Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Friday, 16 September 2011

Từ trên cao nhìn xuống, cả thị trấn Mèo Vạc (Hà Giang) nằm bé gọn như bàn tay trong một thung lũng không rộng lắm, bốn bề là núi đá vây quanh.

Qua đỉnh đèo, muốn xuống thị trấn phải đổ con dốc dài tới hơn 5 cây số. Đầu vào thị trấn hai bên có những vườn cây sơn trà lâu năm trông khá xanh mát kéo dài vài trăm mét.

Chúng tôi đến Mèo Vạc vào buổi chiều, khi nắng đã bớt nhưng trời vẫn oi nồng. Những vạt nắng cuối chiều soi rõ thị trấn với những khối nhà công sở liền mảng màu vàng, đây đó điểm tí chút nhà gỗ người Mông cũ xỉn ám đen hơi khói củi, còn lại chủ yếu là nhà người Kinh lên buôn bán làm ăn ở đây, dễ nhận ra vì nhà trần hoặc xây ống.

Bao quanh thị trấn là những ruộng ngô xanh ngát. Dưới ánh nắng chiều, xanh vàng rực lên một bức tranh miền núi điển hình. Bóng núi xám đen của đá tai mèo trải xuống làm sự tương phản càng rõ nét. Dăm ba cây samu cao vút, đặc trưng loài cây vùng núi bắc Việt Nam.

Giữa thị trấn là sân vận động và khu chợ thật rộng. Vì là chợ vùng cao nên có một bãi đất trống rộng dùng làm nơi mua bán trâu, bò. Chợ mỗi tuần họp một phiên vào chủ nhật, đông vui và nhộn nhịp lắm!

Chiều xuống muộn, trong thung lũng không có hoàng hôn, bóng núi đổ sập khi mặt trời khuất sau ngọn thấp nhất. Cả thị trấn chìm trong ráng mỡ gà đã rán cháy. Sau gần một tiếng, sao nổi chi chít dày đặc trên vòm trời, những đỉnh núi xung quanh đâm lên nền trời thật muôn hình, lủa tủa, rờn rợn: vừa hoang sơ kỳ bí, vừa hấp dẫn mời gọi.

Sau một hồi tìm chỗ nghỉ, tôi quyết định chọn nhà trọ có chị chủ kiêm bán tạp phẩm. Căn nhà hai tầng; tầng dưới bán tạp phẩm, tầng trên ngăn ra làm 4 phòng cho khách trọ thuê (giá 80.000 đồng/phòng). Căn nhà trông thẳng ra bến xe và hơi chếch nhìn ra tượng đài Bác, cũng khá đầy đủ.

Chúng tôi lại tìm đến quán ăn mới mở, đối diện luôn cổng chợ Mèo Vạc. Tất cả các loại rau, gà Mèo, thịt bò xào và không quên chai rượu ngô nữa. Thật thú vị là rau không "hiếm" lắm ở đây... Đặc biệt có cả rau đắng tươi, nấu bát canh suông húp mát cả ruột, vị đắng tê tê đầu lưỡi chuyển dần xuống họng sang vị ngọt mát rồi lan tỏa đúng như "thần dược", tan đi hết cả những mệt nhọc trên đường...

Đêm Mèo Vạc phố xá im lìm cả, chỉ có đèn đường và đèn bảo vệ các cơ quan còn sáng. Ngày thì thế mà đêm xuống hơi núi đá tỏa ra mát rượi. Tôi chìm trong giấc ngủ của men rượu ngô Mèo Vạc, của "hội chứng xe máy" tê rần người, đường xa, lơ mơ về chợ tình Khâu Vai...

Du lịch, GO! - Theo báo ThanhNien, ảnh internet


Thị trấn Mèo Vạc là trung tâm của Huyện Mèo Vạc - huyện vùng cao biên giới phía bắc của tỉnh Hà Giang, Việt Nam.
Huyện Mèo Vạc có độ cao từ 1000-1500m so với mực nước biển, có 90% diện tích là núi đá và có tới 90% dân số là người Mông.

Mèo Vạc nằm trong lòng thung lũng, bốn bề là núi đá. Từ đỉnh đèo, xuống thị trấn phải qua con dốc quanh co dài 5 cây số.

Thị trấn Mèo Vạc có một điểm khá thú vị, là nằm gần như biệt lập; khác với nhiều thị trấn vùng cao khác là bám lấy tuyến giao thông chính, rồi phân nhánh. Ở trong lòng thị trấn, bên cạnh những công trình, cơ quan hành chính, xen kẽ ngay những quần cư của người dân tộc Mông. Rừng núi, đồng ruộng và nông thôn hòa nhịp cùng phố thị.

Cuộc sống ở thị trấn Mèo Vạc bình yên, êm đềm và thân thiện. Thị trấn nhỏ bé, đi loanh quanh một lúc là hết, nhưng khám phá cho đủ chắc mất không ít thời gian…
Thú vị nhất là trải nghiệm cảm giác hòa mình cùng thiên nhiên, núi rừng trên những cung đường off - road. Và ở đó, chúng ta sẽ gặp những người dân bản địa với những bản sắc riêng. Để ý một chút, chúng ta sẽ có những cuộc gặp mặt đầy thú vị.

Thứ nhất, về tên gọi và một số thuật ngữ thường dùng trong công tác dân tộc:

Trong thực tế còn gặp một số người khi viết, khi nói xác định tên dân tộc lại dùng tên do các dân tộc tự gọi, tên theo nhóm địa phương, hoặc tên gọi khác. Ví dụ: dân tộc Hoa gọi là dân tộc Xạ Phang, dân tộc Hán... dân tộc Chứt gọi là dân tộc Rục, dân tộc Mã Liềng, dân tộc Sách; dân tộc Dao gọi là dân tộc Mán; dân tộc Khơ Mú gọi là dân tộc Xá, dân tộc Chăm gọi là dân tộc Chàm... Trong công tác dân tộc gọi theo danh mục thành phần các dân tộc Việt Nam do nhà nước ban hành là đúng hơn cả.

Thứ hai, một số việc cụ thể cần lưu ý:

Khi vào làng, vào bản, vào nhà dân nếu trên đường vào ở cổng bản hay cổng nhà thấy có cắm lá xanh hoặc cọc dấu thì không nên vào vì dân bản hoặc chủ nhà đang kiêng người lạ.

Khi đã đến với dân bản thì không được tự ý vào khu rừng kiêng, rừng cấm, không làm mất vệ sinh nguồn nước sinh hoạt, không chặt cây khi thấy cây có dành dấu (X), không lấy măng, mộc nhĩ, lấy mật ong... khi đã có người đánh dấu, không bẻ mầm non đang mọc.

Khi vào nhà dân, nếu thấy dân ở nhà sàn mà nhà lại có hai cầu thang thì cần quan sát xem đi cầu thang nào; nếu đi cùng chủ nhà hoặc có cán bộ cơ sở đi cùng thì nên để cho chủ nhà hoặc cán bộ cơ sở lên trước (thông thường nhìn từ ngoài vào, cầu thang phía bên tay trái dành cho đàn ông và khách, cầu thang bên tay phải dành cho phụ nữ).

Khi đã vào trong nhà nếu thấy trong nhà có hai bếp thì không nên đi thẳng một mạch từ đầu nhà vào bếp trong (bố trí 2 bếp, bếp ngoài đồng bào dành cho khách). Khi ngồi cạnh bếp lửa không dùng chân đẩy củi, không đút ngược cây củi vào bếp (ngược ở đây được hiểu là đút chiều ngọn của cây củi vào trước) vì đồng bào quan niệm làm như thế trong nhà sẽ có người đẻ ngược.

Không nướng cơm đồ (xôi) vì nếu cơm đã đồ mà đem nướng đồng bào cho rằng năm đó sẽ xảy ra mất mùa. Khi ngồi cần chú ý không ngồi vào “cửa móng” (cửa sổ gian tiếp khách), nếu chủ nhà chưa mời không nên ngồi ngay vào đệm (thường dành cho bề trên và khách quý).

Khi ăn cơm nếu chủ nhà không mời thì không được ngồi ngang hàng với người già nhất trong mâm đồng thời tôn trọng sự sắp đặt vị trí ngồi của chủ nhà; không được gắp đầu gà, chân gà, gan gà (những thứ này thường để chung một đĩa với dụng ý để khách chứng giám lòng thành của chủ).

Khi uống rượu nếu thấy trong mâm có 2 ly rượu (cốc, chén) để giữa chủ nhà và khách hoặc giữa chủ nhà và người già nhất thì không được uống 2 ly rượu này (đồng bào quan niệm đây là 2 ly rượu dâng lên tổ tiên). Khi có người mời, hoặc mời mọi người xung quanh mới uống, không nên cầm ly uống ngay. Đặc biệt để tỏ lòng mến khách những người trong mâm rượu dùng rất nhiều “lý” để chúc rượu nhau (chúc chung cả mâm, chúc riêng từng người, ly rượu làm quen, chúc sức khỏe...) trong trường hợp ấy không nên từ chối (uống được bao nhiêu do khả năng của mình) và nên chủ động chúc rượu lại chủ nhà và những người trong mâm rượu.

Ngoài ra khi mời rượu không nên dùng từ “uống hết” mà chỉ nêndùng từ “uống cạn” (đồng bào quan niệm nếu dùng từ “uống hết” nghĩa là chủ và khách không còn tình cảm gì, không còn gì để uống), trong khi ăn uống không nên vừa ăn vừa nói quá to.

Khi đi ngủ không nằm ngủ dọc theo đòn nóc nhà (chỉ người chết mới nằm như vậy), không ngủ dậy quá muộn, không đắp ngược chăn.

Tiếp xúc với dân bản không nói quá to với cử chỉ gay gắt, đặc biệt không dùng ngón tay trỏ của mình chỉ vào mặt người đang đối thoại. Không tranh cãi với người già, phụ nữ và trẻ em, không xoa đầu trẻ nhỏ, không nên biểu lộ tình cảm thái quá đối với phụ nữ đã có chồng, con gái đã có người yêu, phụ nữ goá chồng.

Khi nói chuyện với bà con dân bản cần tránh dùng từ kiêng, từ có tính miệt thị dân tộc như: gọi người đàn ông có tuổi là “bố bản”, dùng từ “xá” (có nghĩa là rách rưới) chỉ dân tộc Khơ Mú, “Thổ mừ” chỉ dân tộc Thổ... hoặc có khi nói những từ chung chung như “ông Mông”, “ông Thái”, “ông Dao”...

Ngoài ra một số dân tộc thiểu số có những điều “kiêng”, “cấm” trong các nghi lễ như chọn đất làm nương rẫy, chọn ngày dựng nhà, chọn ngày cưới hỏi vợ, chồng; kiêng cữ khi phụ nữ mới sinh. Những nghi lễ khi trong nhà có người chết; những nghi lễ trong việc cúng bản, cúng mường; gặp những trường hợp này tốt nhất là chúng ta lắng nghe, quan sát không nên vội vàng phê phán chê bai như: mất vệ sinh, lạc hậu, tốn kém; mê tín dị đoan…

Với những bản sắc riêng của từng dân tộc, chỉ cần chịu khó để ý sẽ góp phần làm hành trình của bạn được suôn sẻ hơn.

Du lịch, GO! - Theo Đỗ Trọng Cố, OffroadVN

Một số điều lưu ý khi vào thăm bản dân tộc.
Tây Khuyết Đài là đài canh gác của Hoàng thành, được xây dựng đầu thế kỷ 19, nằm giữa thành phía Tây Đại nội.

Giám đốc Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, ông Phùng Phu cho biết, công trình bảo tồn, phục hồi Tây Khuyết Đài thuộc hệ thống di tích Cố đô Huế vừa được khởi công xây dựng.

Trước đó, cuộc thăm dò khảo cổ di tích đài Tây khuyết từ giữa năm 2010 đã đạt được những kết quả như xuất lộ nền móng kiến trúc chính hình vuông mỗi cạnh dài gần 13m kèm theo một số chân tảng (móng trụ công trình) bên trong; cạnh đó là phần nền móng của một số kiến trúc, bệ súng đại bác, hệ thống thoát nước...

Dự án sẽ dựng lại kiến trúc chính với một ngôi nhà rường truyền thống hình vuông, kèm theo một số hạng mục công trình và các yếu tố tạo cảnh quan liên quan, nhằm đưa khu vực đài Tây khuyết trở thành điểm ngắm cảnh hoàng thành lẫn kinh thành, đồng thời là nơi trưng bày, triển lãm các chuyên đề liên quan đến di tích Huế.

Đài Tây khuyết cao 4,24m, rộng gần 1.600m², nằm giữa bức thành phía tây của hoàng thành Huế với chức năng là đài canh gác. Đài được xây dựng vào đầu thế kỷ 19 dưới thời Gia Long. Những kiến trúc này bị tàn phá do chiến tranh và tàn lụi theo thời gian từ giữa thế kỷ 20 nay sẽ được phục dựng lại. Công trình do Phân viện Khoa học Công nghệ xây dựng miền Trung thi công, với tổng mức đầu tư hơn 9 tỷ đồng.

Đây là Di tích văn hóa Quốc gia đặc biệt và là công trình nằm trong tổng thể Kinh thành Huế được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa Thế giới.

Công trình bao gồm việc phục hồi Nhà canh 114,5m²; tu bổ, phục hồi tường thành lan can bằng gạch vồ, vữa bả màu truyền thống; tôn tạo sân vườn lát gạch Bát Tràng và hạ tầng kỹ thuật.
Sau khi hoàn thành, công trình Tây Khuyết Đài sẽ góp phần trả lại diện mạo kiến trúc Hoàng thành, hứa hẹn sẽ cùng Đông, Nam và Bắc Khuyết Đài là những điểm nhìn lý tưởng ở Đại nội Huế.

Trước đó, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã có văn bản gửi Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế, cho ý kiến về việc thỏa thuận Báo cáo Kinh tế kỹ thuật bảo tồn, phục hồi Tây Khuyết Đài (Đại Nội Huế) và lưu ý các cấu kiện kiến trúc đã thu thập được với số lượng nhiều và còn ở tình trạng kỹ thuật tốt (như chân tảng, gạch gốm trang trí...) cần được thống kê phân loại để nghiên cứu tái định vị; đồng thời làm rõ khối xây tường thành gốc được gia cường với khối xây phục hồi mới.

Trung tâm cần tiếp tục sưu tầm các tài liệu lịch sử có liên quan để hoàn thiện thiết kế và triển khai các bước tiếp theo của việc bảo tồn, phục hồi Tây Khuyết Đài...

Du lịch, GO! - Tổng hợp

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống