Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Thursday, 20 October 2011

Nằm trên độ cao 700m so với mực nước biển, xung quanh có núi đá cao bao bọc, xã Khai Trung là một bình nguyên giữa miền rừng núi trùng điệp của huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái, chốn nơi cư trú của đồng bào hai dân tộc Tày và Dao.

"Năm sau mùa măng đắng
Cho anh gửi cơi trầu
Khai Trung đến lần đầu
Nghe rưng rưng lòng hát".

Qua cầu Bến Lăn, con đường bê tông chếch dần độ cao lên trời. Du khách sẽ được cảm nhận sự hòa quyện giữa hai cảm giác hiện đại và hoang sơ. Thấp thoáng đâu đó sự kỳ bí của mảnh đất Khai Trung, một cái tên mới nổi bên cạnh những cái tên khác của những tua du lịch ở tỉnh Yên Bái.
Khai Trung còn có tên khác là Thủy Điều, nghĩa là nguồn nước điều tiết đi nơi khác. Phải chăng vì vậy mà các con suối Khai Trung - nguồn sinh thủy từ núi Măng, núi Diêm đều đổ ra Lâm Thượng, xuống Tân Lĩnh để nhập vào sông Chảy dự trữ thủy năng cho Nhà máy Thuỷ điện Thác Bà?

< Núi đá Lục Yên.

Đến đây chỉ có hai con đường, đường mòn từ Lâm Thượng sang song phải đi bộ qua nhiều dốc, nhiều khe suối và đường từ Tân Lĩnh lên đã được bê tông hóa, ô tô có thể tới tận trung tâm xã. Ai đã đặt chân đến Khai Trung đều thán phục địa phương trong việc làm đường giao thông nông thôn.

Năm 1998, Khai Trung được Nhà nước hỗ trợ 80 triệu đồng mua thuốc nổ phá đá và bằng công sức của nhân dân mở con đường 16km từ cầu Bến Lăn vào xã. Rồi xã vận dụng phương thức “Nhà nước và nhân dân cùng làm” đã hoàn thành nhựa hóa cùng bê tông hóa 14km đường liên thôn. Câu chuyện lúc mới mở đường, xã trích tiền ngân sách mua 1 chiếc xe máy Minck, không với mục đích làm phương tiện đi lại mà chủ yếu lấy tiếng động cơ tác động vào giác quan mọi người để tạo niềm tin.

Nghe kể lại cứ như chuyện cổ tích... Bây giờ thì nhà nào cũng có xe máy, còn ô tô có thể chạy khắp 5 thôn, bản tựa đi trong khu du lịch sinh thái được đầu tư khá tốt về kết cấu hạ tầng. Vui chân, chúng tôi dạo qua các thôn Giáp Chảy, Khe Rùng rồi về Tác Én. Nghe bên tai, tiếng suối róc rách chảy giữa thảm lúa vàng. Những ngôi nhà sàn Tày ẩn hiện sau tán cọ trung du và những ngôi nhà của người Dao nép mình bên rừng quế tỏa hương thơm ngát. Hấp dẫn nhất vẫn là rừng sồi nguyên sinh diện tích khoảng 5 ha với những thân cây thẳng vút, lá to mỡ màng. Đây cũng là khu rừng duy nhất ở huyện Lục Yên và của tỉnh Yên Bái còn lưu giữ được nguồn gen quý hiếm.

Cổng các bản làng ở Khai Trung hình vòm như một chiếc cầu vồng hiện ra trên đỉnh dốc và cũng từ đây, con đường thoai thoải trườn xuống vùng đất bằng phẳng rồi mất hút trong màu xanh của nương, của ruộng, của cây, của sắc trời, sắc núi.

Điều đầu tiên đến Khai Trung có thể cảm nhận được ngay chính là khí hậu. Gió trời không thể thông thốc thổi vào Khai Trung. Trước khi đến với bình nguyên này, nó phải hòa quyện với khí núi đá trên độ cao lưng chừng, tạo nên cái mát dịu mà không một máy điều hòa nào làm ra được.

Lên Khai Trung mùa nào cũng thú vị nhưng có lẽ đẹp nhất là vào mùa hè và mùa thu. Đó là khi bình nguyên Khai Trung bừng lên một màu xanh mỡ màng của lúa, của ngô và của gần 100 ha đậu tương trải dọc hai bên con đường bê tông dài tít tắp dẫn vào trung tâm xã. Sang thu, cả thung lũng ấy lại nhuốm đầy một mầu vàng rực của đậu tương chín rộ.

Nắng và gió nơi bình nguyên xanh yên ả này cũng thật khác lạ: Gió ở trên cao rì rào cùng cây rừng, còn nắng thì vàng trong đùa vui nơi kẽ lá. Cuộc sống của đồng bào nơi đây chưa thực dư dả, không sơn hào hải vị nhưng cũng đủ làm vui lòng bao khách thập phương.

Rời xa cuộc sống ồn ào náo nhiệt của phố xá, bứt khỏi nhịp sống hối hả gấp gáp với bao công việc thường nhật, trở về với bình nguyên xanh Khai Trung du khách sẽ cảm nhận được cái hồn quê mộc mạc, sự dung dị đến vô tư của người vùng cao thuần phác, để tìm lại cho mình chút bình yên nơi tâm hồn, tìm về những giá trị đích thực của cuộc sống.

Du khách cũng sẽ được hoà mình cùng nhịp sống thường nhật của người dân bản địa với những tập quán sinh hoạt văn hoá còn mang đậm bản sắc riêng của từng tộc người; được thăm thú những cánh rừng tự nhiên với vẻ đẹp hùng vĩ của điệp trùng núi đá. Hoặc như du khách cũng có thể thả bộ trong rừng sồi nguyên sinh rộng trên 2ha với nhiều cây có đến cả trăm năm tuổi để tận hưởng trọn vẹn cái không gian thuần khiết của đất, của trời Khai Trung.

Khi đã thấm mệt, du khách có thể dừng chân nghỉ lại nhà sàn văn hoá hay bất kỳ một gia đình người Tày, người Dao nào trong xã để thưởng thức món đặc sản gỏi cá bỗng, món gà, thịt dê núi chế biến theo cách ăn của đồng bào Dao hoặc đơn thuần chỉ là những thứ rau rừng ngon đến lạ lùng... để rồi say mềm với chén rượu ngô thơm nồng từ chính tay chủ nhà chưng cất...

Không chỉ đẹp và quyến rũ bởi thiên nhiên hoang dã, Khai Trung còn rất nổi tiếng với hệ thống hang động đẹp ẩn sâu trong lòng những dãy núi đá vôi như hang Diêm, hang Dơi, hang Tắc Én...Ngoài ra, Khai Trung còn nổi tiếng bởi các sinh hoạt văn hóa đân tộc. Cũng là câu khắp, câu lượn nhưng âm sắc tiếng Tày của người Khai Trung làm cho câu hát thêm tình tứ thiết tha, điệu múa khăn, múa hoa thêm uyển chuyển.

Với 212 hộ, 1.096 khẩu, Khai Trung đã làm cho trên 100 ha ruộng nước, 90 ha đỗ tương, 30 ha lạc, 35 ha ngô năng suất ngày càng cao. Mặt khác, Khai Trung đẩy mạnh quy hoạch bảo vệ rừng tự nhiên, rừng khoanh nuôi tái sinh, trồng rừng mới, nuôi cá bống, chăn nuôi đại gia súc. Việc phát triển các hoạt động văn hóa dân tộc cũng chính là nền tảng vững chắc cho du lịch Khai Trung ngày thêm phát triển.

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ CTTĐT tỉnh Yên Bái, báo Yên Bái, ảnh internet
Người Tiều (Triều Châu, Quảng Đông, Trung Quốc) khi định cư ở ĐBSCL thường cư ngụ trên các mảnh đất giồng, sống chan hòa với cộng đồng người Việt và Khmer.

Nhiều người lấy vợ người Khmer, người Việt, hòa nhập cùng các lễ tục của cộng đồng nhưng vẫn giữ nét văn hóa cổ truyền của dân tộc. Có lẽ vì vậy mà trong các bữa ăn gia đình của họ có sự pha trộn văn hóa ẩm thực Việt, Khmer Nam bộ.

Người Tiều có một thứ nguyên liệu làm thành món ăn rất nổi tiếng và rất phổ biến, đó là “xái pấu”. “Xái pấu”, tiếng Tiều có nghĩa là “cải bổ”, người Việt gọi củ cải muối, được làm bằng hai nguyên liệu: củ cải trắng và muối hột.

Ở Vĩnh Châu (Sóc Trăng) đồng bào Khmer làm “xái pấu” bằng cách đào hố sâu, lót vải cao su rồi rải, cứ một lớp củ cải trắng thì phủ một lớp muối hột, trên cùng là lớp muối hột trước khi phủ kín vải cao su rồi đắp đất lại. Sau một thời gian nhất định, họ khui hầm, đã có thành phẩm.

< Củ cải trắng phơi heo héo rồi cho vào khạp da bò muối.

“Xái pấu” Sóc Trăng đã trở thành thương hiệu được khá nhiều người ưa chuộng vì có màu vàng và thơm. Tuy không có thương hiệu như “xái pấu” Sóc Trăng, nhưng “xái pấu” Cầu Kè mới là thứ “hảo hạng”.

Nghề làm xái pấu ở Cầu Kè là nghề gia truyền dòng họ Vương mang từ Sua Tháo (Sơn Đầu, còn gọi Sán Đầu, Triều Châu) sang Việt Nam. “Xái pấu” sản xuất ở đây có màu vàng đẹp mắt, lấp lánh những tinh thể muối trắng tinh, cầm không dính tay, có mùi thơm đặc trưng.
Để có 1 kg “xái pấu”, người ta dùng 5 ký củ cải trắng phơi heo héo rồi cho vào khạp da bò muối. Cứ một lớp củ cải là một lớp muối hột. Trên mặt phủ lớp muối dày.

Sau 2 hoặc 3 ngày phơi nắng, giở nắp khạp lấy cải ra, đổ bỏ nước rồi muối lại như vậy với lượng muối ít hơn. Đến ngày thứ 6 thứ 7 thì ém cứng củ cải trong khạp (đã phơi nắng thật khô), phủ lớp muối hột kín mặt, trét xi măng hoặc đắp đất sét cho thêm kín. Hai tháng sau đã có “xá pấu” ăn được, cho ta vị mặn (vừa), ngọt, giòn, không bao giờ rỉ nước.

< Củ cải trắng phơi đầy đường, chuẩn bị cho món sái pấu.

“Xái pấu” được chế biến thành nhiều món ăn ngon. Người ta cắt bỏ đầu đuôi, ngâm, rửa sạch chừng 15 phút cho bớt mặn. Đơn giản thì xắt miếng mỏng trộn giấm đường ăn cháo trắng hoặc bằm chiên hột vịt ăn cơm hoặc cháo trắng.

Để tăng thêm khẩu vị, lạ miệng, người ta xào “xái pấu” xắt lát với thịt heo ba rọi. “Xái pấu” xắt mỏng ướp tỏi đường ớt (như trộn dưa mắm), để đó, khi nào ăn lấy một ít nặn chanh vào.

Còn anh bạn của tôi sáng chế món gỏi “xái pấu”: “Xái pấu” xắt sợi với tép và thịt luộc, rắc rau thơm, đậu phộng sẽ có món đưa cay “bá cháy”. “Xái pấu” xắt lát hầm với xương hoặc đuôi heo, nêm bột ngọt, bột nêm, là món ăn không giấu ai được - bởi khi nồi hầm sôi, mùi thơm đặc trưng của “xái pấu” tỏa bay khắp nơi khiến hàng xóm “la làng”.

“Hù dú” có nghĩa là “chao vàng”. Người ta dùng tàu hũ xắt miếng vuông hoặc hình chữ nhật, đem phơi. Điều quan trọng là chỉ phơi trên giấy báo trải mặt nia, không được phơi trên bất cứ vật dụng nào khác.

Phơi một nắng, trải lớp giấy báo mới lên nia khác, trở mặt phơi thêm nắng nữa. Để tàu hũ nguội, sắp vô một phần ba keo thủy tinh, cho tương hột loại ngon vào ngập gần tới miệng keo, cài thanh tre cho tàu hũ không nổi lên mặt. Đậy kín nắp keo, phơi chừng 15 nắng tốt là dùng được.

“Hù dú” rất thích hợp với món cháo trắng nấu nhừ, ăn vừa dẻo dẻo, vừa mằn mặn, ngọt ngọt, bùi bùi vị đậu nành và tương lên men. Người ta còn dùng “hù dú” để chấm rau luộc, hoặc bầu bí luộc. Món luộc nào có “dính” “hù dú” cũng đều trở nên dễ nuốt.

< Cháo trắng cùng cải “xái pấu”.

Phần lớn người Tiều truyền thống sáng nào cũng lót lòng bằng cháo trắng. Ngoài “hù dú”, họ thường ăn cùng với món vừa no vừa nhẹ bụng này là “hàm dũy” (cá mặn), hột vịt muối, “xái pấu”, để trở bữa còn có “coóng xại”.

"Coóng xại” có nghĩa là cải “xào bần” (lộn xộn, đủ thứ), như là một loại rau tập tàng của người Việt, nhưng ở đây lại có nghĩa là loại thức ăn bình dân. Với hương vị thơm ngon, ngọt mặn, “coóng xại” ăn với cháo trắng rất “dễ lùa”. Đặc biệt, người bệnh lạt miệng, ăn cháo với “coóng xại” là “đúng điệu”, lại nữa còn làm cho cơ thể khỏe ra nhờ xuất mồ hôi. Còn với người bình thường, “coóng xại” giúp trợ tiêu hóa, ăn ngon miệng hơn.

< Bà con người Tiều ở Sóc Trăng đi chợ mua tua xại. 

“Coóng xại” chủ yếu làm từ “tùa xại” (cải to, ta gọi cải làm dưa). “Tùa xại” cắt bỏ rễ, bỏ lá, rửa sạch, xắt miếng vuông. Phơi cho đến khi cải héo, còn khoảng 50% nước là được.

Cải được nhận cứng vô keo. Riềng đâm pha với rượu, muối và đường đổ vào. Cứ 1kg cải thì dùng 300gr muối, 300gr đường cùng rượu sao cho khi đổ vào keo vừa ngập cải. Dùng que tre gài cho cải không nổi lên trên mặt dung dịch đổ vào, đem phơi 15 nắng thì dùng được.

Để ăn cháo trắng người Tiều còn có “xung xại”, có nghĩa là cải mùa xuân. Thứ cải giống cải xanh của Việt Nam nhưng lá phẳng chứ không dợn sóng. “Xung xại” rửa sạch hầm với nước đổ vừa ngập những miếng thịt ba rọi xắt khá to đã chiên cháy cạnh.

Nồi “xung xại” sôi, nêm muối thật mặn, nước rút cạn, tắt bếp. Cách làm khác là “xung xại” hầm với thịt nạc cùng muối thật mặn. Khi nước hầm rút gần cạn, cho tép mỡ vào, trộn đều. Nước cạn, tắt bếp, để nguội nhận vô tĩn da lươn có một vòi ngắn, đậy kín nắp để ăn dần. Hầm càng nhừ càng ngon. Món này có tên “xung xại ngào bà”, nghĩa là cải mùa xuân hầm với thịt (ngào là hầm, bà là thịt).

Đặc biệt, “xung xại” còn giữ một vai trò quan trọng trong hôn lễ người Tiều, một thủ tục bắt buộc, không có không được. Khi đi nạp tài, chú rể cầm trên tay một cây “xung xại” để trao cho nhà gái như lời hứa hẹn sẽ đem lại cho cô gái hạnh phúc xanh tươi, tốt đẹp như mùa xuân.

Trong bữa cơm hay trong bữa tiệc thì người Tiều thưởng thức món “chen chú”, “hề xô” và “mì sụa”.
“Chen chú”, có nghĩa là cá chiên hầm nước lạnh. “Chen chú” được làm chủ yếu bằng cá điêu hồng làm sạch, rửa, để ráo. Cà chua rửa xong, xắt tư hoặc xắt sáu. Bún tàu cắt khúc vừa ăn, ngâm nước cho mềm, vớt ra, để ráo.

Hành lá (lựa mua loại hành cọng to) rửa sạch, cắt bỏ lá, chừa gốc. Nấm rơm búp gọt bỏ rễ, rửa sạch, chẻ đôi. Kim châm rửa sạch, để ráo. Bắc chảo lên bếp, chảo nóng, cho dầu ăn hoặc mỡ vào.

Dầu hoặc mỡ sôi, thả cá vào. Chiên cá vàng cả hai mặt thì cho nước vào ngập mình cá, đậy nắp lại. Hầm cá cho chín mềm, nước sôi vài quận thì giở nắp vung, cho tương hột, cà chua, bún tàu, hành gốc, nấm rơm, kim châm vào. Nêm nước mắm, muối, đường, bột ngọt, bột nêm. Đậy nắp vung, khi mùi tương Tàu lan tỏa khắp không gian thì tắt bếp, xúc ra dĩa rắc ngò rí.

“Hề xô”, theo tiếng Tiều có nghĩa là “chả giò”. Làm “hề xô” cũng khá công phu. Đầu tiên, người ta chọn tép bạc đất còn sống hay còn tươi mới cho món ăn dai và ngon. Tép bạc đất nhẹ ngắt đầu, vừa xoay đầu tép vừa kéo chỉ đen ra khỏi thân tép. Rửa sạch tép, để ráo nước. Tỏi lột bỏ vỏ. Mỡ xắt hột lựu luộc sơ.

<  Gỏi “xái pấu”.

Cho tép, mỡ xắt hột lựu, lòng trắng trứng gà, bột mì, gia vị vừa ăn và thật nhiều tỏi vào cối nhồi cho đều trước khi quết thật nhuyễn, làm nhưn. Món này gói bằng tàu hũ ky tươi vừa mới ra lò, còn mềm, xắt miếng vuông, cho nhưn vào, cuộn lại thành gói tròn dài khoảng hai lóng tay. Cho tất cả vào chảo mỡ chiên vàng. Lót xà lách và cà chua xắt lát lên mặt dĩa, sau đó cho “hề xô” vừa mới chiên lên, dọn ra bàn.

Gắp một cuốn “hề xô” chấm “bùi chịa” (nước chanh muối, đường), cắn, mùi thơm của tép và tỏi chiên hòa quyện trong vị mặn ngọt của “bùi chịa” lan trong khẩu cái. Cắn miếng ớt sừng, gắp lá xà lách kèm lát cà chua nhai chầm chậm, tận thưởng miếng ngon của tàu hũ ky tươi và thịt tép “ngồn ngộn”. Dù có mỡ xắt hột lựu và chiên nhưng khi ăn “hề xô” người ta hầu như chẳng thấy có mùi dầu mỡ như món chả giò Việt Nam.

< Mì sụa.

“Mì sụa” có hai loại: loại mặn và loại không mặn. Người sành ăn cho rằng “mì sụa” mặn ngon nhất khi xào, còn “mì sụa” ngọt chỉ để nấu chè. “Mì sụa” xào với tim, gan, cật, nạc, phèo, phổi heo cùng nấm rơm, hành, tỏi, cải xanh... chấm nước tương hoặc nước mắm giấm ớt, tùy khẩu vị. Món này xưa kia có mặt trong mấy tiệm “cao lầu” ở thị xã Khánh Hưng (Sóc Trăng), rất được nhiều khách phương xa tín nhiệm.

“Mì sụa” mặn thì trước khi xào người ta rửa sơ qua nước lạnh. Có nơi, ngoài việc xào “mì sụa” với nội tạng heo, còn trải lên bên trên dĩa mì một lớp trứng vịt tráng mỏng xắt sợi làm mặt.

< Bánh Pía.

Để mừng sinh nhật, ngoài dĩa “mì sụa” xào, người ta còn luộc lòng đỏ hột gà cùng chè “mì sụa”. Màu đỏ của lòng đỏ trứng gà là lời chúc phúc cuộc sống may mắn, tròn trịa. Còn vị ngọt của chè khiến họ tin tưởng cuộc đời người được kỷ niệm ngày sinh sẽ ngọt ngào trong mọi việc, sống lâu.

Tết Nguyên đán, người Tiều lại thích làm món vịt ram như thứ đồ khô ăn dần. Vịt lựa con mập, lớn, đem luộc rồi chặt từng miếng vừa ăn, ram trong chảo mỡ sôi. Khi mỡ rút vào thịt vịt thì nhắc xuống, rắc muối hột, xốc đều, để nguội, cho vô thố lớn. Nước luộc vịt được tận dụng nấu xôi ăn với vịt ram tưởng không gì khoái khẩu bằng.

< Nồi Xào bần.

Người Tiều ngày Tết còn hay cúng cù lao (lẩu) cá. Cá tiếng Hán đọc như “dư”, hàm ý dư dả cả năm. Chiều ba mươi (hoặc hăm chín, tháng thiếu) cũng như mồng ba Tết (cúng tất), người Tiều nấu rất nhiều món, nào canh, cù lao, xào, luộc, nướng, kho, bày ê hề trên bàn thờ gia tiên.

Cúng xong, cả nhà xúm xít ăn. Ăn không hết, tất cả các món đó cho vô nồi bự, nêm “cứng” muối, để dành ăn nhiều ngày, gọi là “xào bần”. Đây là loại canh hổ lốn độc đáo vừa ngon vừa tiết kiệm, mỗi năm chỉ được ăn vào sau mấy ngày Tết, đám cưới đám hỏi hoặc đám giỗ.

Du lịch, GO! - Theo báo Cần Thơ, ảnh internet
“Những gì con trai làm được thì con gái cũng làm được”. Đó là câu châm ngôn của không ít nữ nhi có niềm đam mê với 'phượt'. 
Vậy nhưng du lịch bụi cũng tiềm ẩn không ít những bất trắc và rủi ro mà nếu ai thiếu can đảm thì khó có thể vượt qua được…

Ghiền "phượt"

Từ nhỏ đã rất “mẫn cảm” với mùi xăng dầu nên ngồi tàu xe luôn là nỗi ám ảnh lớn với Mai Hoa (23 tuổi, sinh viên mới tốt nghiệp HV Ngân Hàng). Cũng bởi vậy mà niềm đam mê với du lịch của Hoa nhiều lần phải bị gác lại.

Vậy nhưng cách đây 5 năm, chuyến đi phượt đầu đời với nhiều kỷ niệm khó quên đã biến Hoa thành một dân “ghiền” đi phượt. Lần đó nhóm của Hoa quyết định đi phượt đến thác Bạc Long Cung ở Hòa Bình, để kiểm nghiệm lời thiện hạ đồn thổi về địa danh này.

Vì có tật say cả xe máy, nên ngồi được 30 km đầu là Hoa đã bất đầu “ngất ngây”. Đã uống thuốc chống say mà không ăn thua, Hoa cứ gật gà, gật gù khiến cậu bạn đi cùng phải dùng khăn…buộc Hoa vào mình. Mệt vậy nhưng Hoa vẫn kiến quyết bám đoàn, mọi người khuyên thế nào cũng không chịu bắt xe quay lại Hà Nội.

“Đó là lần đầu tiên mình có những trải nghiệm thú vị khi “được” uống nước lã, ăn quả rừng, nằm ngủ ven đường. Mỗi chuyến đi đều cho mình những trải nghiệm thú vị và khiến bản thân mình mạnh mẽ hơn rất nhiều. Càng đi nhiều mình càng thấy mình ghiền phượt”. Hoa vui vẻ chia sẻ.

Còn Vân (SV ĐH Ngoại Thương) chọn đi phượt không chỉ vì có thể thoải mái ngắm cảnh đẹp mà còn bởi đi du lịch bụi rất ít tốn kém. Gia đình không mấy khá giả nên ngay từ ngày đầu buớc chân xuống thành phố học tập, Vân đã làm thêm đủ nghề để kiếm tiền trang trải việc học.

Sẵn niềm đam mê với du lịch nên từ khi biết đến du lịch bụi, Vân đã nuôi ý định cho những chuyến phượt dài ngày. Chuyến phượt đầu tiên của Vân là cùng một cô bạn thân đi lên Hà Giang. Lo nhất là xe bị hỏng ven đuờng vì chỉ có hai thân gái “xông pha dặm truờng” nên trước khi khởi hành Vân đã cẩn thận đem xe ra tiệm, canh chỉnh thắng và tăng sên.

Nhưng rồi “nguời tính không bằng trời tính”, đi được khoảng 80km thì chiếc xe của Vân “dở chứng”, bỗng nhiên khi rà thắng, bánh xe sau đứng cứng ngắc đi tới cũng không được mà đi lui cũng không xong.
Lần đó, Vân và cô bạn phải dắt bộ đến 5km mới tìm được quán sửa xe có thể xử lý cả cái đùm xe, loay hoay cũng mất toi đến 3 giờ đồng hồ.

“Sau này mới được các bác nam nhi giải thích cho, rằng khi tăng thắng, tay thợ đã tăng quá tay, làm cho bố thắng khít quá. Đến khi chạy xe nóng lên, lại đạp phanh, bố thắng nở ra, kẹt luôn đùm xe làm cho bánh chẳng thể quay được.

Trong trường hợp đó chỉ cần để nguyên vậy, ngồi chờ cho nguội thì lại chạy bình thường. Còn muốn mau hơn thì tạt vào 1 thau nước lạnh là nó sẽ co lại, và mọi chuyện sẽ ổn. Đấy, 2 đứa con gái đi với nhau nó... bất lợi thế đấy”. Vân vui vẻ chia sẻ.

Trang bị “vũ khí” để phượt độc hành

Nhiều nguời chọn đi phượt để được biết thêm bạn mới, vậy nhưng có không ít nữ nhi lại chỉ thích đi phượt độc hành. Trên một diễn đàn, nickname shans chia sẻ: “Tớ nghiện phượt độc hành, thuờng xuyên đi bụi, một máy ảnh, một lap và một ta. Vậy là đủ”.

Một bạn nữ khác đồng tình: “Ai cũng có lúc muốn có một khoảng lặng cho riêng mình. Cái cảm giác đuợc tự mình khám phá, trải nghiệm những điều thú vị xung quanh cũng có những sự hấp dẫn riêng khó mà lý giải được”

Quả thật nếu có niềm đam mê và một sự chuẩn bị kỹ lương, không gì có thể ngăn bạn đến với phượt. Từng có nhiều chuyến đi lang bạt với chiếc xe máy và đang lên kế hoạch cho một chuyến phượt độc hành xuyên Việt, Thanh Mai (24 tuổi, nhân viên một công ty truyền thông tại Hà Nội) chia sẻ:

“Con gái mà đi phượt một mình chẳng may đi vào những cung đuờng vắng bị thổ phỉ nhảy ra chặn đường thì cũng rắc rối. Vậy nên đừng đi ra ngoài sau hoàng hôn, đừng ngủ ở nơi hẻo lánh, cảnh giác trước những anh chàng trẻ tuổi nói tiếng Anh lưu loát, giữ gìn đồ dùng cá nhân quan trọng ở bên người và khi đến thành phố nên tìm khách sạn trước lúc trời tối là mọi chuyện sẽ ok”.

Thanh Mai chia sẻ thêm rằng nữ nhi khi đi phượt độc hành nên trang bị thêm “vũ khí” trong cốp xe để đề phòng. Có thể là bình xịt hơi cay hoặc roi điện. Nhưng nếu hai thứ này quá khó kiếm thì có thể chỉ cần một bình xịt muỗi và chút bản lĩnh là đủ.

“Bình xịt muỗi không phạm pháp, nhưng đủ độ cay, độ nồng để vô hiệu hóa được đối phương ít nhất khoảng 10 phút (kể cả vài người). Nhưng hiệu quả của “bảo bối” này căn cứ vào thời điểm ta đem ra xịt.

Thế nên người có bản lĩnh là người bình tĩnh, dùng mọi cách đánh lạc hướng rồi mới dùng, xác định dùng xong là phải chạy cho nhanh...thì mới mong an toàn”. Mai đưa lời khuyên.

Du lịch, GO! - Theo Vietnamnet, internet

Nữ nhi “phượt” cùng cào cào
Con gái đi phượt!

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống