻ làm lễ cúng tổ tiên.

Ngày thứ hai chú rể và nhiều người khác đến ngồi trong gian nhà đặt hoa cau. Buổi trưa là lễ cắt tóc. Trong lễ có một ca sĩ vừa hát vừa múa theo điệu nhạc, đi vòng quanh cô dâu chú rể, thỉnh thoảng giơ kéo cắt một vài sợi tóc của hai người. Tục này nhằm cắt bỏ những điều xấu khỏi cuộc đời của đôi trai gái. Buổi chiều, cha mẹ cô dâu buộc chỉ vào cổ tay cô dâu chú rể, rồi buộc cả cho người thân và bạn bè. Lễ buộc chỉ xong, mọi người cùng nhau vui vẻ dự tiệc.

Sang ngày thứ ba, cô dâu mặc quần áo theo truyền thống, váy bằng lụa, thắt lưng bằng bạc hoặc mạ vàng, khăn quàng thêu kim tuyến quấn lấy thân và vắt sang vai trái. Chú rể có thể mặc quần tây áo sơ-mi. Cô dâu chú rể lạy trước bàn đặt hoa cau rồi ngồi xếp bằng trên chiếc chiếu bông. Vị a-cha thắp nhang đèn, đọc kinh và lời khấn bằng tiếng Pa-li cầu xin ơn trên ban phước lành cho đôi tân hôn. Sau đó, ông cầm thanh gươm đi với những người mang hoa cau làm lễ Mặt trời. Chú rể cầm quạt che mặt bước lên nhà trong lúc ba tiếng cồng được đánh ngân vang. Em trai hoặc em gái của cô dâu đón chú rể, gởi chăn mền và đưa cho chú rể một miếng trầu. Sau đó chú rể lì xì cho cậu em trai hoặc em gái cô dâu một số tiền nhỏ.


< Sợi chỉ hồng cột tây đôi trẻ như lời chúc phúc.

Khi vào nhà, chú rể ngồi xuống chiếu, mặt quay về hướng Đông. Trước mặt chú rể đã bày sẵn 3 dĩa hoa cau, xung quanh là các mâm bánh tét, bánh ít, bánh gừng một cái đầu heo luộc và một con gà luộc. Sau khi chú rể kính cẩn lạy mọi người trán chạm xuống chiếu, vị a-cha trao cho chú chùm hoa cau thứ nhất dành tặng cha vợ, chùm thứ hai cho mẹ vợ và chùm thứ ba cho em vợ để tỏ lòng biết ơn những người đã có công nuôi dưỡng, chăm sóc giúp đỡ vợ mình trong thời gian qua.

Lễ xong, mọi người chúc mừng đôi tân hôn được trăm năm hạnh phúc, đàn hát ca múa vui vẻ. Sau đó mới thắp đèn cầy xung quanh cô dâu chú rể. Đèn cầy được chẻ làm hai nhánh, người này cầm xong trao cho người bên trái mình. Cứ thế cho đến khi đủ 19 vòng thì tắt đèn cầy. Vị a-cha lấy hoa cau ném cho mọi người xung quanh. Và mọi người cùng ném hoa cau vào nhau để chúc mừng hạnh phúc.

Đến chiều tối, theo tiếng cồng, chú rể bám vào chiếc khăn của cô dâu (tôn xa-bay), cả hai bước vào phòng. Hai vợ chồng ngồi đối mặt nhau mà cô dâu có hai phụ dâu ngồi hai bên. Chú rể múc một muỗng cơm đút cho cô dâu. Cô dâu đáp lễ. Cũng làm ba lần như thế là tục ăn chuối. Sau đó, một người phụ dâu dùng tay cụng đầu cô dâu vào đầu chú rể, và dặn dò những điều cần thiết theo phong tục tập quán cổ truyền.

Đó là quy trình nghi lễ trong đám cưới cổ truyền của người Khmer. Tuy nhiên, hiên nay lễ cưới của người Khmer đã đơn giản hóa đi nhiều, thậm chí có gia đình còn pha thêm một ít nghi lễ cưới xin của người Hoa và người Việt vào, ở thành thị đã được đơn giản hơn và chỉ tập trung trong chỉ một ngày. Tuy nhiên lễ cưới hỏi của người Khmer Nam bộ ở nông thôn vẫn còn được lưu giữ nghiêm ngặt theo luật tục cổ truyền.

Du lịch, GO! - Theo Mimi.com

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống