Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Saturday, 10 September 2011

Canh thụt là món ăn truyền thống đặc biệt thơm ngon, bổ dưỡng và hấp dẫn của đồng bào M'nông ở Đăk Nông.

Món canh này là sự kết hợp của rất nhiều loại nguyên liệu được nuôi trồng ngay trong vườn nhà hay trên nương rẫy như rau, củ, quả, bột bắp rồi cá suối, thịt của một số loài gia súc, gia cầm.

Để nấu canh thụt, người ta phải chọn lựa ống lồ ô kỹ càng. Nếu chọn cây non sẽ không ngon vì nhựa cây sẽ hăng đắng. Nếu chọn cây quá già, lửa sẽ làm nứt cây, canh sẽ chảy ra ngoài. Khi nấu không được dựng ống thẳng đứng mà phải để nghiêng ống lồ ô trên lửa và phải quay tròn để canh chín đều.

Nguyên liệu gồm rau, măng, dọc mùng, thịt rừng hoặc cá suối, ít con mối và chú dế bầu hoặc vài con dế dũi... tất cả cho vào ống lồ ô tươi, bịt kín đầu và cho lên bếp đun chín. Khi nấu vừa chín tới, người ta thường lấy đoạn dây mây (adương) có gai mà đâm trong ống cho các "nguyên liệu" nhừ nát, hòa quyện vào nhau thành một chất dẻo. Khi đó, muối, ớt được bỏ vào, thọc đều, có thể bỏ thêm một ít rau thơm.

Người M'nông lấy đọt cây riềng rừng cho vào ống nứa nấu thụt với thịt chim, sóc ăn rất ngon. Món canh thụt ngon nhất được nấu từ các loại trái, lá rừng như cà trắng, bồ ngót, lá lót, măng rừng, đọt mây, đọt đoác... và cá suối nhưng quan trọng nhất phải có lá nhíp. Lá nhíp deo dẻo, có đủ các vị đắng, cay, ngọt, bùi, béo. Theo quan niệm của người M'nông, lá nhíp không chỉ thơm ngon, béo bổ, người mất sức, bị đau yếu ăn vào sẽ khỏe, trẻ bị còi ăn lá nhíp sẽ mau lớn...

Già làng A Hui Tăng (71 tuổi), ở buôn A Rem, xã Nhân Đạo, huyện Đăc Rlấp bật mí rằng, ngày trước, để đãi khách quý, bà con trong buôn thường làm món đúc ống lồô bằng thịt các loại cá, chim (tươi hoặc khô) nấu với bắp chuối rừng.

Tuy không giống canh mà giống gỏi nhưng là một loại gỏi ướt với mùi thơm, vị béo của thịt cá quyện trong vị chát của búp chuối rừng, cùng với mùi thơm nồng của hạt tiêu rừng, rất kích thích vị giác người ăn. Ngoài ra, da trâu phơi khô, được nướng cho thơm, rồi luộc để bỏ vào ống đâm, giã với cà tím, cũng tạo thành một loại súp vừa thơm vừa giòn.

Theo kinh nghiệm những người sành ăn, khi nấu canh thụt, họ thường bỏ vào ống lồ ô vài đọt non của cây thiên niên kiện (pvân) thì vị thơm ngon sẽ tăng lên bội phần và còn làm cơ thể khỏe mạnh. Bởi vậy, đây là món quý và công phu được đồng bào làm để đãi bạn bè, khách quý hoặc là quà tặng của những chàng rể muốn thể hiện tình cảm với bố mẹ vợ.

Du lịch, GO! - Theo Danviet, internet
Ngoài những lệ cúng chung như các địa phương có nghề biển khác, cư dân trên hòn Đỏ (thuộc tỉnh Khánh Hòa) còn có tục thờ cúng Lỗ Lường, tương tự lễ hội Nõ Nường nổi tiếng ở xã Tứ Xã, huyện Lâm Thao (Phú Thọ).

Hòn Đỏ, thuộc xã Ninh Phước, là một đảo nhỏ nằm ở phía đông bắc bán đảo Hòn Hèo, ngoài khơi thị xã Ninh Hòa, cách đất liền khoảng 10km. Theo người dân địa phương, đảo có tên như thế vì vào mỗi sáng sớm hoặc lúc chiều tà, các khối đá trên đảo thường chuyển từ màu vàng nhạt sang màu đỏ sậm.

Đây là một hòn đảo xinh đẹp với những bãi cát hoang sơ, những gành đá thiên tạo muôn màu muôn vẻ, những giếng nước ngọt tự nhiên, những ngôi miễu thờ và những câu chuyện linh thiêng, huyền bí gắn liền với nghề lưới đăng truyền thống.

< Hòn Đỏ ngoài khơi hải phận Ninh Hòa.

Phía bắc và phía đông đảo là vịnh nước sâu, có nhiều khối đá cao lớn mang nhiều hình thù, màu sắc thật kỳ vĩ. Phía nam đảo là một mũi đá rất đẹp, có tên mũi Chầm Vọng. Từ mũi Chầm Vọng đi về hướng tây khoảng 1km, du khách sẽ gặp bãi cát rộng tên là bãi Trường, nước biển trong xanh, phẳng lặng, nơi đây có miễu Hội Đồng và hai miễu nhỏ ngư dân quen gọi là miễu Cô, miễu Cậu.

Phía sau miễu có đường mòn dẫn lên vại thờ Bà Chúa Đảo trên đỉnh núi. Ở hướng đông nam đảo có bãi và gành thấp dần, là nơi đóng lưới đăng của sở đầm Hòn Đỏ (thuộc Hợp tác xã nghề cá Mỹ Giang), đầm đăng duy nhất ở Ninh Hòa.

< Đáy hang là tảng đá lớn với khe nứt ở giữa giống hình âm vật của người phụ nữ, mà ngư dân gọi trại đi một cách tôn kính là Lỗ Lường.

Trên gành, từ chỗ móc gang lưới men theo triền núi nghiêng xuống về hướng tây chừng 80m đến một hang đá nhỏ ở độ cao cách mặt biển khoảng 15m. Đáy hang là một tảng đá thật to với một kẽ nứt ở giữa. Đã bao đời nay ngư dân lưới đăng trên đảo gọi tảng đá có khe nứt nói trên một cách tôn kính là Lỗ Lường hay Khe Bà Lường, còn cái hang có tảng đá đặc biệt này gọi là hang Lỗ Lường. Ngư dân dùng sơn đỏ bôi lên khe đá và viền màu vàng xung quanh, ở đó có một bệ thờ nhỏ bên cạnh là năm thanh gỗ tròn sơn đỏ, tạc hình dương vật - ngư dân gọi trại là “bộ đồ”.

< Miễu Hội Đồng trên bãi Trường.

Cách hang Lỗ Lường không xa là miễu Bà Lường, bên trong thờ tượng bà bằng gốm sứ và cặp ngựa hồng đứng chầu hai bên. Hàng trăm năm qua, ngư dân lưới đăng sở đầm Hòn Đỏ thờ cúng Bà Lường tại miễu và hang Lỗ Lường, vì lệ xưa ông bà để lại và cũng vì lòng tin tưởng tuyệt đối vào sự linh ứng sau những buổi lễ cầu ngư.

Ngày nay, sau những dịp cúng xuân và cúng thu ở đình làng Mỹ Giang, ban tế lễ và bà con ngư dân lên thuyền ra đảo, mang theo lễ vật cúng tại miễu Bà Lường và hang Lỗ Lường. Người chủ tế ra hang Lỗ Lường van vái, khấn nguyện rồi kính cẩn dùng thanh gỗ đỏ làm động tác tượng trưng cho sự giao phối, dâng hiến để Bà Lường vui lòng, ban cho ngư dân ước nguyện “biển no”, trúng mùa nhiều cá.

< Bên cạnh bệ thờ trong hang là 5 thanh gỗ tạc hình dương vật - còn gọi là “bộ đồ” - dùng vào việc cúng lễ.

Trước đây, ngoài sở đầm trên hòn Đỏ, còn nhiều sở đầm ở tỉnh Khánh Hòa có tục thờ cúng Lỗ Lường như đầm Nghi Phong Diêu Chữ - tục gọi Bãi Dầm (huyện Vạn Ninh), hòn Một (TP Nha Trang), hòn Nhàn (TP Cam Ranh). Ngày nay chỉ còn sở đầm Hòn Đỏ duy trì lễ tục độc đáo này.

Hằng năm, từ khoảng tháng giêng âm lịch, các loài cá nổi di cư theo mùa từ vùng biển phía nam ra phía bắc, ngư dân địa phương gọi là “mùa cá lên”. Đến cuối tháng tư, cá từ vùng biển phía bắc chạy vô nam là mùa cá lại. Trong lúc di chuyển, đàn cá gặp vách núi của đảo hay bán đảo nhô ra biển nên chạy dọc theo gành đá.

< Những ngày “biển đói”, người đại diện đầm đăng đến hang Lỗ Lường van vái cầu xin Bà Lường cho trúng mùa nhiều cá.

Từ đặc điểm này mà hàng trăm năm trước, ngư dân Khánh Hòa đã phát kiến phương pháp đánh bắt độc đáo là lưới đăng có quy mô lớn, lao động nhiều, sản lượng cao - chủ yếu là các loài cá ngon như cá thu, cá bò, cá ngừ... nhưng không cần di chuyển giàn lưới mà chỉ cắm, đón lõng ở những nơi cố định chờ cá đến.

Nghề lưới đăng làm theo mùa vụ (mỗi năm chỉ một mùa 5-6 tháng), giăng lưới tại sở đầm cố định, không thể đang giữa mùa di chuyển đến nơi khác nên tính may rủi là rất lớn. Nếu lâu ngày không đạt năng suất đánh bắt, “biển đói” người cũng đói, không có tiền đóng thuế, trả công thợ bạn... vì thế ngư dân tin tưởng tuyệt đối vào sự phù hộ độ trì của các vị “thần linh biển cả”, trong đó có Bà Lường và việc thờ phụng cúng kiếng từ khi dọn nghề đến ngày mãn mùa cá là vấn đề cực kỳ hệ trọng.

Du lịch, GO! - Theo Dulich Tuoitre, ThethaoHCM
Vũng Tàu là một thành phố ven biển, một địa điểm du lịch nổi tiếng của Việt Nam. Thành phố biển này thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ở vùng Đông Nam Bộ Việt Nam.

< Biển Bãi Trước hồi năm 1967.

Vẫn là tỉnh lỵ của Bà Rịa - Vũng Tàu nhưng thời gian gần đây, tỉnh này có xu hướng di dời các cơ quan chính quyền của tỉnh về thị xã Bà Rịa và nhiều giao dịch hành chính mới được diễn ra tại đây.

Vũng Tàu giáp Bà Rịa và huyện Long Điền, nằm trên bán đảo cùng tên và có cả đảo Long Sơn, cách Thành phố Hồ Chí Minh 125 km về phía Đông Nam theo đường bộ và 80 km theo đường chim bay. Nếu nhìn theo chiều Bắc Nam, Vũng Tàu nằm ở khúc quanh đang đổi hướng từ Nam sang Tây của phần dưới chữ S (bản đồ Việt Nam) và nhô hẳn ra khỏi đất liền như một dải đất có chiều dài khoảng 14 km và chiều rộng khoảng 6 km. Đây là nơi người ta có thể ngắm nhìn biển Đông cả khi mặt trời mọc lẫn lúc hoàng hôn.

< Dinh Ông Thượng (Bạch Dinh) - La Villa du Gouverneur. Biển Vũng Tàu nhìn từ Bạch Dinh.

Vài nét tiểu sử của dinh thự này :
Được bắt đầu xây dựng vào năm 1898, Villa du Gouverneur (có gốc tích là một pháo đài thời nhà Nguyễn) được dùng là nơi nghỉ mát của Toàn quyền Đông Dương thời đó là Paul Doumer. Do vậy , dinh thự này được người dân gọi tên là Dinh Ông Thượng ....
< Bãi biển dưới chân Bạch Dinh.

Dinh thự được xây dựng kiên cố kiến trúc kiểu Pháp, bề ngoài mầu trắng sang trọng nên cũng còn được gọi là Bạch Dinh dài 28 m, cao 19 m gồm ba tầng, rộng 15 m tọa lạc trên khuôn viên rộng sáu héc-ta. Từ 1906 đến 1917, đây là nơi thực dân Pháp giam lỏng vua Thành Thái trước khi lưu đày ông sang đảo Réunion...
< Chợ Vũng Tàu xưa.
< Trại lính Pháp tại Bến Đình.

Vũng Tàu có núi Lớn (núi Tương Kỳ) cao 245 m và núi Nhỏ (núi Tao Phùng) cao 170 m. Trên núi Nhỏ có ngọn hải đăng cao 18 m, chiếu xa tới 30 hải lý.

< Nhà thờ Vũng Tàu 1954.
< Đường Trưng Nhi bên hông chợ cũ 1967.

Trước kia vùng đất này là bãi lầy, nơi thuyền buôn nước ngoài thường vào trú đậu nên gọi là Vũng Tàu. Các nhà hàng hải Bồ Đào Nha khi đi qua mũi đất này đã lấy tên Thánh Giắc đặt cho nó, do đó người Pháp gọi nơi này là Cap Saint Jacques (do mũi đất mang tên thánh Jacques), tiếng Việt là Cap Xanh Giắc.
< Bạch Dinh 1968.

Người Việt theo đó gọi là Cấp (gốc tiếng Pháp: Cap) hoặc Ô Cấp (gốc tiếng Pháp: au Cap). Hiện nay mũi đất cực đông của Vũng Tàu có tên gọi là "mũi Nghinh Phong".
< Chụp từ Thích Ca Phật Đài nhìn về hướng Bến Đình 1967.
< Đường Phan Thanh Giản nay là Lý Tự Trọng.

Vũng Tàu cũng từng có tên là Tam Thoàn hay Tam Thắng để ghi lại sự kiện thành lập ba làng đầu tiên ở đây: Thắng Nhất, Thắng Nhị, Thắng Tam. Chữ Tam Thắng là biến âm của Tam Thoàn, tức Ba Thuyền.
Theo sách Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức thì "Thuyền Úc", tục danh Vũng Tàu... phía bắc ôm cửa Tắc Khái (cửa sông Dinh), phía nam đỡ núi Thát Sơn để che cửa Cần Giờ.

< Đường Trần Hưng Đạo ngày xưa.

Mặt vụng trông về hướng tây, rộng lớn mông mênh để thu nạp các dòng nước sông đầm chảy về biển mà làm nơi êm đềm cho thuyền bè ẩn đậu."
< Sân vận động Lam Sơn 1970.

Vũng Tàu từng thuộc trấn, sau là tỉnh Biên Hòa thời nhà Nguyễn. Thời vua Gia Long (1761-1820), khi nạn hải tặc Mã Lai hoành hành tại vùng biển này là mối đe dọa cho các thương nhân vùng Gia Định, vua đã gửi ba đội quân đến dẹp loạn và cho phép ba tướng cầm đầu cùng quân lính ở lại mở đất.
< Bãi Trước Vũng Tàu.

Theo sắc của vua Minh Mạng năm 1822, chính 3 ông đội Phạm Văn Dinh, Lê Văn Lộc, Ngô Văn Huyền thuộc ba đội binh (Tam Thoàn) đã thành lập ba làng đầu tiên: Thắng Nhất, Thắng Nhị, Thắng Tam.
< Hàng quán ở bãi Trước.
< Bãi trước Vũng Tàu những năm 1966-1967.

Ngày 10 tháng 2 năm 1859 tức mồng 8 Tết Kỷ Mùi, quan quân nhà Nguyễn đã khai hỏa lần đầu tiên những khẩu súng thần công đặt ở pháo đài Phước Thắng, cao 30 m và cách bờ biển Bãi Trước gần 100 m, bắn vào đoàn chiến thuyền của liên quân Pháp-Tây Ban Nha do tướng Rigault de Genouilly chỉ huy trên đường vào xâm lược Nam Kỳ, mở đầu cuộc kháng chiến chống quân Pháp ở Nam Kỳ. Trong trận này Thống chế Trần Đồng, Tổng chỉ huy lực lượng thủy lục quân nhà Nguyễn đã hy sinh.

Năm 1876 Vũng Tàu thuộc tiểu khu Bà Rịa, nằm trong khu vực (circonscription) Sài Gòn, theo nghị định phân chia hành chính của thực dân Pháp.
Ngày 1 tháng 5 năm 1895 Thống đốc Nam Kỳ ra nghị định tách thị xã Cap Saint Jacques ra khỏi tiểu khu Bà Rịa để lập thành phố tự trị (commune autonome) Cap Saint Jacques.
Đến ngày 20 tháng 1 năm 1898, Cap Saint Jacques hợp nhất trở lại với tiểu khu Bà Rịa thành khu Cap Saint Jacques cho đến năm 1899 lại tách ra thành hai đơn vị hành chính độc lập. Ngày 14 tháng 1 năm 1899 khu Cap Saint Jacques thành lập tổng Vũng Tàu gồm 7 xã.
< Hòn Bà Vũng Tàu.
< Xe thổ mộ ở Vũng Tàu.
< Bạch Dinh.
Năm 1901, dân số Vũng Tàu là 5.690 người, trong đó có gần 2.000 người di cư từ miền Bắc vào, sống chủ yếu bằng nghề đánh bắt thủy hải sản.
Ngày 1 tháng 4 năm 1905 theo nghị định của Toàn quyền Đông Dương, Cap Saint Jacques không còn là thành phố tự trị và trở thành đại lý hành chính thuộc tỉnh Bà Rịa.

Năm 1929 Cap Saint Jacques trở thành tỉnh riêng, rồi đến năm 1934 tỉnh Cap Saint Jacques lại hạ cấp xuống thành thành phố (commune).

Hiện tại, Vũng Tàu có diện tích 140,1 km² gồm 16 phường và 1 xã: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, Thắng Nhất, Thắng Tam, Rạch Dừa, Nguyễn An Ninh; Xã Long Sơn với dân số khoảng 310 000 người(năm 2010).

Nằm trên thềm bờ biển của một khu vực giàu dầu khí, Vũng Tàu hay cả tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu là tỉnh xuất khẩu dầu khí lớn nhất Việt Nam. nơi có trụ sở của Xí nghiệp liên doanh Dầu khí Việt-Xô (Vietsovpetro). Là một trong những trọng điểm du lịch phía Nam, Vũng Tàu có nhiều bãi biển đẹp như bãi Sau (Thùy Vân), bãi Trước (Tầm Dương), bãi Dứa (Hương Phong), bãi Dâu (Phương Thảo) cùng bãi tắm Long Hải.
Ngoài ra có nhiều nơi tham quan như chùa Thích Ca Phật Đài, tượng Chúa Kitô Vua, Bạch Dinh, Núi Nhỏ, Núi Lớn cùng tuyến cáp treo có khu vui chơi.

Du lịch, GO! - Trích Wikipedia, nguồn ảnh Vietlandnews

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống