Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Friday, 14 October 2011

Nghĩa Lộ-là một thị xã nhỏ nằm ở phía tây tỉnh Yên Bái, mang đậm bản sắc của các dân tộc thiểu số vùng cao, là cái nôi văn hóa đa dạng sắc màu của các dân tộc anh em, nơi này đã cuốn hút hàng nghìn du khách trong nước và quốc tế.

< Tắm suối, tục gần gũi với đời sông người dân tộc Thái Nghĩa Lộ.

Ngoài những cảnh đẹp của vùng lúa vàng lòng chảo Mường Lò, còn là cuộc sống của những người Mông, Thái, Mường, Tày cùng với một số nhỏ người H’Mông, Kh’Mú, Dao... gắn bó sinh sống hàng bao đời nay với những nét đặc sắc riêng của họ.

< Đường đi Nghĩa Lộ.

“Chiều mùa thu nắng vàng như mật khi nhắc tên Đèo Ách, Cầu Nhì”, phải đi qua một chặng đường dài quanh co sườn dốc. Người không quen đi xa có thể sẽ cảm thấy mệt mỏi và say lử vì đường đi vất vả nhưng vào đến Nghĩa Lộ rồi bạn sẽ cảm nhận một không khí trong lành và tình người ấm áp.

Thị xã nhỏ của tôi được ấp ôm bởi núi trùng điệp tạo thành một mảnh đất lúa gạo màu mỡ-cánh đồng Mường Lò. Bạn có biết điều gì tạo nên sức hút cho mảnh đất của tôi không? Chắc chắn đó không phải là những danh lam thắng cảnh mê hồn mặc dù Nghĩa Lộ cũng chẳng thiếu gì đâu những chốn đẹp để đi mà là con người và ẩm thực nơi đây.

< Những thân cây chênh vênh bắt ngang con sông con suối để làm cầu.

Chụp ảnh về cuộc sống của đồng bào dân tộc nơi đây không phải để thỏa mãn sự tò mò về người dân tộc thiểu số, mà để thể hiện, phản ánh đời sống mới của cộng đồng các dân tộc anh em, thể hiện tình cảm chân thành, sự đồng cảm với những con người nơi đây.

Có đi mới biết sự gian nan vất vả để có được bức ảnh về những người đang lao động trên cánh đồng, trên luống chè uốn lượn vòng cung...

< Người Thái trắng, Thái đen đang cần mẫn ngồi bên khung dệt.

Mùa nào thức đó, Nghĩa Lộ có đồ ăn ngon cho cả bốn mùa. Đặc biệt nhất vẫn là mùa đông xuân, lễ hội. Đến nơi đây, bạn sẽ ngồi bên bếp lửa bập bùng của ngôi nhà sàn ấm cúng rồi hít hà mùi thơm của những thớ thịt sấy bằng gia vị của núi rừng.
Thịt được treo trên bếp lửa ăn dự trữ trong những ngày đông giá lạnh, rất đặc biệt và hấp dẫn bạn ạ. Ăn món này với xôi ngũ sắc và uống rượu cần rồi cùng người dân tộc ca hát đêm khuya. Tôi chắc rằng nếu chỉ một lần đến mà được sống và tận hưởng dù chỉ một ngày thôi cũng đủ để làm bạn nhớ suốt cả cuộc đời.

< Thiếu nữ dân tộc Thái.

Đến đây, bạn cũng sẽ bắt gặp những nụ cười thân thiện, những cái xiết tay nồng ấm và sự chào đón thân tình của người dân nơi này. Những thiếu nữ dân tộc Thái trong bộ trang phục truyền thống cực kỳ duyên dáng và uyển chuyển trong điệu múa”trồng bông,dệt vải” hay”múa xoè”.

Khi đi xa rồi, tôi mới thấy tự hào về Nghĩa Lộ của mình biết mấy. Mặc dù là người Kinh chính gốc nhưng vì sống ở miền núi nên thỉnh thoảng tôi vẫn được mọi người gọi là “cô gái dân tộc”. Lời nói đó làm tôi sướng rơn và thấy tự hào biết bao nhiêu.

< Bờ sông đã từng là nơi hò hẹn của bao cặp gái trai...

Bài hát hay được các cô gái Mường Lò-Nghĩa Lộ hát nhất là bài "Anh có vào Nghĩa Lộ...", nhạc Trọng Loan phổ thơ Hoàng Hạnh:
Chiều mùa thu, nắng vàng như mật
Khi đã nghe đèo Ách, cửa Nhì
Khi đã nghe tiếng rừng gió hút
Anh có vào Nghĩa Lộ với em không?

Tôi leo lên một đỉnh núi ở xã Suối Giàng, nơi người Mông gắn bó hàng bao đời nay với những cây chè cổ thụ. Suối Giàng hiện lên và thu nhỏ trong ống kính, trời lất phất mưa. Ngồi chờ và điều tôi mong muốn đã đến, mây ào ạt từ chân thung lũng cánh đồng Mường Lò lên, nhấp nhô những ngọn cây chè san tuyết, những tia nắng cuối cùng…

< Dẫu gì thì sông nước quê tôi cũng thật gần gũi thân thiết và ... tuyệt đẹp!

Một khung cảnh hiện ra trước mắt, tôi ngạc nhiên và không quên bấm máy. Ngày hôm sau, tôi quyết định đi xuống bản, vô thăm những người dân tộc nơi đây.
Những ngôi nhà sàn xinh xắn dần hiện ra trước mắt tôi với những mái ngói qua năm tháng đã nhuộm màu ở xã Thanh Lương, Pú Trạng, Nghĩa An. Con đường quanh qua khe, qua suối nhấp nhô ven sườn núi.

< Mùa nếp nương...

Người Thái trắng, Thái đen đang cần mẫn ngồi bên khung dệt… Cuộc sống nông thôn vẫn vậy, vẫn những công việc quen thuộc, bận rộn ruộng vườn, thời gian rỗi họ lại quây quần cùng nhau dệt, thêu.

Những tấm vải thổ cẩm được làm ra với đường nét hoa văn truyền thống chau chuốt. Ở đây, mỗi gia đình là một hợp tác xã dệt, thêu. Họ rất có ý thức lưu giữ nghề truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa, phong tục của dân tộc mình.

Mùa đông Nghĩa lộ thì đặc biệt lắm nhé. Sáng sớm bước chân tới trường cứ như là trôi trong sương vậy. Nhớ lắm cái lạnh miền núi rét buốt tê cóng đôi bàn tay, sương giăng giăng mù mịt. Tôi đã từng rất sợ mùa đông nơi này, sợ đến ám ảnh... cái cảm giác sáng sớm phải đạp xe đến trường khi mà đường mịt mù sương và gió làm tôi chẳng bao giờ quên được.

Dù có mặc cái áo khoác to sụ và quàng khăn len kín cổ vẫn cảm thấy lạnh len lỏi run run. Lúc ấy mi mắt nặng trĩu vì ướt đẫm trong làn sương buổi sớm. Nhưng trong cái rét buốt đó, tôi lại được đắm chìm trong hơi nước nóng tự nhiên từ những con suối quê hương.

< Tắm tiên đã là tập tục nhiều đời gắn liền với người dân bản địa có liên quan đến nhưng nguồn nước này.

Suối nước nóng ở Nghĩa Lộ đặc biệt ấm áp và tốt cho sức khoẻ với rất nhiều khoáng chất. Sau khi đắm chìm trong làn nước ấm đó, ăn một tấm mía hấp gừng hay một bắp ngô nướng, bạn sẽ thấy mùa đông trôi xa tự bao giờ.. Có lẽ những thứ khiến mình ghét,mình sợ lại là những điều ghi dấu ấn sâu đậm nhất trong lòng. Để khi xa rồi tôi mới thảng thốt muốn tìm lại, níu kéo lại thời gian, muốn được trở về...

< Người ta vẫn tắm tiên ở suối nước nóng Bản Bon, Văn Chấn - Nghĩa Lộ.

Nghĩa Lộ của tôi không hiểu vì quá bé nhỏ hay vì con người gần gũi mà hầu như người dân Nghĩa Lộ đều quen biết nhau hết thảy. Từ những người buôn bán, làm ruộng, công chức hay học sinh, sinh viên... gặp đâu cũng biêt mặt, quen tên,cũng thấy mến yêu mà cười chào tươi rói.

Người Nghĩa Lộ nhiệt tình và vui tính, con gái thường ăn nói rất nhẹ nhàng, thuỳ mị... Bất kì ai sống ở Nghĩa Lộ dù là 1 năm, 10 năm hay lâu hơn thế nữa cũng đều cảm thấy Nghĩa Lộ dịu dàng và thắm thiết biết bao nhiêu....Đôi lúc, khi ở gần, ta không thể nhận ra điều đó! Tôi nhớ Nghĩa Lộ trong từng mùa thóc lúa, từng vụ ngô khoai..

Đến chợ Mường Lò, hòa vào dòng người đang nô nức đi chợ và khách du lịch. Tôi làm quen với chị người Thái tên là Hoàng Thị Phương, 22 tuổi, cùng đứa con gái 6 tuổi, chị xuống chợ từ sớm, vừa bán hàng vừa thêu. Với đôi tay khéo léo của chị, những hoa văn dần hiện ra thật đẹp. Tôi mua hai chiếc khăn thổ cẩm do chị thêu mang về làm quà.

Ai đã từng một lần đi xa mới thấm thía nỗi nhớ nhà, nhớ từ những thứ nhỏ bé, nhạt nhoà nhất. Khi mùa thu Hà Nội nồng nàn hương hoa sữa thì tôi lại nhớ đến nao lòng hương rạ rơm thóc lúa ở nhà. Tôi thèm cái cảm giác được chân trần bước trên rơm thơm đầu vụ, được ăn bát cơm thơm lừng mùi gạo mới. Mà gạo Mường Lò vẫn nổi tiếng ngon dẻo chỉ sau gạo Điện Biên thôi đó.

Nghĩa Lộ đổi thay từng ngày, cuộc sống nơi đây cũng dần được ổn định và phát triển. Tạm biệt Nghĩa Lộ, tôi không quên những chén rượu nếp Tú Lệ, chè tuyết Suối Giàng hương thơm vị đậm cũng như phong cảnh, con người nơi đây.

Du lịch, GO! - Biên tập lại từ Baoanh Datmui, BlogViet, Photo.tamtay

Thông tin thêm:

Thị xã bao trùm toàn bộ cánh đồng lớn thứ hai của miền núi Tây Bắc Việt Nam: cánh đồng Mường Lò. Diện tích: 29,66 km², dân số: 26.000 người (2004). Thị xã gồm 4 phường: Trung Tâm, Tân An, Cầu Thia, Pú Trạng và 3 xã Nghĩa An, Nghĩa Lợi, Nghĩa Phúc. Đây là vùng khí hậu ôn hoà, địa hình tương đối bằng phẳng, tài nguyên nước có trữ lượng lớn.

< Sinh hoạt dân gian tại Tú Lệ, Nghĩa Lộ.

Có 12 tộc người cùng sinh sống trên mảnh đất này, nhiều nhất là người Thái và (44%) người Kinh, còn lại là các dân tộc Tày, Mường, Nùng...

Tuyến quốc lộ 32 chạy qua Nghĩa Lộ đi Mù Cang Chải lên Lai Châu; từ Nghĩa Lộ đi Trạm Tấu cũng chỉ 30km Thị xã Nghĩa Lộ được thành lập lần đầu tiên vào ngày 8 tháng 10 năm 1971, trên cơ sở thị trấn Nghĩa Lộ và một số bản của 3 xã Nghĩa An, Nghĩa Lợi, Nghĩa Phúc của huyện Văn Chấn. Thị xã Nghĩa Lộ khi ấy là tỉnh lỵ tỉnh Nghĩa Lộ. Trước đó ngày 8/3/1967, thị trấn nông trường Nghĩa Lộ được thành lập ở huyện Văn Chấn.

Sau khi phần lớn tỉnh Nghĩa Lộ hợp nhất với tỉnh Lào Cai và Yên Bái thành tỉnh Hoàng Liên Sơn (năm 1975) thì Nghĩa Lộ trở thành một thị trấn (ngày 4/3/1978) thuộc huyện Văn Chấn. Các tiểu khu IV, V và VI của thị xã nhập vào 3 xã Nghĩa An, Nghĩa Lợi, Nghĩa Phúc.

< Những cô gái Thái ở Nghĩa Lộ.

Ngày 20 tháng 7 năm 1991, khi tái lập các tỉnh Lào Cai và Yên Bái thì thị trấn Nghĩa Lộ thuộc tỉnh Yên Bái. Ngày 15 tháng 5 năm 1995, thị xã Nghĩa Lộ được thành lập lần thứ hai với diện tích 8,785 km² và 15.925 nhân khẩu, gồm 4 phường Trung Tâm, Tân An, Cầu Thia, Pú Trạng.

Nghĩa Lộ nổi tiếng với hoa ban, gạo Mường Lò, xôi ngũ sắc, thổ cẩm, ngòi Thia và đặc biệt là điệu xòe Thái uyển chuyển. Chợ Văn hóa Mường Lò và mạng lưới thương mại dịch vụ đã làm cho Nghĩa Lộ trở thành trung tâm kinh tế xã hội của các địa phương miền Tây Yên Bái.
Nếu có dịp đến với Gia Lai, du khách sẽ không chỉ được chiêm ngưỡng những cảnh quan thiên nhiên kỳ thú mà còn có thể tham gia nhiều tour du lịch homestay ở các bản làng dân tộc để tìm hiểu về tập quán sinh hoạt của cộng đồng dân cư sinh sống nơi đây. Trong đó, làng Tờ Nùng của người Gia Rai ở xã Ya Ma, huyện Kông Chro là một trong những nơi đang thu hút khá nhiều du khách trong và ngoài nước.

Từ Tp. Pleiku, đi theo quốc lộ 19 khoảng 69km về phía đông, du khách sẽ tới thị trấn Đắk Pơ. Từ đây rẽ phải vào tỉnh lộ 662 khoảng hơn 30km sẽ tới làng Tờ Nùng. Đường vào làng khá rộng rãi, đa phần được đổ bê tông.

Ấn tượng đầu tiên du khách cảm nhận được khi đến làng là khung cảnh bình dị mang đậm nét văn hóa của một buôn làng dân tộc vùng núi rừng Tây Nguyên với kiến trúc nhà rông, nhà sàn (nhà ở) truyền thống.

Người dân trong làng hiền hòa, mến khách. Du khách khi đến với làng sẽ cảm nhận một cách chân thực và sâu sắc nhất không khí ấm áp, dân dã qua những âm thanh cồng chiêng vang vọng giữa núi rừng bao la…

Nhà rông là linh hồn của làng và là nơi diễn ra các sinh hoạt văn hóa cộng đồng như: hội họp; lễ hội, xử kiện, đón khách...Bởi vậy nhà rông phải được dựng trên khu đất rộng ở trung tâm làng. Kiến trúc nhà rông thường đồ sộ, bề thế với chiều dài 10m, rộng 4m, cao khoảng 16m được lợp tranh hoàn toàn với mái nhà hình lưỡi rìu cao vút. Trên các vì kèo có nhiều hoa văn trang trí cách điệu miêu tả các truyền thuyết, đời sống sinh hoạt ở buôn làng, các con vật.., trong đó nổi bật là hình ảnh thần mặt trời chói sáng.

Trong nhà rông có một nơi để thờ vật thiêng như: con dao, hòn đá, sừng trâu... và khu trưng bày hiện vật mô phỏng đời sống văn hóa của dân làng như: cồng, chiêng, hình tượng người, voi... mô phỏng lại quá trình lao động của dân làng được trưng bày tinh tế và hấp dẫn phục vụ nhu cầu tham quan, chiêm ngưỡng của du khách.
Nhà rông chính là nơi thể hiện trình độ hội họa, điêu khắc cũng như sự thịnh vượng của buôn làng. Hàng ngày đều có thanh niên ngủ lại nhà rông để chăm sóc, bảo vệ.

Cùng với nhà rông, nhà sàn của người Gia Rai cũng mang những nét văn hóa đặc sắc, gồm hai kiểu: nhà dài và nhà ngắn. Nhà dài thường có chiều dài từ 13 đến 15m, chiều rộng từ 3,5 đến 3,8m và được phân thành 2 gian. Gian mang dành cho các sinh hoạt chung như: đón khách, uống rượu cần, đánh cồng chiêng; còn gian óc dành cho các sinh hoạt riêng của chủ nhà. Ngăn giữa hai gian là một hàng cột, kế bên là bếp để cúng Yàng. Khách đến chơi nhà chỉ được vào gian mang, không được vào gian óc nên kiến trúc nhà dài bao gồm hai cầu thang, một dành cho khách ở gian mang và một dành cho chủ nhà ở gian óc.

Nhà ngắn thường có chiều dài không quá 9m, chiều rộng không quá 3m, cao khoảng 4,5m. Phía trước nhà có cầu thang lên cửa chính. Giữa nhà là nơi tiếp khách. Nơi sinh hoạt của gia đình chủ nhà được bố trí ở phía bên trái nhà. Trong nhà có thể đặt những bộ chiêng, ché để thể hiện sự sung túc của gia chủ.

Làng xây dựng được một đội cồng chiêng “nhí” ở độ tuổi từ 10 đến 14. Tại liên hoan cồng chiêng các huyện phía Đông vừa qua, Kông Chro cũng là một trong những huyện có màn biểu diễn hay và đặc sắc nhất, để lại những ấn tượng đẹp cho khán giả. Nhà nào cũng có khung dệt vải và vẫn giữ phong tục làm rượu cần để dùng trong những dịp lễ, hội.

Khách cư trú tại nhà người dân địa phương, ăn, nghỉ, tham gia vào công việc trong gia đình họ để hiểu thêm về phong tục tập quán, đời sống văn hóa cộng đồng, tối đến hòa mình vào những vòng xoang nhịp nhàng bên ánh lửa bập bùng, uống rượu cần, thưởng thức cơm lam…

Hãy cùng thưởng thức, khám phá, hòa nhịp tận hưởng những phút giây yên bình với bà con buôn làng để trải nghiệm hương vị một Tây Nguyên hoang dã. Cùng với bản sắc văn hóa độc đáo và con người Gia Rai hiền hòa, mến khách, Tờ Nùng sẽ để lại trong lòng du khách những ấn tượng khó quên.

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ TCDL, DulichVN và nhiều nguồn khác
Sông Hinh là huyện miền núi của tỉnh Phú Yên với lợi thế là đất đai rộng lớn (88.460ha), chiếm gần 30% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh; địa hình bằng phẳng như một thảo nguyên lộng gió, phong cảnh thiên nhiên sông suối, núi non kỳ vĩ.

Đường đi tới Sông Hinh rất thuận lợi. Từ trung tâm thành phố Tuy Hòa theo quốc lộ 1A về hướng Nam, qua cầu Đà Rằng khoảng 1km đến ngã ba Phú Lâm rẽ phải về hướng Tây, đi khoảng 55km trên đường ĐT645 (đường số 5 đã được công nhận là Di tích Lịch sử cấp quốc gia) là đến thị trấn Hai Riêng (Trung tâm hành chính của huyện Sông Hinh). Hiện tại, trên địa bàn Sông Hinh có gần 20 tộc người sinh sống, trong đó các tộc người thiểu số chiếm gần ½ dân số.

Sông Hinh bốn phía đều là núi, đỉnh cao nhất là Chư Ninh (1.035m). Có nhiều cảnh đẹp thơ mộng với con sông lớn nhất là Sông Ba chảy dọc theo ranh giới phía Bắc với huyện Sơn Hòa, có hồ thủy điện và nhiều nhánh sông rẽ, các khe suối chảy ra từ những đỉnh núi cao.

Ngoài ra, có hồ Trung tâm ở thị trấn Hai Riêng, Bầu Hà Lầm ở xã Ealâm, hồ Tân Lập, hồ Cảnh Tây, Hồ Eađin ở xã Eabar, thác H’Ly ở buôn Kít... Và đặc biệt là vùng tam giác: Thủy điện Sông Hinh - Thủy điện Sông Ba Hạ - Thủy điện Krông Năng là tâm điểm du lịch sinh thái đa dạng, thu hút khách thập phương. Sông Hinh còn là nơi có nhiều động vật quý hiếm, từ xa xưa đã đi vào ca dao thành ngữ “Cọp núi lá, cá Sông Hinh”…là những điểm nhấn ấn tượng, không phải nơi đâu cũng có, là tiềm năng, lợi thế cho phát triển nhiều loại hình du lịch.

Với nhiều thành phần tộc người sinh sống, quá trình cận cư và xen cư tạo nên bản sắc văn hóa phong phú, đa sắc, đa hình và độc đáo; trong đó dân tộc Êđê chiếm 1/3 dân số, được mệnh danh là xứ sở của trường ca ở vùng đất miền Tây Phú Yên. Qua khảo sát dân tộc học, tác giả công trình nghiên cứu “Các dân tộc thiểu số Phú Yên” (Nguyễn Quốc Lộc – Vũ Thị Việt) đã từng nhận xét: đáng chú ý là trường ca ở đây còn “nguyên chất” hơn cả. Với một không gian phong phú về bản sắc văn hóa, những màu sắc của từng dân tộc là tài sản chung của các dân tộc anh em. Đó cũng là những sản phẩm du lịch hấp dẫn, mới lạ mà khách du lịch rất thích khám phá và tìm hiểu.

Điều hấp dẫn đối với khách du lịch khi đến với Sông Hinh là đến với đồng bào của từng buôn làng; từ sáng sớm tinh mơ, cho đến đêm khuya thanh vắng du khách có thể nghe đủ mọi thứ âm thanh, âm nhạc như tiếng diều sáo réo rắc lưng trời, tiếng đàn tơ rưng vang vọng từ suối nước, tiếng mõ đuổi chim bằng sức gió từ các chòi rẫy, tiếng véo von của các loại sáo dọc, sáo ngang của những chàng trai dùng để nói lên tiếng lòng mình với các sơn nữ; tiếng đàn tính của dân tộc Tày, đàn Tơ rưng, đàn Klôngpút ngân vang của dân tộc Êđê.

Và nhất là du khách được thưởng thức các dòng cồng chiêng Aráp của dân tộc Êđê, trống đôi, cồng ba, chinh năm của dân tộc Bana- chăm Hroi. Đến đây, du khách tha hồ tìm hiểu những tiếng cồng chiêng chứa đựng nhiều màu sắc âm điệu: Chiêng báo tin vui, chiêng của dân làng săn đuổi thú, được mùa; chiêng trong lễ thổi tai mừng trẻ sơ sinh đầy cữ, chiêng trong lễ cầu hôn nhắc nhở đôi trai gái yêu thương bền chặt, tiếng cồng chiêng xua đuổi thú dữ khi phá rẫy nương; cồng chiêng thúc giục trai tráng dân làng xung trận khi có chiến tranh và cổ vũ mọi người chiến đấu quên mình vì sự tồn vong của cộng đồng dân tộc…

Thật vui thú, được tự do, tự khám phá, trải nghiệm những điều mới lạ “cùng ăn, cùng ở, cùng làm”; được tìm hiểu các lễ hội truyền thống, lối sống, tập quán của từng tộc người; được xem đan gùi, đẽo tượng và nhất trực tiếp xem đồng bào dệt thổ cẩm. Nhiều khách nước ngoài rất mê và trầm trồ thán phục về tài nghệ dệt thổ cẩm của chị em phụ nữ Êđê, Bana, Chăm H’roi ở Sông Hinh. Thật dễ hiểu bởi họ vừa là người thợ dệt, vừa là thợ may và là thợ thêu; họ vừa là thợ thợ thủ công đồng thời cũng là một “nghệ nhân”.

Đến với đồng bào các dân tộc Sông Hinh du khách sẽ tìm thấy chất nghệ sỹ độc đáo của dân làng miền sơn cước. Nhìn những tấm khố, chiếc váy bền và đẹp là sản phẩm khéo tay, kiên trì của những người phụ nữ; những chiếc gùi trau chuốt xinh xắn là sản phẩm tỷ mỉ của các cụ già; những sản phẩm kỳ thú vườn tượng nhà mồ, sản phẩm cung ná mà tác giả chỉ là những người dân không qua trường lớp mới cảm nhận hết được sự sáng tạo độc đáo của bản sắc văn hoá tộc người…

Sau một ngày được tiếp xúc với những con người thân thiện, chất phác, cởi mở của người dân địa phương, được hòa mình vào phong cảnh hữu tình của buôn làng. Đêm về được say lòng bên ché rượu cần cùng với những làn điệu hát khan, trường ca, hát then; được thưởng thức tiếng kèn môi, đàn tính và được nắm tay múa xoan với các sơn nữ vui vầy bên ánh lửa trại bập bùng, rộn rã tiếng trống đôi, cồng ba, chiêng năm, chiêng Aráp…Toàn bộ đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số cùng với phong cảnh sông núi trùng điệp của Sông Hinh chắc chắn sẽ làm vừa lòng khách du lịch. Hãy thử một lần đến với Sông Hinh để được trải nghiệm những cảm giác khoái lạ về một vùng đất khúc ruột miền Trung của Tổ quốc.

Du lịch, GO! - Theo TCDL, internet

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống