Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Friday, 28 October 2011

Có một khúc đoạn Tây Bắc ít người biết đến, so với tuyến đường truyền thống mà bấy lâu nay khách lữ hành đã đi qua. Đó là hành trình bắt đầu từ Yên Bái, cửa ngõ vào miền Tây Bắc đồng thời là điểm nối giữa Đông Bắc, Tây Bắc và đồng bằng Bắc Bộ.

Với nhiều người, vòng cung Tây Bắc gợi nhớ biết bao điều kỳ thú: những con đường đèo ngoằn ngoèo, cheo leo bên  bản làng người H’mông sống giữa mây mù và gió lạnh; những đồng cỏ, đồi chè xanh thẫm trải rộng ngút tầm mắt trên thảo nguyên Mộc Châu; những di tích lừng danh đã góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ huyền thoại...

< Đêm ở Mường Lò – Nghĩa Lộ không gì bằng đi múa xòe Thái.

Và còn nữa, thị xã Mường Lay nơi hội tụ của 3 con sông Nậm Lay, Đà Giang, Nâm Na mang trong mình vẻ đẹp hoang sơ, thơ mộng  như bao lâu nay vẫn thế.

Thế nhưng, còn một khúc đoạn Tây Bắc ít người biết đến, so với tuyến đường truyền thống mà bấy lâu nay khách lữ hành đã đi qua. Đó là hành trình bắt đầu từ Yên Bái, cửa ngõ vào miền Tây Bắc đồng thời là điểm nối giữa Đông Bắc, Tây Bắc và đồng bằng Bắc Bộ.

Xã Suối Giàng huyện Văn Chấn nằm lưng chừng trời, trên ngọn núi cùng tên thuộc dãy Hoàng Liên Sơn ở độ cao 1.371 mét so với mặt biển. Địa danh này còn nổi tiếng với giống chè Shan tuyết cổ thụ.

Phải chăng nhờ “trời cho” khí hậu bốn mùa se lạnh, thổ nhưỡng đặc biệt, mây mù giăng kín, mà hàng ngày chè được ngậm sương nên sau khi hái về, chế biến theo phương pháp thủ công lâu đời của người dân tộc H’mông, búp trắng xám như có một lớp lông tơ trắng (gọi là chè bám tuyết) đã cho hương vị chè khác biệt và ngon hơn hẳn loại chè nơi khác.

Người ta nói ngày xưa dân bản địa để cây chè phát triển tự nhiên, đến lúc thân cây quá cao, quá nguy hiểm, phải bỏ công huấn luyện khỉ thay người trèo hái lộc. Ngày nay, ngoài mục đích kìm hãm độ cao, người Mông còn kích thích cây chè cho nhiều búp non bằng cách dùng đá vôi cấy vào thân, hốc cây mới lớn. Theo thời gian, thân cây tách ra nhiều cành, nhiều nhánh thành tán lá rộng rãi.

Đến đây vào mùa thu có lẽ thú vị nhất là mỗi buổi sáng, được ngắm nhìn những đám mây chùng thấp la đà xuống vườn chè cố thụ xanh um, cũng là lúc từng nhóm phụ nữ H’mông xúng xính trong chiếc váy thổ cẩm leo trèo trên những cây chè xù xì, trắng mốc với vòng gốc to cả người ôm chưa kín như minh chứng cho sự già cỗi qua hàng trăm năm tuổi, rồi thoăn thoắt chuyền sang tán cây rậm rạp, đứng vắt vẻo hái từng búp lá còn đọng sương mai.

Buổi tối ở thị xã Nghĩa Lộ khá yên tĩnh và thời gian trôi đi bằng tiết tấu chậm chạp. Lúc này không gì bằng đi múa xòe Thái, một trong những nét sinh hoạt đặc sắc tại Mường Lò, vùng đất vốn được xem là ngọn nguồn của cộng đồng dân tộc Thái Tây Bắc.

Thông thường, trong phần nghi thức đêm hội xòe, không thể thiếu tiết mục “Khăm khăn nơi lảu” do các cô thiếu nữ dân tộc Thái trẻ trung, duyên dáng vừa múa vừa nâng khăn mời rượu thể hiện lòng hiếu khách, với sự phụ họa của khèn, đàn tính tẩu, tiếng chiêng, tiếng trống nhịp nhàng, rộn rã.

Kế tiếp là những điệu xòe mô phỏng con người khai phá đất đai, làm nương và tình yêu đôi lứa... Bất ngờ tiếng chiêng nổi dồn dập, nhịp trống chuyển qua điệu “Khăm khen”.

Chỉ chờ có thế, mọi người không ai bảo ai, tay trong tay nhảy múa vòng tròn quanh đống lửa. “Khăm khen” là điệu múa mang tính tập thể nên động tác khá đơn giản, song biểu hiện tình cảm đoàn kết anh em giống như lời ca tha thiết mời gọi: “Xòe đi anh, cầm tay múa. Xòe cùng em, chén rượu thơm dâng đầy...”.

Rời Nghĩa Lộ, du khách theo quốc lộ 32 lần lượt lướt qua những cánh đồng thơm mùi nếp Tan Lả dưới thung lũng Tú Lệ rồi đèo Khau Phạ nổi tiếng là một trong “Tứ đại đỉnh đèo” bởi chiều dài, mức độ hiểm trở xếp loại bậc nhất Việt Nam trước khi đến Mù Cang Chải - quê hương của ruộng bậc thang uốn khúc gối lên nhau từng lớp, rồi từng lớp nọ gối tiếp lớp kia tựa chiếc cầu thang nối trần gian với cõi thiên đình.

Nhiều người cho rằng Mù Cang Chải mùa nào cũng đẹp: vào mùa xuân lúa bắt đầu mướt xanh, mỗi lần gió núi thổi qua, nó dập dờn như sóng biển tràn lên sườn núi... Bước sang mùa thu, cả một vùng núi non trùng điệp đều rực rỡ trong sắc màu vàng ươm của lúa chín.



Đường lên cao nguyên Sìn Hồ tỉnh Lai Châu đầy sắc màu sơn cước mạn Tây Bắc, có cánh rừng nguyên sinh đầy hoa rừng, có dãy núi đá vôi tạo hình kỳ dị và hang động Pu Sam Cát nổi tiếng, có cả những thác nước ven đường là nơi dừng chân của trai gái người H’mông, Mán tắm mát mỗi lần đi rừng về.

Thị trấn Sìn Hồ, nơi cuối trời Tây Bắc hiện ra quá nhỏ bé, nó như bị cô lập giữa những cánh đồng lúa tỏa rộng đến tận dãy núi trùng điệp.

Theo tiếng dân tộc Dao, Sìn Hồ có nghĩa la nơi nhiều con suối. Trải qua nhiều cuộc bể dâu, ngày nay Sìn Hồ chỉ còn ba con suối lớn là Hồng Hồ, Hoàng Hồ và Sìn Hồ len lỏi dưới thung lũng.

Nằm trên độ cao trung bình 1.500m so với mặt biển nên thời tiết huyện lỵ Sìn Hồ luôn mát lạnh, tinh khiết chẳng khác vùng cao nguyên Sa Pa (Lào Cai) hay Đà Lạt ở Tây nguyên.

Sìn Hồ sở hữu nhiều cảnh đẹp hấp dẫn, ai cũng có thể cảm nhận. Từ những con đường ngoằn ngoèo trong thung lũng toàn ruộng bậc thang cho đến bản làng Tà Ghềnh, Hoàng Hồ, Tả Phìn, Phăng Xô Lin của người Mông, Dao yên bình mộc mạc bên vách núi.

Và nếu dành thời gian đi dạo, thăm viếng, sẽ khám phá nhiều điều kỳ lạ. Rồi cổng trời, núi Tiên Ông, núi Ô Đá gắn liền biết bao truyền thuyết lý thú.

Những bản người Dao, H’mông đỏ sống vây quanh thị trấn Sìn Hồ khá thưa thớt. Mỗi tuần vào ngày thứ bảy dân bản địa mang gà qué, nông sản, cây thuốc xuống chợ họp phiên.

Qua sáng chủ nhật chợ đông vui hơn bởi sự góp mặt của người H’mông, Hà Nhì vùng Chăn Lưa, làng Mô hay người Lự, Dao ở Phăng Xô Lin, người H’mông Hoa, Phú Lá tận xã Pu Sam Cát cách Sìn Hồ một ngày đường.

Tất cả tạo nên buổi chợ phiên xôn xao, tràn ngập làn sóng hoa văn thổ cẩm muôn màu.

Du lịch, GO! - Theo Vietnamnet, internet
Trang phục là một trong những nét văn hóa độc đáo của các dân tộc Việt Nam, được trang trí hoa văn sặc sỡ hài hoà về màu sắc, đa dạng về mô típ, mềm mại về kiểu dáng...
Ở vùng thấp miền núi, các dân tộc sống trên những nếp nhà sàn thường mặc quần, váy, áo màu chàm với nhiều mô típ hoa văn mô phỏng hoa rừng, thú rừng. Ở vùng núi và cao nguyên, phụ nữ lại mặc váy, nam giới đóng khố...

Miền núi phía Bắc không chỉ có phong cảnh hùng vĩ trữ tình, mà còn là nơi sinh sống của nhiều dân tộc thiểu số mang bản sắc riêng độc đáo. Vẻ đẹp thuần phác cẩu người thiếu nữ nơi này còn được tôn lên bởi trang phục rất đặc trưng.
Trong dân tộc Dao có các nhóm địa phương như: Dao Ðỏ (Dao Cóc Ngáng, Dao Sừng, Dao Dụ Lạy, Dao Ðại Bản), Dao quần chẹt (Dao sơn đầu, Dao Tam Đảo, Dao Nga Hoàng, Dụ Cùn), Dao Lô Gang (Dao Thanh Phán, Dao Cóc Mùn), Dao Tiền (Dao Ðeo Tiền, Dao Tiểu Bản), Dao quần trắng (Dao Họ), Dao Thanh Y, Dao Làn Tẻn (Dao Tuyển, Dao áo dài)...

< Các thiếu nữ dân tộc Dao với trang phục truyền thống.

Phụ nữ Dao mặc rất đa dạng, thường mặc áo dài yếm, váy hoặc quần. Y phục rất sặc sỡ với nhiều loại hoa văn như chữ vạn, cây thông, hình chim, người, động vật, lá cây...

Các hoạ tiết trên trang phục của thiếu nữ Dao không theo theo mẫu vẽ sẵn trên vải mà hoàn toàn dựa vào trí nhớ, thêu ở mặt trái của vải để hình mẫu nổi lên mặt phải.

< Thiếu nữ Dao đỏ ở Sapa.

Kỹ thuật in hoa văn trên vải bằng sáp ong ở người Dao rất độc đáo. Người ta dùng bút vẽ hay nhúng khuôn in vào sáp ong nóng chảy rồi in lên vải. Vải sau khi nhuộm chàm sẽ hiện lên hoa văn mầu xanh lơ do phủ lớp sáp ong không bị thấm chàm.

Người Mông có các nhóm: Mông Trắng, Mông Hoa, Mông Ðỏ, Mông Ðen, Mông Xanh... Trang phục phụ nữ Mông do chính họ làm ra. Dù rất đa dạng nhưng bắt buộc phải có những thứ như: khăn đội đầu, áo, váy, thắt lưng, tạp dề đằng trước và sau váy, xà cạp, đồ trang sức… Váy của phụ nữ Mông thường hình nón cụt, xếp nếp xoè rộng.

Phụ nữ Mông Trắng thì trang phục thường làm bằng vải lanh trắng và áo thường xẻ ngực có thêu hoa văn ở cánh tay và yếm sau lưng.
Phụ nữ Mông Hoa mặc váy màu chàm có thêu hoặc in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ nách, trên vai và ngực đắp vải màu và thêu. Ðể tóc dài, vấn tóc cùng tóc giả.

< Thiếu nữ người Mông.

Phụ nữ Mông Ðen mặc váy bằng vải chàm, in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ ngực.

Phụ nữ Mông Xanh mặc váy ống. Phụ nữ Mông Xanh đã có chồng cuốn tóc lên đỉnh đầu, cài bằng lược móng ngựa, đội khăn ra ngoài tạo thành hình như hai cái sừng.

Trang trí trên y phục của họ chủ yếu bằng đắp ghép vải màu, hoa văn thêu phổ biến là hình con ốc, hình vuông, hình quả trám, hình chữ thập…

Nhóm địa phương của người Tày gồm: Thổ, Ngạn, Phén, Thu Lao và Pa Dí. Bộ y phục cổ truyền của thiếu nữ Tày làm từ vải sợi bông tự dệt, nhuộm chàm, hầu như không thêu thùa, trang trí. Phụ nữ mặc váy hoặc quần, có áo cánh ngắn ở bên trong và áo dài ở bên ngoài.

Phụ nữ Giáy thường mặc quần màu chàm có dải vải đỏ đắp trên phần cạp, áo cánh 5 thân xẻ tà, dài quá mông, cài khuy bên nách phải, hò áo và cổ tay áo viền những dải vải khác màu. Tóc vấn quanh đầu với những sợi chỉ hồng thả theo đuôi tóc. Vai khoác túi thêu chỉ màu với hoa văn là những đường gấp khúc.

< Cô gái Hà Nhì.

Người Hà Nhì cư trú ở Lai Châu, Lào Cai. Nhóm địa phương gồm: Hà Nhì, Cồ Chồ, Hà Nhì La Mí, Hà Nhì đen.

Phụ nữ Hà Nhì mặc áo dài 5 thân, xẻ từ sườn xuống chân. Áo bằng vải bông nhuộm chàm màu đen, màu xanh. Trên ngực áo phía phải, gắn thêm những đồng xu bằng bạc hoặc cúc bằng nhôm. Khăn, ngực áo và hai ống tay áo, là nơi để chị em phô diễn kỹ nghệ thêu móc và trình độ thẩm mỹ của mình thông qua cách bố trí các khoanh vải có màu sắc tương phản nhau, cùng những đường nét hoa văn.

Người La Chí còn gọi là Thổ Ðen, Mán, Xá. Phụ nữ La Chí mặc quần, một số ít mặc váy. Bộ y phục truyền thống là chiếc áo dài tứ thân xẻ giữa, yếm thêu, thắt lưng bằng vải, đầu đội khăn dài gần 3 m màu chàm đen; đeo vòng tai, vòng tay.

< Thiếu nữ Phù Lá.

Nhóm địa phương của người Nùng gồm: Nùng Giang, Nùng Xuồng, Nùng An, Nùng Inh, Nùng Lòi, Nùng Cháo, Nùng Phàn Slình, Nùng Quy Rịn, Nùng Dín...

Y phục truyền thống của người Nùng khá đơn giản, thường làm bằng vải thô tự dệt, nhuộm chàm và hầu như không có thêu thùa trang trí. Áo năm thân, dài quá hông, cài cúc bên nách phải.

Phụ nữ Phù Lá chưa chồng thường để tóc dài quấn quanh đầu. Đầu thường đội khăn vuông đen hoặc chàm, bốn góc và giữa khăn có đính hạt cườm.

Họ mặc áo ngắn năm thân, dài tay, cổ vuông, thấp, chui đầu. Trên nền chàm của áo, thân được chia thành các khu vực trang trí (hai phần gần như chia đôi giữa thân, vai, và ống tay cũng như gấu áo). Cổ áo vuông và mô típ hoa văn trang trí cũng như lối bố cục dùng màu rất đặc trưng. Váy màu chàm đen, đầu và chân váy được trang trí hoa văn màu đỏ, trắng vàng (giống áo). Đầu vấn khăn, hoặc đội mũ thêu ghép hoa văn theo lối chữ nhất.

Trang phục truyền thống ngày thường của phụ nữ Khmer là áo dài (tầm-vông, cũng có người gọi là áo cổ bồng) và vận xà-rông. Xà-rông là một mảnh thổ cẩm rực rỡ trang trí nhiều hoạ tiết hoa văn, nhưng hình chám là hoa văn chủ đạo, kích thước rộng khoảng 1m dài 3,5 m khi mặc thì cuốn lại che nửa  người phía dưới.

Vào mỗi dịp lễ tết, lên chùa lễ Phật họ mặc xà-rông có đính chuỗi hạt cườm ở cạp. Áo  tầm-vông dệt bằng tơ tằm, sợi bông, hay chỉ kim tuyến với các loại hoa văn khác nhau màu trắng họăc vàng chủ đạo.

Để tôn thêm nét dịu dàng uyển chuyển đầy nữ tính trong bộ lễ phục này không thể thiếu “Sbay” - một loại khăn lụa xanh mềm mại, cuốn chéo từ vai trái xuống bên sườn phải. Trong đám cưới, cô dâu mặc áo dài màu vàng thêu kim tuyến và đính hạt cườm, hạt kim sa rực rỡ ở phía trước.

Độc đáo hơn, trên đầu cô dâu còn đội chiếc mão “kha-ba-lòn-cốt” như một vương miện nhỏ xinh xắn được làm từ hạt cườm và hàng trăm chiếc cánh cứng màu xanh biếc của loài bọ cánh cam (người Khmer gọi là con Chil-vít). Nếu khăn “Sbay” trong bộ lễ phục màu xanh thì Sbay của cô dâu bằng vải dệt kim màu vàng và được đính hàng ngàn hạt kim sa nhỏ xíu sáng lấp lánh tạo nên nhiều mô-típ hoa văn vui mắt hình cánh Trang sức của người Khmer chủ yếu thể hiện vẻ đẹp thẩm mỹ và sự hài hoà với váy, áo đồng thời cũng mang ý nghĩa của tín ngưỡng truyền thống.

< Thiếu nữ Chăm ở An Giang.

Phụ nữ dân tộc Chăm có trang phục phổ biến là váy và áo dài. Riêng váy được chia thành hai loại: loại váy quấn bằng một tấm vải với hai mép vải không khâu dính lại, khi mặc cạp váy được xếp nếp và lận vào bên trong có tác dụng giữ eo hông. Loại thứ hai được khâu lại thành hình ống tròn. Váy một màu gọi là Băn, nếu có hoa văn thì gọi là Băn Koh hoặc pha thêm một sợi kim tuyến khi dệt gọi là Băn Talay Mưh. Loại màu áo người Chăm ưa thích nhất thường có màu tươi và sáng như màu chàm, xanh lục, hồng.

Biểu hiện rõ nhất ở trang phục phụ nữ Chăm là hai loại áo dài truyền thống Ao Tăh và Ao Doa Bong. Loại thứ nhất dành cho giới trẻ, chiều dài chiếc áo đến đầu gối hoặc quá một chút, cánh tay dài đến khuỷu tay, nhưng không bó sát. Cổ áo loại này thường hình tròn, khoét rộng để lộ các vòng dây trang sức bằng vàng hay bạc.

Loại thứ hai được dùng cho phụ nữ đã có chồng và lớn tuổi. Chiều dài phủ chùng gót chân, ôm sát thân người, khi mặc phủ trùm lên váy tạo cho dáng đi uyển chuyển và làm nổi bật nét đẹp thân hình. Ở hai bên hông có các đường mở ngay eo và có hàng khuy bấm hoặc nút dính để bó sát eo.

Điểm đặc biệt ở loại váy này là cổ áo luôn thiết kế theo hình trái tim vì theo quan điểm của người Chăm, đó là tượng trưng cho lòng chung thủy. Nhìn chung, tùy theo hoạt động của xã hội, mà phụ nữ Chăm có những loại y phục khác nhau.

Thường ngày, phụ nữ dân tộc Hoa mặc áo ngắn, nút áo bên sườn phải kéo từ cổ xuống, cổ áo hơi cao, tay áo quá khủy tay.

Quần của phụ nữ người Hoa ống hẹp, cao trên mắt cá chân. Trong ngày lễ Tết, phụ nữ người Hoa thường mặc một loại áo váy may dài, ôm ngang hông, xẻ tà dưới phần đùi mà người Việt quen gọi là “Xườn xám”, còn người Hoa gọi là “Chuyền chỉ”. Màu sắc trang phục của họ, nhất là các thiếu nữ thích màu hồng hoặc màu đỏ, cùng với các sắc màu đậm.

Loại áo váy này thường đi với các loại trang sức như vòng cổ, vòng tay, bông tai tạo nên một vẻ duyên dáng, trẻ trung. Phụ nữ lao động người Hoa thường đeo một chiếc địu bằng vải để địu con, chiếc địu vải có tua quàng về phía trước. Đứa bé nằm trên lưng mẹ còn người mẹ làm việc và đi lại rất dễ dàng và thuận tiện.

Nam Tây Nguyên là nơi cư trú lâu đời của nhiều dân tộc bản địa như Êđê, M’nông, Mạ, Kơ Ho, Xtiêng... Các tộc người nơi đây còn bảo lưu nhiều vốn văn hóa nguyên sơ, đầy chất nhân văn. Di sản văn hóa truyền thống của các dân tộc chứa đựng những giá trị độc đáo và khá đa dạng trên cả hai lĩnh vực văn hóa vật thể và phi vật thể. Dấu ấn văn hóa đó được thể hiện khá rõ nét trong trang phục truyền thống, thể hiện bản sắc tộc người.

Nét chung nhất trong trang phục truyền thống các dân tộc Nam Tây Nguyên nói chung là đàn ông đóng khố, mặc áo chui đầu hoặc áo choàng quấn, phụ nữ mặc áo, váy, bên cạnh đó được điểm xuyết thêm một số trang sức làm đẹp trên cơ thể theo quan niệm thẩm mỹ của từng dân tộc. Người M’nông có chiếc váy nữ xanh màu lá rừng; bộ khố áo nam hùng dũng mang dáng dấp của trang phục chiến binh thời xưa. Nét độc đáo của tộc người này là trang sức vòng ống chân, vòng ống tay, đeo khuyên tai làm bằng ngà voi và làm đẹp cho đầu tóc một cách cầu kỳ với nhiều loại trang sức phụ kèm.

Người già M’nông có áo rhắp, chiếc khăn rbay nghiêm trang, là trang phục không thể thiếu của các thủ lĩnh ngày xưa. Người Mạ và người Kơ Ho có chiếc áo chui đầu nền trắng của bông vải ban sơ nhưng lại nổi lên những dải hoa văn chỉ màu với những hình khối, mô típ bắt mắt. Nét độc đáo của trang phục Nam Tây Nguyên luôn đi kèm nhiều món trang sức quý giá như vòng cổ, vòng tay, hoa tai bằng nhiều chất liệu khác nhau như mã não, đá, đồng, bạc, ngà, xương, nanh thú, tre, nứa... Chúng góp phần tôn vẻ đẹp trang phục, tạo nên đặc điểm, sắc thái tộc người. Trang phục các dân tộc nơi đây mang nét hoang sơ, bảo lưu nhiều yếu tố cổ xưa, nhất là các loại hình trang phục choàng quấn khố, tấm choàng và đồ trang sức như đeo vòng đồng ở cổ chân, cổ tay, cắm lông chim trên đầu giống như cư dân Đông Sơn trước đây.

Trang phục, trang sức của các dân tộc là sản phẩm sáng tạo văn hóa đặc sắc của các dân tộc, thể hiện bản sắc tộc người. Giữ gìn trang phục truyền thống là một việc làm quan trọng, cần thiết để bảo tồn, phát triển tính đa dạng văn hóa của các dân tộc.

Du lịch, GO! - Tổng hợp
Con đường liên xã mình đang đi nối từ QL51 xuyên qua xã Hắc Dịch, xã Sông Xoài, xã Láng Lớn (thuộc huyện Châu Đức) đến thị trấn Ngãi Giao. Bạn thấy đường tốt không? 
Mấy ai biết rằng năm 1986 thì đây chỉ là vùng đất ảm đạm, dân cư thưa thớt. Hồi đó từ ngã ba Mỹ Xuân vô Hắc Dịch gần 10km nhưng mỗi ngày chỉ có vài ba chuyến xe lam cũ kỹ đưa khách ra vào. Những chiếc xe này oằn mình chất đầy hàng hóa và người đeo bám, chậm chạp trên con đường đất đỏ đầy ổ gà…

Phương tiện vận chuyển của bà con trong vùng thời điểm đó là những cỗ xe bò hay máy xới nhưng cũng không mấy chiếc. Ai có chiếc xe máy 50 hay cánh én cũng được kể là khá giả rồi. Hàng quán cũng chẳng có để mà giải khát hay lót dạ, nếu có chăng cũng chỉ là mì gói và uống nước lạnh của bà con để sẵn trong lu bên đường. Nhắc đến quá khứ để thấy một sự thay đồi đến diệu kỳ của một vùng đất xưa.

< Ngã 3 Hắc Dịch, bọn mình rẽ trái theo vòng xoay hướng về Sông Xoài.

Sông Xoài cũng vậy: được chia tách từ xã Hắc Dịch năm 1994, xã có diện tích tự nhiên là 2.902 ha đa phần là đất nông nghiệp.

Hồi năm 1996: toàn xã có 1470 hộ nhưng quá 1/3 là hộ nghèo, nhà tranh vách lá  và cả xã chỉ có 47 hộ sử dụng điện. Tuyến đường Mỹ xuân Ngãi giao chạy ngang nhưng đầy ổ voi ổ gà nên đi lại rất khó khăn, còn đường trong các khu dân cư hoàn toàn là đường đất, đường mòn.
< Rời địa phận Hắc Dịch.

Dân ở khu vực ấp Cầu Mới muốn đi qua xã phải đi đường vòng qua Hắc dịch nếu không muốn mặc quần đùi vác xe đạp lội qua suối. Nhiều người dân ở các nơi cũng về đây lập nghiệp, tạo thêm cho địa phương một áp lực về kinh tế…
Mười sáu năm sau, một khoảng thời gian không phải là dài của một đời người, càng không phải là chiều dài của một địa phương nhưng Sông Xoài đã thay đổi hoàn toàn diện mạo từ cuộc sống người dân đến các công trình dân sinh.

< Chợ Sông Xoài.

Xã Sông Xoài được xác định là xã nông nghiệp và định hướng phát triển kinh tế là phát triển nông nghiệp đi đôi với tiểu thủ công nghiệp và thương mại dịch vụ. Sự nhất trí cao trong lãnh đạo và mọi tầng lớp nhân dân địa phương đã tạo nên một sức mạnh tổng hợp.  Nhờ vậy, tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội , an ninh quốc phòng đều từng bước phát triển vững chắc.
< Xã Sông Xoài có nhà nghỉ "Vườn Xoài", có lẽ xã trồng nhiều xoài lắm đây.

Bây giờ thì hệ thống giao thông toàn xã đã được nhựa hoá 90%. Trụ sở UBND khang trang, trường Tiểu học, trường Trung học đạt chuẩn quốc gia được xây dựng, đáp ứng cho sự nghiệp giáo dục của địa phương.

< Nắng khá gắt nhưng lúc này chưa đầy 8h sáng - Xem ra một ngày hứa hẹn cái nóng đến "lột dên" đây. Nhưng không sao, bọn mình đã chuẩn bị đủ găng tay, khẩu trang, kiếng, áo đầy đủ.

Nhiều công trình phúc lợi được xây dựng như:Trạm y tế, Trung tâm văn hoá học tập cộng đồng, chợ mới. 98% hộ dân có điện lưới quốc gia, 258 căn nhà được xây mới cho người nghèo góp phần nâng cao mức sinh hoạt, hưởng thụ văn hóa của mọi tầng lớp nhân dân, năm 2007, xã được công nhận xã văn hoá...
< Cổng chào của huyện Châu Đức, sắp đến Ngãi Giao rồi.

Láng lớn, Châu Đức là một trong những địa phương có nhiều dân tộc Châu Ro sinh sống tạo thành làng Dân Tộc Châu Ro. Người Châu Ro gắn bó với đất Bà Rịa – Vũng Tàu đã từ lâu, hiện có khoảng gần 9.000 người, chiếm phần lớn số cư dân thuộc 17 dân tộc ít người của tỉnh.

Họ sống trong các cụm dân cư ở Bàu Lâm (huyện Xuyên Mộc), Ngãi Giao, Kim Long, Bình Giã (huyện Châu Đức), Châu Pha (huyện Tân Thành).

< Nói "sắp" chứ theo cọc kilomet ven đường thì cũng còn 9km nữa.

Nếu bạn đến thăm các danh thắng ở các huyện Tân Thành, Châu Đức, Xuyên Mộc tìm hiểu thêm các phong tục tập quán của người Châu Ro.

Ngày xưa, trai gái người Châu Ro lớn lên tự đi tìm bạn đời, tự do làm quen, tự do dắt nhau đi chơi trăng và tự do ăn ở, làm lụng bên nhà gái.
< Đường đang tu sửa chổ hư hỏng.

Theo phong tục xưa, đến một lúc nào đó cần thiết, cha mẹ, họ hàng Nhà Gái mang một con gà trống tơ mập, một chai rượu trắng kèm theo đồ vật của người con trai như áo, khố… sang gặp cha mẹ, họ hàng nhà trai và nói bóng gió:
-Con trâu nhà ông bà dẫm nát ruộng nhà tôi rồi, ông bà tính sao?
Đáp lại thịnh tình nhà gái thì nhà trai sẽ nói:
-Ông Trời cột tay chân chúng nó rồi, ông bà cho con trâu nhà tôi được ăn cỏ chung với con trâu nhà ông bà.

< Ngã 3 Láng Lớn, mình sẽ quẹo phải đi Ngãi Giao. Bảng cũng ghi Ngãi Giao 9km... trong khi cột cây số 9 mình qua từ thuở nào rồi.

Vậy là người ta ngả mâm bày cỗ, ai ăn cứ ăn, ai uống cứ uống… Người ra vào đông như bầy mối, bầy ong. Người say nằm ngủ, người chưa uống đủ cứ uống thêm… cho đến khi tàn.

Lễ cưới chồng của người Châu Ro xưa là vậy. Từ đây người con trai chính thức là chồng của người con gái. Họ ăn ở với nhau cho đến khi sinh con đầu lòng thì cha mẹ vợ cho ra ở riêng.

< Khu vực gần chợ Láng Lớn.

Xét về mặt hôn nhân gia đình thì đồng bào Châu Ro xưa ở vào thời kỳ Mẫu hệ, con gái đi hỏi chồng, cưới chồng, về ở nhà vợ, không có tục “dạm”, “hỏi”, “lễ cưới”, tục “mai mối”. “Ông Tơ, Bà Nguyệt”, “Thách cưới”, tục xem ngày tháng, so tuổi…
Trong thời gian chung sống, vì một lý do nào đó như bỏ nhau vì xung khắc tính nết, chết… họ có thể “Đi bước nữa” nhưng không qua các bước như lần đầu kể trên. Nếu hai người bỏ nhau thì tài sản, kể cả bất động sản, con cái đều thuộc về người mẹ. Người cha ra đi hai bàn tay trắng. Nếu người vợ chết thì người chồng được quyền lấy chị, em của người vợ (với điều kiện những người này chưa có chồng), và ngược lại nhưng không thành luật tục bắt buộc như một số dân tộc ít người khác.
< Đoạn đường từ Láng Lớn về thị trấn Ngãi Giao vừa được nâng cấp rộng rãi, có cả đèn đường.

Ngày nay, lối sống mới cũng đã được người Châu Ro tiếp nhận, tục cưới xin trước kia chỉ còn là nét đẹp truyền thống trong kho tàng các phong tục tập quán của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
< Hồ thủy lợi Núi Nhạn, Núi Nhạn là tên ngọn núi nhỏ kề cận hồ.

Qua làng dân tộc Châu Ro rồi thì vào địa phận Ngãi Giao, bọn mình dừng lại nghỉ chân, uống nước. Đây là hồ chứa nước Núi Nhan (thị trấn Ngãi Giao, Châu Đức, Bà Rịa - Vũng Tàu) bắt đầu xây dựng từ cuối năm 2002 (nếu bạn nhìn trên bản đồ Google map chị thấy một khoảng đất đang sang ủi - do ảnh Google chụp ngày 26.1.2003) với tổng vốn đầu tư hơn 7 tỉ đồng.
< Đường tốt, vắng xe trông thật yên bình.

Hồ chứa nước được xây dựng nhằm cung cấp nước tưới cho 350 ha đất nông nghiệp, cung cấp nước sinh hoạt cho người dân thị trấn Ngãi Giao với công suất 150 m³/ngày đêm và cải tạo môi trường sinh thái, nuôi trồng thủy sản.
Xây dựng đến tháng 12.2003 thì hoàn thành nhưng ngay sau đó gây nhiều bức xúc trong dân vì hồ rất ít nước. Nguyên nhân được cho là lượng mưa năm 2004 và 2005 rất thấp so với số liệu tính toán ban đầu dẫn đến tình trạng nước hồ ít so với thiết kế. Nguyên nhân khác là do đáy hồ thấm nước và chủ yếu mất nước qua lòng hồ.



May mắn là một thời gian dài sau đó thì người ta cũng khắc phục được chuyện "hồ mà nước chỉ như cái ao"... và như bạn thấy trong ảnh: hồ đầy nước, trong xanh và phát huy hiệu quả, tạo cảnh quan đẹp.

< Sau phút nghỉ ngơi thì hai kẻ phiêu bồng lại lên đường...
< Cảnh vật ven đường: trông ngồ ngộ với vách đất đỏ dưới làn cỏ xanh mướt.
< Cuối cùng thì trung tâm thị trấn Ngãi Giao (huyện Châu Đức) kia rồi - lúc này là 8h15 ngày 24 tháng 10.

Còn tiếp

Phần 1 - Phần 2 - Phần 3 - Phần 4 - Phần 5 - Phần 6 - Phần 7 - Phần 8 - Phần 9 - Phần 10

Điền Gia Dũng - Du lịch, GO!

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống