Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Saturday, 29 October 2011

Tạm xa phố phường ồn ào, đắm mình vào không gian xanh êm đềm, thấp thoáng bóng áo cỏm của thiếu nữ Thái, ngắm những ngồi nhà sàn, đây đó lách cách tiếng thoi đưa...

Đặc biệt khi ngâm mình trong bồn nước khoáng nóng hổi ở suối bản Hốc xã Sơn Thịnh huyện Văn Chấn, bạn mới cảm nhận được sự kỳ diệu của đất và con người nơi miền Tây tỉnh Yên Bái.

Bản Hốc là một bản bình yên của người Thái cách huyện lị Văn Chấn khoảng 5 Km. Bản làng từ lâu được du khách yêu thích khám phá cung đường Tây Yên Bái chọn làm trạm dừng chân đầu tiên, nạp nguồn năng lượng mạnh mẽ cho những cung đường gay go kế tiếp.

Từ Hà Nội đi theo cung đường tây tây bắc của quốc lộ 32 khoảng 190 Km, du khách sẽ đến được bản. Tại đây có dòng suối Nhì bắt nguồn từ Thác Hoa ở Trạm Tấu chảy đổ xuống, qua đèo cao thung sâu mang đầy khí trời, hơi gió nên quanh năm mát mẻ.

< Giặt đồ bên suối.

Khi dòng Nhì chảy qua bản Hốc xã Sơn Thịnh thì sinh nguồn nước nóng. Nhiệt độ dòng suối trung bình từ 50°C - 60°C với độ khoáng khá tốt. Du khách có thể chọn hồ khoáng nóng do người dân bản xây với chi phí 7.000 - 10.000/ người, còn với những ai yêu thiên nhiên hoang sơ có thể ra đồng ngâm mình dưới lòng suối thỏa thích hít thở khí trời.

< Tắm khoáng nóng giữa trời đất...

Riêng về khu nhà tắm khoáng: Cũng như người dân bản địa, sinh ra đã được tắm suối khoáng nóng, ông Lò Văn Chồm lấy làm tự hào về dòng suối nóng quê mình. Nhận thấy kiểu “tắm tiên” giữa trời lâu nay của đồng bào chưa đáp ứng được nhu cầu thăm thú và nghỉ dưỡng của khách du lịch và nhân dân qua lại địa bàn nên năm 2004, ông huy động vốn liếng từ anh em, bạn bè xây dựng lên khu tắm nóng này.

Hiện nay, khu tắm nóng của gia đình ông có 19 phòng tắm cho cả khách bình dân và khách du lịch hạng sang. Ông cũng là người bản địa đầu tiên và là người Văn Chấn tiên phong trong lĩnh vực đầu tư phát triển du lịch suối khoáng nóng ở Yên Bái.

Không ai nhớ suối Nhì có đã bao lâu, chỉ biết rằng giai thoại về sự tích suối nước nóng bản Hốc cho đến giờ còn được người già trong vùng truyền kể.

Chuyện kể rằng thuở xưa, Ma Long Vương vốn là một con thuồng luồng của đất mường Bảnh, tính nóng như lửa. Biết ngòi Nhì đoạn chảy qua bản Hốc lắm cá, tôm nên nảy sinh lòng tham chiếm giữ. Sau mấy ngày giao tranh dữ dội với Ma Long Vương ngòi Nhì, Ma Long Vương mường Bảnh thua trận, không kịp chạy về phải lặn sâu dưới đáy nước trốn biệt.


Kể từ ấy, suối Nhì chảy qua bản Hốc nước nóng rát, sủi tăm sùng sục suốt ngày đêm. Người ta bảo rằng, đó là hơi thở dữ dội của kẻ bại trận. Thực hư truyền tích khiến cho suối nước nóng bản Hốc mang đậm màu sắc huyền hoặc, thần bí, cuốn hút du khách thập phương.

Buổi tối có thể ngủ nhà sàn với giá 20.000 - 30.000/người, thưởng thức các đặc sản của người Thái như rượu ong Bản Hóc, cơm lam với cá suối nướng, thịt én.. và tham gia những điệu múa truyền thống: múa xòe, múa sạp cùng các cô gái Thái. Ban ngày có thể dạo quanh làng bản ngắm nhìn những ngôi nhà sàn cổ, những cô gái Thái trong trang phục truyền thống thấp thoáng sau khung cửi.

Xuân này về bản Hốc, về với truyền tích xưa của một vùng đất đẹp: du khách chẳng những tìm được cho mình những giây phút thư thái trong bồn nước khoáng nóng hay những bãi “tắm tiên” thơ mộng mà còn được tận hưởng cảch đẹp của núi rừng Tây Bắc, với những cô gái Thái thoải mái tắm trần trên dòng suối. Để rồi say mềm cùng em gái Thái trong chén rượu ngô thơm nồng, trong điệu Khắp, điệu Xoè xao xuyến lòng người; được mời nghỉ lại trong ngôi nhà sàn xinh xắn, cùng thưởng thức những món ăn dân dã của người Thái hiếu khách…

Chỉ chừng ấy thôi cũng đủ gợi cho bạn, cho tôi ấn tượng về nét hoang sơ một thuở của suối khoáng nóng bản Hốc, nơi đang được chọn làm điểm đến thú vị của nhiều người.

Du lịch, GO! tổng hợp
Khu dinh thự cổ bề thế, uy nghi dưới bóng hai hàng sa mộc cổ thụ cao vút, ẩn sau những ngọn núi đá tai mèo vắt ngang lưng trời là một di tích kiến trúc nghệ thuật độc đáo trên miền cao nguyên đá Hà Giang.

< Dinh thự Vương Chí Sình.

Sau bữa trưa ồn ào, đầy ắp tiếng nói cười bên những bát rượu ngô sóng sánh và những nếp váy thổ cẩm rực rỡ sắc màu ở chợ Sà Phìn, chúng tôi bước theo con đường lát đá tảng giữa hai hàng sa mộc cổ thụ cao vút dẫn đến dinh thự nhà họ Vương.

< Cổng vào tiền đình.

Chỉ đến khi bước qua cánh cổng ngoài đơn sơ cạnh bức tường đá hộc dày dặn, chắc chắn, ngước mắt nhìn lên ngôi nhà cổ uy nghi, bề thế với mái ngói cong vút và khu mộ cổ dưới bóng hàng sa mộc, tiếng nói cười huyên náo mới lặng dần. Thập thò mãi bên cánh cổng gỗ đóng hờ, rồi chúng tôi vào bên trong khu dinh thự nhờ đi theo một cô bé xinh xắn, là cháu gái của người đang giữ chìa khóa khu nhà này, cũng là cháu chắt của hai đời chủ nhân khu dinh thự - những ông “vua” người Mông cực Bắc Vương Chính Đức và Vương Chí Sình.

< Mặt tiền đình giữa.

Qua cánh cổng, đứng trong bóng tối lờ mờ của khu nhà, ánh mắt chúng tôi đã bị hút theo một dãy cửa thẳng tắp xuyên suốt các dãy nhà ngang, ngăn cách nhau bằng những khoảng sân vuông vắn lát đá. Khu dinh thự xây theo 3 lớp cao dần vào trong gồm tiền dinh, trung dinh và hạ dinh, với 4 nhà ngang và 6 nhà dọc xây 2 tầng, gồm 64 buồng.

Nghe nói dinh thự cổ bao bọc giữa bốn bề núi đá này được xây cất ròng rã 8 năm, rộng hơn 1.000m2. Ngày ấy, cụ Vương Chính Đức mời thầy địa lý đi hết vùng núi non Hà Giang, cuối cùng dừng lại ở khu đất nổi lên như hình mai rùa ở thung lũng Sà Phìn thuộc địa bàn huyện Đồng Văn này.

< Mộ Vua Mèo Vương Chí Sình (Được Hồ Chí Minh đổi thành Vương Chí Thành)

8 năm trời, những người thợ tài hoa từ vùng Vân Nam (Trung Quốc) cùng với những tốp thợ người Mông giỏi nhất đã tạc đá, xây nhà, tạo nên một khu dinh thự bề thế, uy nghi, kết hợp hài hòa đường nét kiến trúc nhà Thanh với văn hóa người Mông bản địa.

Dấu ấn đặc trưng của văn hoá Mông thể hiện ngay ở bờ tường đá vòng tròn quanh khu nhà. Hơi khác với những bờ rào đá xếp chồng lên nhau quen thuộc khắp vùng cao nguyên đá, bức tường dinh thự này được xây chắc chắn, dày đến gần nửa mét, tạo thành khuôn viên riêng biệt đầy vẻ bề thế cho khu dinh thự. Bên trong bờ tường đá là những khu nhà trình tường, lợp ngói âm dương, với những khung cửa gỗ, lan can, hàng cột chạm trổ tinh xảo.

< Bàn thờ Vương Chính Đức.

Dãy cửa thẳng tắp của các khu nhà ngang có sức cuốn hút lạ kỳ, lôi kéo bước chân chúng tôi đi một đường thẳng tắp xuyên dọc khu nhà. Cảm giác thật thích, cứ bước hơn chục bước trong khu tiền dinh tôi tối, vừa đủ thấy sờ sợ, rón rén là đã ra đến khoảng sân trời lát đá ngập tràn ánh nắng. Lại mạnh mẽ, tự tin bước lên vài bậc tam cấp, đi tiếp vào trung dinh lờ mờ ánh sáng hắt qua những ô cửa chạm trổ tinh xảo, đến khi bước chân vừa thấy rụt rè, lại đã ra đến khoảng sân rộng nối với hậu dinh. Cứ thế, những bước chân vừa tò mò, vừa hồi hộp đi hết chiều dọc dài đến gần 50m của khu dinh thự, tới tận 2 lô cốt xây đá xanh ở góc trong cùng.

< Khu mộ xây cất theo lối cổ nằm ngay phía ngoài bờ tường đá, cạnh đường vào dinh thự.

Khi đã quen dần với vẻ tôi tối đầy bí hiểm của khu nhà, chúng tôi bắt đầu rẽ ngang rẽ tắt, tỏa vào các dãy nhà ngang, nhà dọc. Tôi cứ tha thẩn đi dọc các dãy hành lang, định bụng đếm xem khu nhà này có đủ 64 phòng hay không. Nhưng khi leo lên tầng 2, tôi ngay lập tức bị hút hồn bởi những khung cửa sổ và những mái nhà lợp ngói hình chữ thọ chạy dọc các hàng hiên.

Quên mất việc đếm phòng, tôi chiếm giữ một khung cửa sổ, mê mải chụp ảnh những mái ngói ngang dọc xếp chồng lên nhau tầng tầng lớp lớp ở bốn góc khu nhà. Rồi những khung cửa sổ tối đen xung quanh dần xuất hiện những bóng áo đỏ, áo xanh cùng những vuông khăn Mông rực rỡ sắc màu của những người bạn đồng hành.

< Những khung cửa sổ và dãy mái ngói rêu phong xếp lớp trong dinh thự.

Lâu lâu, bóng áo đỏ bên khung cửa này lại thì thầm với bóng áo xanh ở khung cửa bên cạnh, rồi nói với qua khoảng sân rộng, tới tận bóng áo vàng ở dãy nhà đối diện. Tiếng nói cười lại ríu rít bên những mái ngói đã lên màu rêu mốc.

Phía dưới sân, những người bạn tôi cũng chọn cho mình một góc yêu thích trong khu dinh thự cổ. Đứa ngồi dựa lưng vào hàng cột gỗ lớn ngoài hiên, đứa đung đưa buông thõng hai chân bên thềm nhà lấp lóa nắng chiều, lơ đãng dõi theo đôi má đỏ hồng lấp ló ẩn hiện trên những khung cửa sổ tầng hai và tiếng cười lanh lảnh của mấy cô bé, cậu bé người Mông bay dọc dãy mái ngói rêu phong. Tiếng cười trong trẻo ấy vượt ra khỏi những mái ngói của khu dinh thự cổ, vượt qua hàng sa mộc cao vút, vượt cả những triền núi cao ngất tận lưng chừng trời, theo chúng tôi mãi trong suốt hành trình trên miền cao nguyên đá.

Du lịch, GO! - Theo báo Laodong, Viendong
Dẫu con ngán sống phổ biến ở các vùng ven biển nhưng có lẽ theo nhiều người đã thưởng thức thì không ở đâu con ngán ngon được như ngán sống tại khu vực cửa sông Bạch Đằng nơi giáp ranh giữa Quảng Ninh và Hải Phòng.

Con ngán là loài nhuyễn thể sống ở vùng nước mặn và nước lợ trải dài suốt từ Nam chí Bắc. Trông vẻ bên ngoài con ngán lớn hơn con ngao và có vỏ sần sùi màu trắng do sống sâu dưới đáy cát. Khi ở dưới nước, ngán thường thò chiếc xúc tu to và dài để thở và kiếm thức ăn, nếu thấy mặt nước động là chui nhanh xuống dưới bùn để trốn kẻ thù. Ngán là một thực phẩm giàu chất dinh dưỡng. Trong thịt ngán có đầy đủ các chất protit, gluxit, lipit, nhiều vitamin và những chất khoáng cần thiết cho cơ thể.

Vào mùa ngán, các ngư dân khai thác ngán thường phải lội rất sâu dưới bùn mới có thể móc được con ngán, có thể như thế mà con ngán mang tiếng là ngán chăng chứ đứng xét về độ thơm ngon của chúng thì ăn chẳng bao giờ thấy ngán.

Ngán bắt được hay mua về cho vào chậu nước rửa sạch bùn bám sau đó cho vào chậu nước vo gạo, hoặc nước ấm ngâm khoảng 2-3 giờ cho chúng nhả hết cát rồi vớt ra.  Từ con ngán có thể chế biến được nhiều món ăn ngon và bổ được chế biến thành rất nhiều món ăn khác nhau như ngán luộc, ngán nướng, gỏi ngán, cháo ngán, bún ngán...Món ngán được chế biến theo những cách khác nhau lại có hương vị riêng nhưng có lẽ ấn tượng với người ăn hơn cả đó là món rượu ngán.

Ngán dùng để chế biến rượu ngán phải là ngán bánh tẻ, vì ngán lúc đó đang độ phát triển nhất thịt nhiều, ngọt và béo ngậy, có vị nồng chát đặc trưng của ngán. Những chú ngán sau khi đã đánh rửa sạch, trắng bóng được mổ ngang lưng, lấy một cái bát hứng lấy phần nước và thịt. Thịt ngán phải được rửa bằng chính nước con ngán để không bị tanh và giữ được vị tươi ngon. Hầu hết mọi người đều cho rằng rượu ngán được chế biến đơn giản nhưng chỉ có những người dân bản địa sành ăn mới biết cách chế biến rượu ngán.

Ngán sau khi sơ chế sạch sẽ thì đem thả trực tiếp vào cốc rượu, sau đó người ta dùng đũa đánh bong cho ngán tiết ra chất mật, phản ứng với rượu làm ngán có màu hơi xanh và nước rượu chuyển sang màu hồng hồng. Đây là cách chế biến rượu ngán ngon nhất và thường được gọi với cái tên dân dã tiết canh ngán. Một ly rượu ngán tuyệt hảo phải đảm bảo có mùi thơm nồng khó tả và có vị cay của rượu, vị ngòn ngọt, chan chát của ngán hoà quyện trong một ly rượu ngán. Món khai vị của các thực khách nam giới rất nghiền nếu ngại uống rượu tiết sống, ta có thể hâm nóng rượu trước khi uống.

Còn với những món ăn phổ biến như ngán nướng, hấp thường người ta chỉ chế biến tái thôi vì nếu chín quá ngán sẽ giảm ngon ngọt. Sau khi ăn xong ngán nướng hay hấp thì món ăn để no và ấm bụng sau khi lai rai cùng bạn bè chính là một bát cháo ngán nóng hổi là đủ để kết thúc một bữa đại tiệc về món ngán mà sao ăn vẫn chưa thấy ngán!

Du lịch, GO! - Theo báo Laodong

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống