Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Wednesday, 14 September 2011

Một thời chưa xa, vùng Phú Hội - Đại Nẫm (bây giờ là xã Hàm Hiệp, huyện Hàm Thuận Bắc, Bình Thuận) là vùng đất đai phì nhiêu, cây lành trái ngọt. Cây trái thì nhiều nhưng chủ yếu vẫn là bưởi, chuối và xoài. Trong dân gian vùng này cho đến giờ vẫn còn lưu truyền câu: “Đại Nẫm nhiều bưởi/Phú Hội chuối xoài/Phú Tài mạch nha/Xuân Phong cốm gạo/”.

Bưởi nhiều đến độ có lời đồn đại rằng, da thịt con gái vùng này thơm như bông bưởi, đêm tân hôn về nằm kề bên, anh chồng hỏi xức dầu thơm gì nghe quen quen? Chị vợ nghe thế mới hỏi tới: “Vậy là anh đã từng gần ai rồi phải không?” Báo hại anh chồng có giải thích mấy, chị vợ vẫn nằm quay mặt vô vách. Thao thức mãi, gần sáng bực mình anh đẩy cửa bước ra vườn. Vô tình hương bưởi ngạt ngào ùa tới, anh lật đật bước vào phòng hoa chúc lay vợ: “Đây nề, đây nề! Thơm mùi này nề, thơm mùi này nề!” Chị vợ lúc đó mới hiểu. Thì ra, từ nhỏ tới lớn, mỗi ngày một ít da thịt mình đã được hoa bưởi ướp hương vào…

Theo lời chú Mười Hậu, 85 tuổi, cư dân chính gốc vùng Phú Hội thì ngày xưa con gái Phú Hội đẹp thùy mị, dịu dàng là nhờ phong thổ, phong thủy. Đất đai màu mỡ, lành hiền. Nước thì hễ đào giếng đâu là có nước ngọt đó, mà nước lại nhiều, trong mát, uống đã khát vô cùng. Và gió mang theo hơi nước của bàu Sen cũng làm cho làn da con gái Phú Hội mát dịu, mịn màng.

Bàu Sen xưa rất đẹp, tọa lạc sát nhà làng Phú Hội, hình dạng như con rồng nằm. Đông giáp sân banh Phú Hội. Tây giáp nhà làng. Nam giáp búng chảy ra sông Mường Mán (không phải Mương Mán). Bắc giáp mương đập Li-tô (cũ). Hàng ngày có ông trùm làng chống xuồng đi hái sen, huê lợi thu được dùng vào việc công của làng. Những đêm trăng sáng, trai gái trong làng tụ họp hai bên bờ bàu Sen hát đối với nhau đến tận khuya cho tới khi trăng chếch bóng.

Hát đối còn gọi là hát ống. Vật liệu được làm bằng hai ống tre bịt kín một đầu có sợi giây nhợ kéo căng qua đầu ống bên kia. Khi hát, đôi nam nữ hai bên bờ cầm “micro” ống tre ấy mà đối đáp.

Những câu hát còn lưu truyền như: “Gái Phú Hội lấy trai Phú Nhang/Đêm nằm hương bưởi mênh mang cõi lòng”. “Đi qua bên Phú Hội chơi/Thấy cô gái nọ hái sen dưới bàu/Dưới bàu có con cá tràu/Nó theo nó đớp… làm sao không buồn?”… Trong khung cảnh nên thơ, thiên nhiên hữu tình và môi trường trong lành ấy thì hỏi sao con gái Phú Hội không dễ thương, dễ nhớ? Từ sau trận lụt năm Thìn 1952, qua bao biến đổi bể dâu, nay bàu Sen không còn nữa, bây giờ cư dân làm lúa và rau xanh dưới lòng bàu.

Chú Tư Nhơn, 86 tuổi, cư dân chính gốc vùng Đại Nẫm cho biết: Sau Cách mạng Tháng Tám chú đánh xe ngựa và trước 1975 lái xe lam (loại xe Lambretta có mui che người lái như mũ kết). Chú Tư thường chở trái cây từ Phú Hội về Phan Thiết cho thương lái tiêu thụ các nơi theo đường bộ, khi vào vụ có ngày phải chở từ 5 đến 7 chuyến.

Đó là chưa kể trái cây vùng này được chở tiêu thụ bằng đường sắt qua ga Phú Hội.

Chú Tư nhớ lại: “Bưởi Phú Hội tròn như trái dưa hấu, đơm lên bàn thờ rất đẹp. Bưởi có 2 loại: ruột đỏ và ruột trắng, loại nào cũng ngọt thanh và thơm mùi vị rất riêng, ăn một lần là nhớ mãi. Xoài có nhiều thứ: xoài Náp, xoài Tượng, xoài Thanh Ca… không xơ, thịt bùi, ngọt lịm từ đầu tới cuối trái; ăn mà gọt dày vỏ là hay bị la lắm!

Các loại xoài này nếu dú bằng rơm (không có khí đá) thì đẹp trái, sắc màu tươi tắn và ăn ngon đặc biệt. Xoài Nếp, chín mình không biết chín, chín mà ngoài vẫn xanh, trong đỏ. Xoài Nếp dú ăn không ngon, cứ để chín cây chờ gió rụng ăn mới sướng. Xoài Tẻ dú bằng lá cây gỗ cóc, chín đỏ thơm lừng, ăn đã lắm!” Chú Tư chép miệng: “Bây giờ 2 loại Nếp, Tẻ này mất giống đâu hết rồi, uổng thiệt!”

Làng Phú Hội xưa có hát lệ ba năm một lần, chủ yếu là hát tuồng, hát bội. Tết nhứt chơi hô bài chòi, dựng 9 cái chòi có người cầm ống thẻ bài xóc lắc, rớt thẻ ra thì hô có bài có bản, có vần có điệu, có tích có tuồng.

Trong không gian ấy, bóng dáng con gái Phú Hội tha thướt áo bà ba, kẹp tóc ba lá chải mượt dầu dừa hoặc tóc búi có lông nhím ghim qua… đang che nghiêng vành nón, khúc khích cười trong nắng mới. Chợt nhớ 2 câu thơ của Vũ Đình Liên: “Những người muôn năm cũ/Hồn ở đâu bây giờ?” mà nghe lòng hoài niệm xa xôi…

Du lịch, GO! - Theo báo Binhthuan, ảnh internet
Áo bà ba là loại trang phục đặc trưng Nam Bộ, cả nam lẫn nữ đều mặc được; nhưng giới nữ ưa chuộng nhiều hơn; đặc biệt là ở miệt vườn, miệt ruộng của vùng sông nước Cửu Long, tạo nên nét duyên dáng đồng bằng không gì so sánh được.

Nguồn gốc xuất xứ và tên gọi của loại trang phục “đặc sản” này đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. Có người cho rằng, áo bà ba xuất hiện đầu tiên ở Nam Bộ vào thời Hậu Lê vì có nét giống “cái áo đàn ông cổ tròn, cửa ống, tay hẹp" mà sách xưa ghi là cụ Lê Quý Đôn đã quy định thành trang phục cho dân Đàng Trong cuối thế kỷ 18.

Lại có ý kiến áo bà ba chỉ mới xuất hiện vào nửa đầu thế kỷ 19, được học giả Trương Vĩnh Ký cách tân từ áo của người Malaysia gốc Hoa cho phù hợp với vóc dáng người Việt. Nếu điều này đúng thì dân Nam Bộ chính là những người giao lưu khu vực sớm nhất.

Tôi không biết ai đúng, nhưng vẫn coi áo bà ba là “đặc sản” của xứ tôi – đồng bằng sông Cửu Long - dù hiện nay phần đông giới trẻ thích mặc quần áo hiphop, model Hàn Quốc, quần jean, áo pull; giới công chức thì mặc trang phục công sở, giới doanh nhân nam mặc veston, sơmi, doanh nhân nữ mặc váy hay đồ tây..., gọi chung là Âu phục.

Dân Nam Bộ nói chung và dân miền Tây nói riêng mặc nhiên coi áo bà ba như thứ trang phục truyền thống, chất chứa “giá trị phi vật thể” tích tụ từ bao đời trên mảnh đất phương Nam. Những năm gần đây, áo bà ba thường xuyên xuất hiện trong các cuộc thi hoa hậu, người đẹp ở đồng bằng sông Cửu Long và cả Nam Bộ như một sự thừa nhận và cổ xúy cho loại trang phục có sức quyến rũ bền bỉ, vượt qua thử thách của thời gian.

Với tôi, những năm tháng trẻ thơ, nhớ những lần ngơ ngác đi chợ huyện sợ lạc, tay luôn nắm chặt vạt áo bà ba của mẹ – một phụ nữ chân quê đồng bằng. Nhớ các chị tôi vào độ tuổi trăng tròn thường mặc chiếc áo bà ba mượt mà, đầy đặn, làm nhiều anh trai làng phải ngã bệnh tương tư, lén gửi thư tình bằng giấy học trò kẻ hàng đôi để chữ viết được tròn trịa như... con gái mặc áo bà ba.

Áo bà ba không chỉ xuất hiện ngoài phố chợ mà còn có mặt trên ruộng đồng, dưới tán vườn, thấp thoáng qua cây cầu nhỏ...

Cái thứ trang phục “2 phần kín, 1 phần hở" đó vừa giấu, vừa khoe một cách tài tình vẻ đẹp tự nhiên, quyến rũ trong cơ thể của người phụ nữ Nam Bộ. Áo bà ba đã đi vào thơ ca, nhạc, họa cùng với chiếc xuồng ba lá, cái nón lá và chiếc khăn rằn thành biểu tượng của nữ du kích miền Tây.

Áo bà ba cổ điển, được nhiều người mặc từ thập niên 1960 trở về trước, may bằng các loại vải một, vải ú, vải sơn đầm... rất mau khô sau khi giặt; được xẻ ở hai bên hông làm người mặc cảm thấy thoải mái, gần vạt áo có thêm hai cái túi to. Chính nhờ tính tiện dụng và sự thoải mái mà cả nam lẫn nữ ở đồng bằng sông Cửu Long thường vận bộ bà ba đen khi đi làm đồng.

Theo các nhà Từ điển học nghiệp dư của Wikipedia, trong 2 thập niên 1960-1970, áo bà ba truyền thống được phụ nữ thành thị cải tiến nhờ óc sáng tạo của các nhà tạo mẫu dân gian mang hơi hướng "tân cổ giao duyên" nên vừa phá cách, vừa giữ được nét đặc thù. Áo dài bà ba hiện nay không thẳng và rộng như xưa, mà được may hẹp, nhấn thêm eo bụng, eo ngực cho ôm sát lấy thân hình như để khoe "3 số đo" của các cô gái duyên dáng dễ thương.

Người miền Bắc có câu: "Anh đi anh nhớ quê nhà. Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương", nhớ “áo tứ thân với tóc đuôi gà”. Còn người miền Nam thì mộc mạc hơn, “thương nhớ áo bà ba” như nhớ thương một vùng ký ức tuổi thơ một thời thấp thoáng...

Du lịch, GO! - Theo báo Laodong, ảnh sưu tầm
Khánh Hòa là một trong những tỉnh có nhiều điểm du lịch nổi tiếng của cả nước. 
Bờ biển Nha Trang trong xanh với bờ cát trắng trải dài bao lấy thành phố và những di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh đã để lại kỷ niệm khó phai trong lòng du khách.

Những tour du lịch biển đảo như: tham quan đảo Yến, đảo Hòn Lao, lặn biển ngắm san hô ở Hòn Mun… đầy ấn tượng, đã thôi thúc du khách đến với Khánh Hòa.

Không chỉ có thế, Nha Trang - Khánh Hòa còn thu hút du khách bởi vẻ đẹp hoang sơ của rất nhiều dòng suối với những giai thoại ly kỳ. Đó là những dòng suối rất đẹp, rất hoang sơ của huyện Diên Khánh, cách TP. Nha Trang khoảng chừng 10km, về hướng Nam.

° Suối Tiên: Từ Nha Trang xuôi theo Quốc lộ 1A về phía Nam chừng 19km, nhìn sang bên phải thấy một con đường liên xã với chiếc cầu xi măng cách Quốc lộ I chừng vài chục mét, đi theo con đường này thêm khoảng 5km thì bắt gặp suối Tiên.

Suối Tiên là một dòng suối đẹp, nhiều cảnh lạ, lắm huyền thoại. Trên suối có nhiều dấu vết mà người ta cho là của tiên để lại như: Bàn cờ Tiên, hồ Tiên, động Tiên, nên được gọi là “Suối Tiên”. Cảnh đầu tiên du khách bắt gặp ở suối Tiên là hồ Tiên. Những tảng đá lớn nhỏ ở đây vô tình tạo thành một đập nước thiên nhiên chắn ngang dòng suối. Phía trước đập, nước xoáy thành hình lòng chảo, lâu ngày tạo nên hồ Tiên.

Tương truyền rằng, xưa kia các nàng tiên nữ thường xuống đây nghỉ ngơi và tắm mát. Nước hồ trong xanh nhìn đến tận đáy. Đáy hồ là những dải cát trắng phau. Men theo lòng suối về phía thượng nguồn, du khách sẽ có cảm giác như đang đi sâu vào cảnh tiên. Nước suối trong, róc rách, long lanh dưới ánh mặt trời. Dọc theo hai bờ suối là những lớp đá nằm ngổn ngang, nhiều hình thù, nhiều màu sắc.

Trên một tảng đá rộng lớn và bằng phẳng có lưu lại vết tích dấu chữ “Điền” và chữ “Khẩu”, nhiều chỗ còn bày biện những bàn cờ với đầy đủ các quân cờ. Người ta bảo rằng, đây là bàn cờ tiên mà xưa kia các tiên ông thường đến đây đánh cờ tiêu khiển.

Đi lên phía thượng nguồn của suối sẽ thấy nhiều hòn đá chồng chất lên nhau tạo thành những hang động, ngay dưới những tháp nước nhỏ, được cây rừng trang điểm xung quanh, nhiều chỗ có thể dùng làm chỗ ngồi, nghỉ chân thư giãn, đó là động Tiên.

° Suối Đổ: Suối Đổ còn có tên là suối Nước Đổ, thuộc địa phận làng Phước Trạch, gần làng Cư Thạnh, phía Tây dãy núi Hoàng Ngưu. Gọi dòng suối này là suối Đổ vì dòng nước đổ từ trên cao chảy xuống và tạo thành 3 hồ nước khá rộng. Hồ thứ nhất nằm ở lưng chừng núi, dưới một thác nước đổ mạnh. Nước hồ chia làm 2 nhánh chảy quanh co xuống triền núi và đổ vào 2 hồ khác nằm gần nhau. Đáy hồ cát trắng tinh, quanh 2 bên bờ suối và cả dưới đáy có đá xanh chồng chất lên nhau, cỏ cây chen lẫn với đá luôn xanh tươi, rậm rạp.

Dân gian kể rằng, xưa kia ở đây có một cây kỳ nam thân to đến 4 người ôm, từ xa, người ta cảm nhận được một mùi hương thoang thoảng, nhưng kỳ lạ là khi đến gần thì chẳng có gì hết. Trong cây có một cặp rắn đen to lớn giữ gìn không cho ai lấy đi.

Người ta cũng kể rằng, xưa kia Bà Thiên Y A Na đã đến nghỉ chân và hóng gió tại đây vào những lúc vân du. Lúc Bà đến có 3 tiếng sấm nổ vang rền. Một luồng ánh sáng màu xanh dài và rộng như một dải lụa bay tới từ phía hòn Núi Chúa hoặc từ Hòn Bà đáp xuống, đó là hiện tượng di hành của Bà. Ở hồ thứ 2, phía dưới có đền thờ Bà lúc nào cũng nghi ngút khói hương.

° Suối Ồ Ồ: Suối Ồ Ồ thuộc địa phận xã Diên Điền, huyện Diên Khánh. Từ Nha Trang lên Thành chừng 10km, rẽ qua thôn Phú Lộc, đến thôn Đại Điền Trung (thuộc xã Diên Điền), tới Am Chúa. Từ Am Chúa đi qua suối Phèn và đi thêm chừng 7km nữa thì tới suối Ồ Ồ.

Khác với những dòng suối chảy róc rách, hoặc rì rào, dòng suối này có nước từ trên nguồn chảy đổ mạnh xuống gành, phát ra tiếng ồ ồ, có lẽ vì vậy mà suối có tên là suối Ồ Ồ. Suối Ồ Ồ khởi phát từ trên dãy núi cao nằm tại ranh giới 2 huyện Ninh Hòa và Diên Khánh. Con suối có 2 nguồn chảy Đông - Tây song song ở giữa 3 nhánh núi thấp. Nguồn phía Đông được gọi là suối Chà Vông do 2 bên bờ có cây chà vông mọc um tùm. Nguồn phía Tây được gọi là suối Khô, vì trong mùa nắng, mạch thường bị đứt. Dòng nước của 2 nguồn chảy Đông - Tây tuôn trào đổ mạnh xuống hồ thành những tiếng ồ ồ, âm thanh nước đổ mạnh vọng ra xa như tiếng thác lớn đổ dài nhiều trăm mét.

Hai nguồn nước này đổ xuống một gành đá thẳng đứng. Dưới chân gành, nước xói đá mòn tạo thành hồ bán nguyệt, rộng trên một sào và dài chừng ba sải tay. Cư dân đồn rằng hồ bán nguyệt không bao giờ cạn, có tiên thường đến tát nước về nguồn. Đầu gành còn lưu lại nhiều dấu vết, đó là dấu chân tiên còn ở mặt gành, có những dấu vết hơi dài, người ta gọi đó là dấu dây lưng của tiên phơi khi tát nước.

Ngoài 3 suối kể trên, Diên Khánh còn có nhiều suối nữa như: Suối Ngổ ở phía Đông Bắc thành cổ Diên Khánh, thuộc thôn Xuân Phong, dưới chân Hòn Én; suối Đá Giăng nằm dưới chân núi Hòn Bà… Mỗi dòng suối là mỗi giai thoại với những cảnh sắc hoang sơ. Sự kết hợp hài hòa của trời, mây, non nước đã tạo nên những danh thắng hữu tình, làm lưu luyến lòng người.

Đến Nha Trang, du khách sẽ được tận hưởng những giây phút thư giãn tuyệt vời bên biển xanh cát trắng, những chuyến đi đảo lý thú; phiêu lưu, du ngoạn với núi, đồi, sông, suối, cùng những tình cảm thân thương của người dân thành phố biển. Tất cả đang dang tay mời gọi du khách.

Du lịch, GO! - Theo báo Mientrung, internet

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống