Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Thursday, 13 October 2011

Làng Mai Xá (xã Gio Mai, Gio Linh, Quảng Trị) không chỉ đi vào lịch sử với huyền thoại "Bà mẹ Gio Linh" nuôi con đánh giặc mà còn nổi tiếng với những cảnh đẹp của một làng quê Việt Nam.
.
< Toàn cảnh Đình làng Mai Xá Chánh – biểu tượng của làng.

Đình làng Mai Xá Chánh nằm trong tổng thể các di tích lịch sử – văn hóa của làng Mai Xá gồm đình làng, chợ, bến đò, khe lạch và rừng cây nguyên sinh, tạo nên một bức tranh phong cảnh hữu tình làm say đắm lòng người du khách thưởng ngoạn.

Ngôi đình được xây dựng theo lối kiến trúc cổ, kiểu nhà rường Trung Bộ, các cấu kiện cột kèo, xuyên, trếng, đòn tay đều được làm bằng gỗ mít có chạm trổ hoa văn, hình lưỡng long chầu nguyệt, chim phượng... được trang trí bằng nghệ thuật đắp vữa và ghép mảnh sành sứ tinh xảo với tổng kinh phí xây dựng lên tới 3 tỷ đồng do chính con em của làng tự nguyện đóng góp.

< Chiều về nhộn nhịp bến sông.

Mai Xá là một làng quê nằm ven con sông Hiếu. Cuộc sống của người dân nơi đây đã gắn bó với nghề cào chắt chắt từ bao đời nay nên được gọi là nghề truyền thống của làng.

Để tỏ lòng biết ơn người đã cho họ một nghề làm ăn, một sức khỏe tốt và cả những điều may mắn trên sông nước, hàng năm, những hộ làm nghề cào thường tổ chức lễ cúng tổ nghề linh đình.
Đã làm nghề cào chắt chắt, thì ai ai cũng phải nhớ nằm lòng câu: "Rằm tháng hai cầu rạy, rằm tháng bảy cầu an". Trong ngày cúng lễ cầu rạy, tất cả những anh em làm nghề không ai được phép đi cào.

< Bún hến - một trong những món đặc sản của làng Mai Xá được chế biến từ con chắt chắt.

Thay vào đó, họ đi đến thượng nguồn sông Hiếu, đầu đội một rổ chắt chắt con mới rạy (mới sinh) được chuẩn bị từ ngày hôm trước, vừa đi về hướng làng mình vừa bốc những con chắt chắt trên rổ rải xuống lòng sông như kiểu gieo lúa giống xuống đồng vậy.

Họ tin rằng nhờ có việc làm này mà con chắt chắt sinh sản ở gần quê họ nhiều hơn, nhanh hơn, đủ cho họ cào quanh năm. Suốt 30 ngày trong tháng, suốt 12 tháng trong năm (chỉ trừ những ngày mưa bão lớn), người Mai Xá có thể "hái" ra tiền bằng nghề cào chắt chắt. Mới sáng sớm chèo đò đi cào, đến xế chiều họ đã có một đò đầy ắp chắt chắt chở về làng.

< Hoàng hôn trên sông Hiếu - lúc người Mai Xá thường kết thúc một ngày đi cào và đãi con chắt chắt.

Chắt chắt thuộc họ trìa, hến nhưng chúng có kích thước nhỏ hơn, con to nhất chỉ bằng hạt bắp. Loài sinh vật nước lợ này giàu chất đạm nên rất bổ dưỡng. Chắt chắt rất tốt cho sức khỏe  vì chúng không hề bị nhiễm thuốc trừ sâu như một số loại thực phẩm khác. Nước nấu chắt chắt dùng làm món canh ngon, ngọt. Mặt (thịt) chắt chắt xào lên, dọn ra dĩa rồi lấy bánh tráng "xúc" ăn là món khoái khẩu của nhiều người. Những ai đã từng ăn chắt chắt do chính người Mai Xá chế biến thì chắc chắn sẽ không quên hương vị ngọt ngào của món ăn dân dã rẻ tiền này.

Còn đối với người Mai Xá sống xa quê, một trong những điều làm họ luôn nhớ về quê hương là thèm ăn chắt chắt. Nhiều người nói rằng, hồi còn ở quê, một ngày ăn ba bữa canh chắt chắt nấu với rau muống mà cũng không biết ngán. Khi đi xa, họ thường mang theo một bao chắt chắt để làm quà quê hương biếu cho những người mà họ thương yêu nhất.


< Chiều chiều, đàn cò bay về chao liệng trắng một góc trời Hà Côộc.

Mai Xá là một làng quê nghèo của tỉnh Quảng Trị, hàng năm phải gánh chịu những hậu quả nặng nề của thiên tai, nhưng đổi lại, thiên nhiên ban tặng cho vùng đất này một phong cảnh tuyệt đẹp của một làng quê yên bình.

Một trong những phong cảnh đẹp khác của làng Mai Xá có thể kể đến đầm Hà Côộc (gọi theo tiếng địa phương) – nơi được cho là "đất lành chim đậu". Đây chính là khu rừng nguyên sinh còn sót lại của làng, quy tụ nhiều loài chim sinh sống mà trong đó nhiều nhất là cò. Để tránh bị kẻ xấu rình bắt làm thịt, Chi bộ Đảng và nhân dân làng Mai Xá đã xây dựng hẳn một bộ "luật" để bảo vệ đàn cò.

< Cô dâu, chú rể chọn Hà Côộc làm nơi chụp hình ngoại cảnh kỷ niệm ngày cưới của mình.

Nhờ có phong cảnh đẹp lại nằm trên trục đường xuyên Á dẫn xuống biển Cửa Việt, đầm Hà Côộc luôn thu hút nhiều du khách đi qua con đường này dừng lại chụp hình để ghi lại những khoảnh khắc tuyệt đẹp của một làng quê khi hoàng hôn buông xuống.

Làng quê Mai Xá sẽ mãi mãi ăn sâu vào ký ức của người Mai Xá, nhất là những người con đang sống xa quê hương. Làng Mai Xá là nơi lý tưởng để phát triển du lịch cộng đồng – một loại hình du lịch mới mẻ đang "hút" khách, nhưng đáng tiếc, tiềm năng hiếm có này vẫn đang còn bị bỏ ngỏ!"

Du lịch, GO! - Theo Letanloc blog
Trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, có lẽ người Thủy ở Tuyên Quang có số thành viên ít nhất, với 92 người. Dưới mái rừng u tịch, cuộc sống của họ ẩn chứa bao điều huyền bí...

Bộ tộc người Thủy này hiện đang sinh sống tại bản Thượng Minh, xã Hồng Quang, huyện mới Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang.

Hành trình đi tìm sự sống

Từ trung tâm thành phố Tuyên Quang (tỉnh Tuyên Quang), vượt qua gần 100km đường rừng, chúng tôi về tới xã Hồng Quang (huyện Lâm Bình, Tuyên Quang) - gần tới bản Thượng Minh, “đại bản doanh” của dân tộc Thủy (còn gọi là tộc Mèo Nước).

Khi biết chúng tôi có ý định vào bản Thượng Minh, ông Mai Đình Nhiêu, Bí thư Đảng ủy xã Hồng Quang nhìn chúng tôi e ngại: “Nhà báo muốn lên đó tìm hiểu thực tế thì tốt quá, nhưng chỉ sợ đi nửa đường nhà báo lại phải quay về…! Từ đây lên bản Thượng Minh gần 20km nhưng đều là đường rừng, phải đi bộ, người khỏe cũng mất nửa ngày mới tới nơi”.

Vì quyết định ngủ đêm tại bản của người Thủy để tìm hiểu rõ hơn về cuộc sống của họ nên chúng tôi lên đường ngay. Khi tới con đường mòn xuyên rừng dẫn tới bản Thượng Minh, bất đồ trời đổ mưa. Mưa rừng nước đổ sầm sập, nước theo triền dốc chảy xuống ào ào như thác. Đường trơn tuột, chúng tôi tay chống gậy, bấu chặt mười đầu ngón chân xuống đất, gồng mình đội mưa vượt qua dốc núi đá dựng đứng.

< Thiếu nữ người Thủy trong bộ trang phục truyền thống.

Mãi rồi mưa cũng tạnh, con đường mòn xuyên rừng xa tít tắp đó cũng dẫn đến cây cầu gỗ báo hiệu chặng đường đã hết. Lúc này mặt trời đã chìm sau đỉnh núi, những mái nhà tranh khép nép dưới các gốc cọ già - bản người Thủy là đây. Chiều đại ngàn thâm u tĩnh mịch, những người dân bản đi rừng lục tục kéo nhau về. Đám trẻ thấy khách lạ, bìu ríu lấp ló sau bậu cửa nhìn chúng tôi lưng khoác ba lô, ngực đeo máy ảnh với ánh mắt đầy vẻ thăm dò.

Năm nay gần 80 tuổi, cụ Kim là người cao tuổi nhất trong cộng đồng tộc người có số thành viên ít nhất Việt Nam này. Cụ Kim người nhỏ thó, tiếng Kinh nói lơ lớ. Nhắc lại chuyện xưa, cụ bảo, chừng 400 năm trước, người Thủy sống ở Quý Châu, Trung Quốc.

Ngày ấy, bởi là một nhánh của người Mông, sống cạnh sông suối nên người Thủy được gọi là Mông nước. Người Thủy chỉ xuất hiện khi tộc người này đến cư trú tại Việt Nam. Nói về cuộc thiên di đầy khổ đau ấy, cụ Kim kể, ngày ấy bởi chiến tranh, bệnh dịch hoành hành, người Mông nước phải cất bước thiên di.

Xuôi phương Nam, ban đầu, người Thủy chọn đất Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang làm nơi an cư lạc nghiệp. Cụ Kim kể: trong cuộc ly hương khốc liệt ấy, cả bộ tộc hàng ngàn người khi đến nơi định cư mới chỉ còn khoảng 80 hộ với vài trăm người. Bệnh tật, đói khát đã làm nhiều sinh linh bỏ mạng trên dặm dài thiên lý.

Do ngôn ngữ, tập tục khác hẳn các dân tộc địa phương ở Hà Giang nên nhóm người Thủy lúc bấy giờ sống biệt lập. Họ dựng vợ gả chồng quanh quẩn trong bản. Trong quá trình mưu sinh gay gắt đó cộng với tình trạng hôn nhân cận huyết và bệnh tật nơi rừng thiêng nước độc đã làm người Thủy chết dần chết mòn. Sau Cách mạng tháng Tám, người Thủy lại tiếp tục thiên di. Khi ấy về Tuyên Quang họ chỉ còn vẻn vẹn 13 người của 3 họ Lý, Mùng, Bàn.

Báu vật đá thiêng

< Thầy mo Bàn Văn Kim và hòn đá thiêng.

Theo cụ Kim thì sở dĩ tộc người của cụ sống sót và phục hồi như ngày nay là bởi có thần linh che chở. Bao đời nay thần linh vẫn trú ngụ trong hòn đá thiêng mà người Thủy xem như báu vật vô giá. Minh chứng cho những lời mình nói, vẻ cung kính, run rẩy, cụ Kim xuống bếp bê lên một chiếc hòm nhỏ có vải đỏ phủ kín xung quanh.

Chiếc hòm đó đựng hòn đá thiêng, vật mà cụ nhận từ tiền nhân đời trước. Hòn đá đó chỉ những người có uy tín trong tộc mới được quyền cất giữ. Mặt nghiêm nghị, chậm rãi, cụ Kim nhấc hòn đá đặt lên bàn. Hòn đá to chừng nắm tay, xù xì như bao hòn đá mà mọi người vẫn thấy nơi bờ suối, bờ sông. Chỉ khác một điều hòn đá có lỗ, có thể xâu dây qua, treo lủng lẳng.

Hướng mắt lên đỉnh núi mờ sương, cụ Kim bảo, hòn đá thiêng này gắn bó với cộng đồng người Thủy khi mọi người thiên di xuống phương Nam. Ngày trước, khi còn ở quê cũ, tộc của cụ sở hữu một hòn đá thiêng khác. Ngày ấy, có thần linh hộ mệnh, người Mông nước hùng cường, khiến nhiều tộc khác ghen tị. Biết đối thủ có bảo vật hộ thân nên một tộc khác đã đánh cắp hòn đá rồi dùng tà thuật làm tan biến hết phép nhiệm màu.

Chính bởi chuyện này mà người Mông nước suy vong, sau cùng phải lìa bỏ mảnh đất gắn bó với mình. Khi tới quê hương mới, nguyện ước được sống dưới sự nhiệm màu, những thầy mo trong cộng đồng đã làm lễ tế linh đình khẩn xin thần linh trở lại. Và, để mong ước đó thành hiện thực, mọi người trong tộc phải tìm hòn đá thiêng mới.

Có được hòn đá độc đáo này, theo cụ Kim, cha ông cụ đã phải lặn lội vượt cả trăm ngọn núi, nghìn con đèo, lên đầu nguồn con suối có nước trong lành nhất để tìm kiếm. Tìm được hòn đá như ý rồi thì làm lễ rước thần linh vào ngự hệt như người Kinh hô thần nhập tượng.

Và, dưới sự nhiệm màu của đá, con trâu thả trên rừng béo tròn, cây lúa cắm dưới ruộng trĩu bông, con cá thả dưới ao mau lớn. Không chỉ đem lại ấm no, an lành mà theo quan niệm của người Thủy, đá thiêng còn giúp dân làng… chữa bệnh.

Ông Lý Văn Lâm - Trạm trưởng trạm Y tế xã Hồng Quang cho biết, người Thủy quan niệm, trong nhà có người ốm đồng nghĩa với việc bị con ma trên rừng nhập vào quấy phá và việc duy nhất của họ là mời thầy mo mang theo hòn đá thiêng về cúng. Lễ vật của buổi lễ trừ tà tùy thuộc vào lời mách bảo của thần linh. Thần bảo bệnh nặng thì phải cúng bằng lợn, trâu bò còn bệnh nhẹ thì cúng bằng gà, bằng chân giò lợn.

Đi tìm ánh sáng

< Lý Thị Toàn, hoa khôi của tộc người Thủy.

Khi dời về Tuyên Quang, người Thủy sống lang bạt trên các đỉnh núi cao. Nơi đầu tiên họ đến là xã Lăng Can, trước đây thuộc huyện Nà Hang, giờ thuộc huyện mới Lâm Bình. Ở đó canh tác gặp nhiều khó khăn bởi núi đá cheo leo, quen bước phiêu du, người Thủy lại di về xã Hồng Quang. Xuống núi, người Thủy học cách trồng cây lúa nước, học nuôi gia súc trong chuồng. Theo ông Mai Đình Nhiêu - Bí thư Đảng ủy xã Hồng Quang thì người Thủy sáng dạ và chăm chỉ học hành như chăm chỉ lên nương, xuống ruộng.

Ở bản Thượng Minh, ông Lý Văn Ngọc (SN 1970) là người rất nổi tiếng. Chẳng phải nhà ông có hàng chục con trâu bò hay có tòa ngang dãy dọc gì mà chỉ bởi ông là đảng viên duy nhất của tộc người Thủy và có 4 người con đều dám “vượt qua” lời nguyền của núi rừng, tìm đến ánh sáng văn minh.

Trầm ngâm bên bếp lửa, ông Ngọc chỉ về dãy núi cao như bức tường thành bao bọc bản làng: “Tổ tiên của tôi tin rằng thần linh ngự trị trên các đỉnh núi đó, chỉ có sống tại bản làng thì mới được các vị thần che chở nên ít khi người dám vượt núi tính kế mưu sinh”. Người con gái đầu tiên vượt núi đi tìm cái chữ ở nơi xa là Lý Thị Toàn, con gái cả của ông Ngọc.

Toàn sinh năm 1988, là hoa khôi của bản Thượng Minh. Người Thủy trước đây lấy vợ, gả chồng từ thủa 12, 13 tuổi. Bởi là bông hoa ngất ngây hương sắc, Toàn là trung tâm chú ý của mọi người. Thế nhưng, nghĩ đời mình không thể quanh quẩn nơi bản làng quạnh quẽ, Toàn đã không nghe tiếng đàn tính tha thiết của chàng trai người Tày, mắt không nhìn dáng hình dũng mãnh của chàng trai Pà Thẻn trong đêm nhảy lửa. Cô muốn dành tất cả cho việc học bởi cô biết chỉ có con đường đó mới khiến cô tìm được hạnh phúc cho mình.

Ngày đầu tiên Toàn rời bản về tỉnh học Trường Trung cấp Y, ông Ngọc lo lắng lắm. Ông nhờ cả thầy mo Kim dùng hòn đá thiêng kêu gọi thần linh mang lại may mắn cho con gái mình. Chẳng biết do hòn đá thiêng của thầy mo Kim linh ứng hay nhờ công chịu khó học tập mà 2 năm sau Lý Thị Toàn hồ hởi mang tấm bằng tốt nghiệp đỏ chói về nhà. Sau 1 năm công tác tốt tại xã Hồng Quang, tới năm 2009, Toàn được người dân tín nhiệm bầu làm Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ xã.

Theo bước chân của chị, Lý Thị Hạnh, cô con gái thứ 2 của ông Ngọc đã dùi mài kinh sử và thi đỗ vào Học viện Hành chính Quốc gia, theo học mãi tận Hà Nội. 2 cậu em trai cũng đang gắng sức theo nghiệp bút nghiên tại trường cấp 3 huyện. Tấm gương của chị em Toàn khiến nhiều gia đình trong bộ tộc Thủy ở thung lũng Thượng Minh bây giờ đã cho con em vượt qua các dãy núi thần linh để tìm kiếm tương lai cho bộ tộc mình.

Xã Hồng Quang có hơn 3.000 khẩu và 7 nhóm dân tộc Mông, Dao, Tày, Pà Thẻn, Kinh. Sống giữa cộng đồng các dân tộc nơi đây với số lượng thành viên quá ít ỏi, do đó dân tộc Thủy bỏ tập quán nội hôn. Trong các gia đình người Thủy hiện nay, việc có nhiều thành phần dân tộc như bố người Thủy, mẹ người Pà Thẻn, con dâu cả người Dao, con dâu thứ người Mông, cháu ngoại người Tày không phải là hiếm nữa, dẫn đến sự pha trộn phong tục tập quán trong mỗi gia đình. 

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ Danviet, Suckhoedoisong

Wednesday, 12 October 2011

Quá trình hình thành của trái đất được hoàn thiện mất 10-20 triệu năm, kể từ sau vụ nổ vũ trụ Big Bang xảy ra cách đây 13,7 tỉ năm. Từ những niên đại địa chất được mở ra là lúc những con sông, dòng thác diễm lệ xuất hiện, rồi định dạng, hiện hữu từ trong trật tự biến thiên của tự nhiên. Vì vậy, những dòng thác thiên nhiên là quà tặng vô giá của tự nhiên dành cho con người, phúc lợi trời đất. Chỗ nào trên trái đất này đều vậy, mà ngay tại Nam Tây Nguyên này cũng chẳng khác. Thế rồi, có một ngày con người bỗng nhớ nó... *Khám phá dòng thác chết

Dòng thác, dòng cảm xúc...

< Một du khách người Đức vớt vát chút “dung nhan” còn lại của thác Liên Khàng.

Đưa tay chỉ xuống phía xa ngay sau nhà, cụ bà Thân Thị Huệ 92 tuổi ở Khu I, phường Lộc Phát, Tp. Bảo Lộc tâm tình rằng 27 năm trước hàng ngày nghe tiếng ầm ầm của thác đổ, bà cảm giác về sự thanh khiết của tự nhiên, hoang sơ và êm ái. Bà rằng, nỗi tiếc nhớ về dòng thác Da M’rông nằm ngay giữa đô thị Bảo Lộc rất da diết, vì "nếu thác ở xa, tận rừng sâu thì không phải nhớ đến vậy.

Cả thời trẻ của tôi ngắm nhìn, gắn bó, và yêu nó như da thịt, một dòng thác mang nguồn nước từ vùng Tân Rai chảy về". Nghệ sĩ nhiếp ảnh Phạm Bình của Bảo Lộc kể ngày đó, lúc thác Da M’rông còn anh thường trực ở đấy để chụp hình dịch vụ kiếm sông, lưu giữ ảnh ký niệm cho mọi người.

Thác Liên Khương trước khi có thủy điện:
Không người Bảo Lộc nào không lấy dòng Da Mrông làm chốn tham quan, giải trí, đi picnic, cắm trại, tìm tới nó, đến độ Chính quyền còn đưa Hội Xuân (Tết về), tổ chức Hội chợ thương mại... ngay cạnh thác cho độc đáo, thú vị. Những người dân say sưa kể về cảnh quan của xứ sở, trong đó có niềm tự hào rằng dòng thác xứ sở đi vào điện ảnh, làm bối cảnh chính như cho bộ phim nổi tiếng "Xác chết trên cao nguyên"...

Và thác Liên Khương bây giờ:




Và năm 1985, người ta "khai tử" nó bằng việc ngăn một con đập ngay mép đỉnh thác. Con đập để dẫn nguồn nước tự nhiên quay đầu, rẽ sang trái, tích nước chảy vào Nhà máy thủy điện Lộc Phát cách thác vài trăm mét để phát điện. Cái Nhà máy thủy điện Lộc Phát công suất dù chỉ 0,6Mw (tức chưa đầy 1Mw) này lập tức làm "biệt xứ" cả một miền cảm xúc, chốn vui thú duy nhất giữa lòng đô thị của người dân xứ B’lao.

Hôm nay (năm 2010), tôi tìm về con thác này, người trực Nhà máy thủy điện Lộc Phát bảo có những tháng mỗi ngày Nhà máy chỉ chạy được vài giờ đồng hồ là nghỉ, vì hết nước; nhưng cái đập ngăn vẫn lạnh lùng bóp chết "đời thác". Chính anh cũng bảo sản lượng điện chỉ hơn 1 triệu Kwh mỗi năm mà Nhà máy Thủy điện nhỏ này tạo ra hiệu quả không thể lớn bằng cảm xúc, ý nghĩa cho cả cộng đồng - "Giá mà dành nó để làm thắng cảnh văn hóa, du lịch, xã hội thì hiệu quả kinh tế sẽ cao gấp ngàn vạn lần".

< Hãy so sánh ảnh  đầu bài chụp thác Pongour và ảnh bây giờ...

Rảo ngược về phía thượng nguồn. Thả bộ xuống đáy sâu của dòng thác được mệnh danh là " Nam Phương đệ Nhất thác", Thác Pongour, ở địa bàn xã Tân Thành, huyện Đức Trọng, một cảnh hoang tàn (chứ không phải hoang vu) bày ra. Con thác huyền thoại với huyền thoại về một Tình yêu đẹp của đôi trai gái K’ho, và là nơi nổi tiếng với "Lễ hội Pongour rằm tháng giêng" không còn dập dìu lữ khách tham quan nữa. Ghế đá lăn lóc, lối đi xói lở, căn nhà điều hành thẳng cảnh này (Cty du lịch Đất Nam quản lý) cũng im ỉm đóng cửa...

Nhìn lên dòng thác hùng vĩ chỉ trơ ra vách đá đen ngòm, không thấy dòng nước tung trắng xóa như ngày xưa. Tôi băng qua những vách núi, bãi đá trơ ra không còn nước phủ, dù tấm bảng phong danh, xếp hạng thắng cảnh Quốc gia (vào năm 2000) của Thác này vẫn sừng sững khắc dính bằng đá quí nơi đầu lối vào thác. Những người dọn vệ sinh cho thác bảo nơi đây trước kia các đoàn làm phim từ Sài Gòn, Hà Nội... thường vào đây lấy khung cảnh để đóng phim, nhiều vô kể, mà gần nhất có thể nhớ là phim "Sương gió biên thùy"...

< Pongour chỉ còn trong tác phẩm...

Dòng thác kiêu hùng đã "chết" kể từ tháng 5/2007, khi Nhà máy Thủy điện Đại Ninh cách đấy chừng ba cây số theo đường chim bay ngăn đập, chặn dòng sông Đa Nhim (có đoạn dân gọi là sông Đồng Nai, hay Đạ Đờn, Đâ Dâng...). Đơn vị quản lý thác, Giám đốc Cty du lịch Đất Nam Vũ Văn Xê, đến từ Tp.HCM, bảo từ đó ông sống lây lất trong số phận của dòng thác huyền thoại, vì "hết nước du khách đến để làm gì!". Ông Xê bảo rằng, khi nào trời có mưa thì thác có chút nước, cứ thế "chết đi sống lại" liên tục, bởi mùa khô thì hồ Thủy điện Đại Ninh không chịu xả nước, trữ nước để phát điện,họ chỉ xả khi thừa có lũ về để giữ an toàn cho đập.

Không riêng ông Xê, vài nhân viên lèo tèo còn lại để giữ cái xác của thác tâm tư rằng ở bên thác mà nhiều khi cũng nhớ Thác Pongour. TS. Đặng Văn Bài - Cục trưởng Cục di sản (Bộ VH-TT-DL) khi hay tin Thác Pongour "chết" đã bay vào. Sau khi nhìn nó, trầm ngâm, rồi ông quyết định: "Không rút lại bằng xếp hạng danh thắng quốc gia. Cứ để đấy tính tiếp, vì ngày xưa nó quá đẹp!".

< Thác Sao va (Xao va) ngày xưa:

Những ngày mưa lũ vừa qua, dong xe máy về hướng Phú Hội, cũng huyện Đức Trọng. Đứng nơi thác Gougah, dòng thác xưa nối với lòng hồ Thủy điện Đại Ninh bằng hình cảnh một biển nước liền mặt, mênh mông. Đúng như ai đó bảo bây giờ ở khu vực thác Gougah (cũng là thắng cảnh xếp hạng Quốc gia từ mười năm trước) chỉ có thể tổ chức hội đua thuyền, mà cư dân quanh vùng lại không có truyền thống này.

Rảo bước vào ngọn đồi bên trên thác, là khu thắng cảnh liền sát để trông nam thác, tất cả đều lạnh tanh, không một bóng người. Chủ quản dòng thác, bà Phạm Thị Kim Loan - Giám đốc Cty TNHH Du lịch Tài Nhân: "Tôi chết đứng như thế, từ cái ngày dòng thác biến mất".
Thế đấy, Thủy điện Đại Ninh ra đời, biến một thác nước thành " hồ", và một thác thành bãi đá cổ trơ trọi, hoang mạc.

< Và thác Sao va bây giờ.

Ngược lên hướng Finom, dừng lại bên thác Liêng Khàng (cũng thắng cảnh xếp hạng Quốc gia), Thị trấn Liên Nghĩa, Đức Trọng. Đứng nhìn xuống thấy mùa hoa dã quỳ vàng đang nhuộm vàng dòng thác, và con thác chợt sống lại thật dễ thương trong khoảnh khắc nhờ Thủy điện Đa Nhim xả lũ để bảo vệ đập hồ tích nước Đơn Dương. Một tuần sau quay xuống, thác Liêng Khàng cùng lòng sông Đa Nhim bên trên ngút dài là một bãi đá đen xen trong "rừng" cây bụi mai dương.

Đến lượt thác nào nữa?        

Khi hỏi ngành Văn hóa Lâm Đồng rằng khi người ta làm Thủy điện có tham vấn các anh về các danh lam thắng cảnh trên các sông, suối? Giám đốc sở VH-TT-DL Lâm Đồng Đỗ Văn Thể: "Thủy điện Quốc gia, nên mọi thứ từ trên xuống. Chúng tôi chỉ biết khi thấy thắng cảnh biến mất, không còn xứng đáng là danh thắng văn hóa Quốc gia nữa, thì ngậm ngùi làm văn bản kiến nghị tỉnh đề nghị lên Trung ương xin rút tên "Di tích Lịch sử - Văn hóa" cho các thác này thôi!".

Cty Du lịch Đất Nam bảo đã đổ 15 tỉ đồng vào Khu du lịch thác Pon Gour, kể từ năm 1998 đến năm 2007. Cùng đó các hạng mục trồng rừng, xây dựng khu dã ngoại, hệ thống Bungalow... để dừng lại, kể từ lúc thác "chết". Bên thác Gougah, Cty TNHH Tài Nhân cũng cho biết đã đổ vào 10 tỉ đồng đầu tư cho khu thắng cảnh này, kể từ năm 2003.

< Thác Gougah hồi chưa có thủy điện.

Nhà máy thủy điện Đại Ninh, thuộc EVN - Tập đoàn Điện lực VN - có đền bù gì không? Cả Cty Đất Nam và Tài Nhân đều ngậm ngùi: "... Không đền bù lấy một đồng! Mọi việc họ cứ như "án tử hình" cho hai thác nước, như là điều tất yếu mà chúng tôi phải chấp nhận vậy. Họ cứ tỉnh rụi giáng xuống, còn chúng tôi không biết kêu ai cả.!". Bà Kim Loan tâm tư là hiện mỗi tháng bà phải xoay xở 11 triệu đồng bằng việc khác ở Tp.HCM để chi trả công người giữ những cây xanh đã trồng thành rừng bên trên thác Gougah... Bà bảo mấy năm trước cùng du khách, bà ra ngắm thác đổ, nghe thiên nhiên reo, còn nay là ra ngắm... hồ.

< Thác Gougah... sắp ngập...

Xuôi về Di Linh, ghé qua dải núi rừng giáp các xã Tân Nghĩa-Đinh Lạc-Tân Châu, ngập tràn cà phê, còn dăm ba chỏm rừng lá rộng sót lại có dòng thác Khói nằm trên sông Đồng Nai. Chủ tịch xã Tân Thành Lê Ngọc Chánh báo tin năm tới thác này sẽ "chết", chìm dưới lòng hồ Thủy điện Đồng Nai II của Cty Trung Nam đầu tư; hiện việc giải tỏa đã xong.

Còn lúc la cà thị trấn Di Linh, nơi có dòng thác Bobla nằm ở xã Liên Đầm, người quản lý thác tên Châu Trung Linh cho biết Công ty Dalat Toserco của ông đang lập dự án xây dựng một thủy điện 7Mw cách đầu thác chừng 3 cây số, trên dòng suối chính Da Riam.

< Và Gougah cũng biến mất dưới lòng hồ.

Lên tiếp Thị trấn Nam Ban, nơi có thác Voi nằm ngay trong lòng thị trấn, Chủ tịch Thị trấn Thái Văn Mai khẳng định đang có một dự án Thủy điện công suất 4Mw sẽ xây dựng nay mai cách thác chừng 500m... Như những gì đang diễn ra khắp nơi, như kiểu thủy điện đang bày binh bố trận khắp nơi, đố ai biết nay mai các dòng thác này tồn tại ra sao.

Động vọng từ dòng thác chết...

Sau cuộc hành hương về Thác nước khắp xứ Nam Tây Nguyên, về ngồi lật lại tài liệu thì nhận ra tỉnh Lâm Đồng 20 năm qua trong Nghị quyết luôn nêu rõ du lịch là Ngành kinh tế mũi nhọn, động lực. Ông Nguyễn Vũ Hoàng_một đạo diễn lễ hội ở tỉnh Lâm Đồng từng đề nghị tỉnh nên hình thành một "Lễ hội thác nước" cho độc đáo.

Phó chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng Trương Văn Thu đắc ý khen ngợi ý tưởng tuyệt vời của chàng đạo diễn này. Nhưng nay tôi đi hỏi các Ngành rằng địa phương có qui hoạch cho Thác nước chưa? Thì lộ ra không đâu trả lời được, ngoại trừ sở Công Thương có đưa ra bản Qui hoạch thủy điện vừa và nhỏ (do UBND tỉnh ban duyệt vào cuối năm 2008, sau khi hàng chục thủy điện đã ra đời!).

< Một trong rất nhiều sát thủ thác, rừng...

Đi hỏi giám đốc sở Văn hóa - Thể Thao - Du lịch Lâm Đồng Đỗ Văn Thể, số lượng thủy điện trên địa bàn hơn 70 cái thế có ảnh hưởng đến tài nguyên du lịch, chiến lược du lịch ở xứ du lịch? Ông Thể cẩn thận: "Có vẻ... hơi nhiều!". Hỏi, khi cho ra đời một dự án Thủy điện có tham vấn hay mời Ngành Văn hóa - Du lịch phản biện? Ông Thể lại dè dặt: "Rất...ít". Hỏi, mất thác, ông có xót? Ông Thể: "...Làm sao không xót được!". Ông Thể tiếp: "Phải làm thủy điện thì mới có năng lượng, phục vụ phát triển kinh tế, xã hội. Nhưng giá mà mọi thứ phát triển đều đặt lên bàn cân cẩn thận, vừa phải; tiến triển hài hòa!".

< Thác Da M'rông khi “còn sống”.

Đi hỏi ông Nguyễn Vinh Phúc, Tổng thư ký Hiệp hội du lịch Lâm Đồng nghĩ sao về thác nước và Thủy điện? Ông Phúc: "Thác nước là tài nguyên du lịch, văn hóa, thứ tài sản thiên nhiên không thể sinh ra thêm, mất là vĩnh viễn. Lâm Đồng được xem xứ du lịch, du lịch thác và hồ, rừng thông, là đặc thù, mất nó là... hết mạnh". Ông Phúc dẫn ra rằng nội hồ Xuân Hương nạo vét, xây cầu trong năm qua đã cho thấy nền du lịch Lâm Đồng năm nay “thê thảm", mất hấp dẫn, niềm tin đến cỡ nào trong lòng du khách.

Rồi lại đi hỏi ông Nguyễn Mạnh Hùng, Phó khoa Khoa học Môi Trường của Trường ĐH.Yersin đóng trên địa bàn Đà Lạt. Ông Hùng nói: "Khi thiên nhiên bị cưỡng bức quá lớn, sông suối bị chặn lại liên tục thì cuộc đời dòng sông không còn là sông, cuộc đời con suối không còn là suối!". Ông thêm: "Khi thiên nhiên bị "nghẽn", trật tự kiến tạo ngàn vạn năm của tạo hóa..., không biết tai họa gì rồi sẽ diễn ra trong tương lai!".

Sơ đồ thuỷ điện trên hệ thống sông Đồng Nai, sông La Ngà và sông Bé chằn chịt. Các sông khác ở Tây nguyên cũng không thoát cảnh ngộ này:
Còn đây là ý kiến của ông Huỳnh Lê Trung, chuyên viên thuộc Tập đoàn Điện lực VN - người chuyên quy hoạch thủy điện suốt 31 năm qua. Ông Trung bảo: "Ngay ở nước kém phát triển hơn VN là Lào, khi xây dựng bất cứ Nhà máy thủy điện nào bao giờ họ cũng đặt Nhà máy phát điện ở hai đầu: một đổ nước xuống đường ống cho Nhà máy chính, và một nhà máy phụ nhỏ hơn để phát ở đầu ngược lại với đường ống phụ. Vì sao như thế? Vì vậy nó sẽ không tạo ra đứt khúc các dòng sông, dòng sông vẫn sống, thác vẫn sống!".

Vị chuyên gia thủy điện nổi tiếng này tâm tư: "Rất lạ ở VN! Không thấy ai, chỗ nào đòi hỏi Nhà đầu tư nguyên tắc này cả - Họ không hiểu biết để mà đòi hỏi, hay xem nhẹ, không chú trọng và thật lòng trong bảo vệ sinh thái, môi trường sông ngòi, văn hóa thiên nhiên? Trong khi với nhà đầu tư vào thủy điện dĩ nhiên lợi ích là mục tiêu "số 1"; và cứ thế người ta lách cơ chế cùng sự buông dễ cốt cho suất đầu vào tư vào một dự án thủy điện tốn kém ít hơn...".

< Thác Liên Khàng (nay).

Vậy có nghĩa là "tư duy xây dựng thủy điện kiểu VN" sẽ còn thách thức các dòng Thác trác tuyệt của thiên nhiên ban cho mọi người, nhất là ở dải đất Nam Tây Nguyên này.

Và nếu tìm các thông tin về những thác đã chết vì thuỷ điện thì sẽ thấy vô số, ví dụ như:

Thác Liên Khương, Gougah và Pongour từng là ba thác nước hùng vĩ và đẹp nhất trên sông Đa Nhim. Thác Liên Khương (hay Liên Khang) có tên cũ là Liên Khàng theo tiếng K'Ho, tọa lạc tại ngã ba Liên Khương, cách Đà Lạt chừng 27km, cách sân bay Liên Khương khoảng 1km. Trước đây là một thác nước hùng vĩ, rộng gần 200m, cao 50m, nay thác Liên Khương đã cạn nước, không còn mở cửa phục vụ khách tham quan.

< Thác Liên Khàng (xưa).

Thác Pongour cách Đà Lạt 50km, còn gọi là thác Bảy Tầng bởi từ trên xuống dưới có bảy tầng đá. Thác cao gần 40m, rộng trên 100m, bao quanh là khu rừng nguyên sinh rộng khoảng 2,5ha. Pongour là thác nước duy nhất ở VN có ngày hội hằng năm vào rằm tháng giêng (Nguyên tiêu). Khi đập thủy điện Đại Ninh tích nước để sản xuất điện thì vào mùa khô thác Pongour trở thành thác "chết", lượng du khách ngày càng giảm.

Thác Gougah còn có tên gọi là thác Ổ Gà, nằm sát quốc lộ 20, cách Đà Lạt chừng 37km. Thác được tạo thành bởi dòng Đa Nhim chảy qua thị trấn Liên Nghĩa, đến địa phận xã Phú Hội gặp đứt gãy và đổ xuống độ sâu 30m. Hiện nay thác đã biến mất dưới đập nước của Nhà máy thủy điện Đại Ninh.

Thác Bảo Đại còn có tên là thác Jraiblian - nghĩa là thác Đá Cao. Dòng nước từ ngọn suối trên cao chảy xuống rất mạnh, đổ qua một vách đá cao sừng sững trên 30m, mang theo màu đỏ của đất bazan nên thác có màu đỏ đục. Nhưng nước buông mình xuống cái hồ nhỏ bên dưới thì tung bọt trắng xóa. Thác này là 1 trong 2 dòng chính cung cấp nước cho thủy điện Tà Hine, thủy điện Đại Ninh, vì vậy thác có thể sẽ bị ngập trong hồ Đại Ninh mùa mưa.

< Thác Bảo Đại.

Thác Bản Giốc: Đập và nhà máy thủy điện Bản Rạ đang được xây dựng chắn ngang con sông Quây Sơn, con sông duy nhất đổ về thác Bản Giốc. Theo PGS.TS Nguyễn Đình Hòe, trưởng ban phản biện xã hội, Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường VN cho rằng, nếu đặt thủy điện ở vị trí đó, thác Bản Giốc có thể bị khô và phần thác của Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng nhiều hơn vì ở vị trí thấp hơn.

Hai ngọn thác gồm Drây Sáp, Drây Nur nằm trên dòng Sêrêpôk (Đắk Lắk) vốn được coi là biểu tượng của Tây nguyên, thu hút mỗi năm hàng ngàn lượt khách du lịch... Hiện nay mặc dù ngay giữa cao điểm của mùa mưa Tây nguyên nhưng đi dưới các dòng thác khách cứ ngỡ như đang giữa mùa đại hạn vì thác rất ít nước, chỉ chảy chảy róc rách do dòng Sêrêpôk khi đi qua khu vực này đã bị “san” hết nước chảy theo đường ống chạy tuốcbin ở hướng khác (Ở phía thượng nguồn, trên địa bàn xã Nam Ka (Lắk, Đắk Lắk) và xã Quảng Phú (Krông Nô) là đập thủy điện Buôn Tu Shar, kế tiếp là đập thủy điện có công suất lớn thứ hai ở Tây nguyên Buôn Kuốp, xuôi về hạ nguồn là đập thủy điện Drây H’Linh và phía dưới là thủy điện Đồng Nai 3, Đồng Nai 4...)

< Thác Bảo Đại thoi thóp.

Còn rất nhiều những cánh rừng nguyên sinh, những thác đẹp khác sẽ chết hoặc bị ảnh hưởng ít nhiều do các thủy điện vừa và nhỏ liên tục mọc lên.

- "Phải làm thủy điện thì mới có năng lượng, phục vụ phát triển kinh tế, xã hội. Nhưng giá mà mọi thứ phát triển đều đặt lên bàn cân cẩn thận, vừa phải; tiến triển hài hòa!" - Giám đốc sở VH-TT-DL Lâm Đồng Đỗ Văn Thể.
- "Thác nước là tài nguyên du lịch, văn hóa, thứ tài sản thiên nhiên không thể sinh ra thêm, mất là vĩnh viễn..." - Ông Nguyễn Vinh Phúc, Tổng thư ký Hiệp hội du lịch Lâm Đồng

Nên dừng thủy điện vừa và nhỏ

Trong phiên trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội hôm 22-11-2010, Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng đã thừa nhận thủy điện vừa và nhỏ ở miền Trung và Tây nguyên không hiệu quả.

90 nhà máy thủy điện vừa và nhỏ hủy hoại cả ngàn hecta rừng, nhưng chỉ mang lại một nguồn điện nhỏ nhoi bằng 2/3 một nhà máy nhiệt điện! Có thể nói đây là lần đầu tiên một quan chức cao cấp của Chính phủ thừa nhận điều đó.

Theo số liệu của ông Vũ Huy Hoàng cung cấp, ở khu vực miền Trung và Tây nguyên có đến 230 dự án thủy điện vừa và nhỏ (công suất dưới 30MW). Trong đó đã có 38 dự án bị thu hồi, 90 dự án đã triển khai. Nghĩa là còn đến 102 dự án chưa bắt tay thực hiện. Và chúng ta thử hình dung: chỉ mới 90 dự án triển khai mà miền Trung nước ta mấy năm nay điêu đứng như thế nào vì lũ lụt, thì khi làm hết cả 102 dự án còn lại sẽ như thế nào?

Cũng theo số liệu của ông Vũ Huy Hoàng, tổng công suất của 90 dự án thủy điện vừa và nhỏ đã được thực hiện chỉ đạt 500MW! Trong khi đó, chỉ một nhà máy nhiệt điện tại Cà Mau, tổng công suất đã đạt đến 750MW.

Vẫn biết nhiệt điện không phải là phương án tối ưu hiện nay về mặt môi trường, nhưng nếu đặt bên cạnh các nhà máy thủy điện vừa và nhỏ thì có lẽ không khó lắm để thấy cái giá phải trả cho bên nào lớn hơn. Bởi theo tính toán của các nhà khoa học đưa ra tại cuộc tọa đàm về lũ lụt ở miền Trung và Tây nguyên diễn ra hồi tháng 11 năm ngoái, “Để tạo ra 1MW điện phải lấy đi ít nhất 10ha rừng. Để có được 1.000ha làm thủy điện, phải san bằng 1.000 - 2.000ha đất ở thượng nguồn để làm đường vận chuyển...”.

< Làm sao giữ mãi cảnh này?

Nếu áp dụng công thức này vào 90 nhà máy thủy điện vừa và nhỏ đã triển khai ở miền Trung và Tây nguyên, chúng ta đã mất cả trăm ngàn hecta rừng! Ở đây, không cần tranh luận rằng những cơn đại hồng thủy vừa qua ở miền Trung có phải do thủy điện xả lũ hay không, mà chỉ cần thấy mất rừng nhiều như thế là tác hại lớn như thế nào cho việc giữ nước, giảm lũ - một điều ai cũng phải nhìn nhận rừng đóng vai trò quan trọng.

Hiện nay có một lập luận từ những người ủng hộ làm thủy điện đưa ra, đó là sẽ trồng rừng để đền bù những gì đã mất cho thủy điện. Ông Lương Vĩnh Linh - giám đốc vườn quốc gia Cư Yang Sin - kể với báo chí một chuyện như sau: Một đội khảo sát cho một dự án thủy điện nhỏ đã rầm rộ xông thẳng vào rừng. Họ đưa ra bản cấp phép khảo sát của lãnh đạo tỉnh và nói: “Yên chí, chúng tôi phá đi 1ha sẽ trồng lại cho anh 10ha!”. Ông Linh nổi nóng: “Đừng có hồ đồ, 1ha còn không trồng được chứ đừng nói 10ha!”. Vị chuyên gia tư vấn đỏ mặt tía tai: “Sao coi thường người ta quá thể vậy?”.

Ông Linh chỉ tay lên ngọn núi xanh mờ: “Anh nhìn kia, từ dưới mặt đất trở lên đến hơn 30m là cả một hệ sinh thái vô cùng hoàn chỉnh, từ rêu địa y cho đến hàng chục, hàng trăm tầng lớp giống loài động thực vật. Cả núi tiền cũng chả làm ra được dù chỉ vài mét vuông rừng nguyên sinh hay một thân cổ thụ nghìn năm tuổi, chứ đừng nói tới tiền tấn!”.

< Nơi từng tồn tại thác Da M’rông.

Thủy điện vừa và nhỏ không hiệu quả nhưng lại gây hại lớn. Vậy thì cách hay nhất là hãy dừng lại tất cả các nhà máy chưa triển khai.

Vì 12MW, phá 110ha rừng quốc gia

Cho tới bây giờ nhiều người vẫn không thể lý giải tại sao một công trình thủy điện công suất chẳng thấm vào đâu như Nhà máy thủy điện Krông K’mar (công suất chỉ 12MW) lại được ngang nhiên chắn vào hông rừng quốc gia Cư Yang Sin, gây tác động xấu đến hệ sinh thái, phá vỡ cảnh quan của rừng quốc gia.

< Thác Krông Kmar và... đập nước, xem ra còn may mắn tồn tại vài tháng trong 1 năm.

Trước đây, thác Krông K’mar được ví như “dải lụa đào vắt dọc giữa rừng thiêng” Cư Yang Sin, thì nay dải lụa đó đã bị cắt ngang! Một cảm giác vừa hụt hẫng, vừa đau xót trong chúng tôi khi tìm về thác Krông K’mar (huyện Krông Bông, Đắk Lắk). Một người bảo vệ tại khu du lịch này cho biết kể từ khi nhà máy thủy điện đi vào hoạt động thì khách du lịch tới thác vắng hẳn.

Nhiều người dân sống tại đây cho biết vào mùa mưa thác còn nhiều nước chứ tới mùa khô là con thác này biến thành “thác chết” vì nhà máy thủy điện chặn dòng để trữ nước.

Giám đốc ban quản lý vườn quốc gia Cư Yang Sin, ông Lương Vĩnh Linh, giọng đầy vẻ bất lực khi nói về công trình thủy điện Krông K’mar: “Lúc biết dự án thủy điện này sẽ động chạm vào rừng thiêng, tôi quyết liệt phản đối nhưng rồi người ta vẫn cứ làm. Điều đau xót nhất là 110ha rừng bị mất để nhường chỗ cho công trình thủy điện chỉ 12MW này, và đặc biệt là hệ thống thủy sinh của gần 8km dòng thác dẫn từ khu vực lòng hồ xuống địa điểm đặt nhà máy thủy điện bị biến đổi hoàn toàn”.

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ Báo Lâm Đông, Tuoitre, Baomoi và nhiều nguồn khác.

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống