Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Sunday, 30 October 2011

Đường tuần tra biên giới (còn gọi là "Nam quốc sơn hà") có chiều dài tổng cộng khoảng trên 10.000km, trở thành con đường dài nhất Việt Nam, vắt qua 29 tỉnh biên giới. Đường tuần tra biên giới đi qua các địa hình đặc biệt khó khăn, núi cao, vực sâu rất dễ sạt lở vùi lấp do mưa bão, lũ ống, lũ quét.

Điểm đặc biệt ở con đường này là phải bảo đảm tiêu chí bám đường biên, biên giới chạy qua đâu, con đường theo sát đó, có khi là đỉnh núi cao mà ít người đặt chân đến, khi là lòng suối sâu, vách đá… Tất cả lực lượng bộ đội công binh trong toàn quân đã vào cuộc, bắt đầu từ đoạn đường đầu tiên ở biên giới tỉnh Bình Phước (giáp Campuchia), đến các tỉnh biên giới Tây Bắc, Đông Bắc. Từ năm 2007 đến nay, hàng ngàn km đường biên đã được bộ đội công binh làm qua những địa bàn như thế.

Mặc dù đã có máy, xe chuyên dụng, nhưng phần lớn công việc rà đường, phá núi lại diễn ra ở những vùng địa hình rất phức tạp nên thao tác thủ công vẫn là chính.

Địa hình thi công đường rất hiểm trở và cheo leo, có những đoạn đường nằm trên độ cao 2.000m so với mặt nước biển, có nơi lại tít dưới vực sâu mà lề đường bên kia là biên giới của bạn và nếu không xây dựng Đường tuần tra biên giới chắc sẽ không có dấu chân người.

Để mở đường, bộ đội phải mất rất nhiều công sức làm đường công vụ, trung bình 3-4 ngày mới đưa được một chuyến vật liệu vào công trường”. Việc “giải phóng mặt bằng” ở nơi đây cũng không kém phần gian nan. Để đưa được bộc phá vào khe núi, lính công binh phải lên tận đỉnh núi cao tìm cây to buộc dây thừng, dây chão vào rồi đeo khí tài để khoan đá, nhồi thuốc phá núi, mở đường.

Đường tuần tra biên giới là một công trình mang ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc. Bước đầu hệ thống đường này đã đáp ứng cho nhiệm vụ tuần tra, bảo vệ chủ quyền, an ninh trên tuyến biên giới; tạo điều kiện cho việc thành lập mới, triển khai các đồn, trạm biên phòng. Hệ thống đường tuần tra biên giới góp phần phục vụ tốt quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương, tạo điều kiện cho việc cơ cấu lại các khu kinh tế.

Hệ thống đường tuần tra biên giới được xây dựng cũng đã góp phần xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc trên các vùng biên giới và thông qua đó: con đường cũng sẽ vụ vụ du lịch trong tương lai.

Được Chính phủ giao nhiệm vụ, Bộ Quốc phòng tổ chức lực lượng thi công. Từ khi dự án được khởi công xây dựng, các đơn vị công binh và các doanh nghiệp quân đội tham gia thi công tuyến đường đã nỗ lực phấn đấu, hoàn thành hàng ngàn km đường bảo đảm chất lượng, giá thành rẻ đưa vào sử dụng.

Theo Đề án quy hoạch xây dựng đường tuần tra biên giới giai đoạn 2006-2010 và những năm tiếp theo đã được chính phủ phê duyệt, hệ thống đường tuần tra biên giới được xây dựng trên địa bàn 25 tỉnh biên giới đất liền từ Quảng Ninh đến Kiên Giang. Tổng khối lượng theo quy hoạch xây dựng là 10.196 km, đường dọc biên được xây dựng trong khu vực vành đai biên giới trong phạm vi khoảng 1000 m tính từ đường biên giới quốc gia.

Giai đoạn 2006-2010 triển khai xây dựng đường tuần tra biên giới trên địa bàn 19 tỉnh với khối lượng 1.969 km, trong đó có 21 dự án chuyển tiếp dài 484 km do Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng các tỉnh, các quân khu làm chủ đầu tư. 32 dự án do Bộ Tổng tham mưu làm chủ đầu tư dài 1.512 km tại các địa bàn: Tây Nguyên, Tây Bắc và tuyến biên giới Việt - Trung.

Thiếu tướng Hoàng Kiền cho biết: đến nay, 3 tỉnh Quảng Ninh, Kon Tum, Gia Lai đã hoàn thành việc xây dựng đường tuần tra biên giới.

Đến năm 2012, hệ thống đường tuần tra biên giới do Bộ Tổng tham mưu làm chủ đầu tư giai đoạn 2006-2010 sẽ hoàn thành 1.512 km đường ô tô tiêu chuẩn, sẽ thông được hai tuyến: Tuyến Lạng Sơn- Quảng Ninh (từ Móng Cái đến cửa khẩu Chi Ma- Lạng Sơn) dài khoảng 250 km; Tuyến Kon Tum- Bình Phước với tổng chiều dài thông tuyến khoảng 970 km; hoàn thành từng phân đoạn (cả đường dọc và đường ngang) trên địa bàn từng tỉnh.

Giai đoạn 2011-2015 sẽ mở mới và nâng cấp khoảng 1.700 km, sẽ đi qua địa bàn 18 tỉnh. Tuyến biên giới Việt Nam- Cam puchia sẽ xây dựng mới và kết hợp nâng cấp một số đoạn để hoàn chỉnh tuyến từ Kon Tum đến Kiên Giang.

Tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc sẽ xây dựng mới và nâng cấp để thông tuyến từ Quảng Ninh đến Lạng Sơn và một phần biên giới tỉnh Cao Bằng cùng một số dự án của tỉnh Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên. Tuyến biên giới Việt Nam - Lào sẽ triển khai tiếp một số khu vực ở các tỉnh: Điện Biên, Sơn La, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Nam.

Ban quản lý dự án 47 đã làm việc với các tỉnh, thống nhất quy hoạch chi tiết xây dựng đường tuần tra biên giới trên địa bàn, dự kiến sẽ hoàn thành đề án quy hoạch giai đoạn 2011-2015, báo cáo Bộ Quốc phòng, trình chính phủ phê duyệt làm cơ sở triển khai các dự án thành phần từ năm 2011 trở đi.

Các địa phương có đường tuần tra biên giới nhân dân rất phấn khởi, kinh tế ở khu vực biên giới phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện. An ninh khu vực biên giới được giữ vững, lưu thông giữa các vùng trên biên giới thuận lợi, công tác bảo vệ biên giới được bảo đảm.

Từ bài này, Du lịch, GO! sẽ trích đăng bài "Con đường Nam quốc sơn hà" gồm 4 phần nói về tuyến đường tuần tra biên giới này, mong các bạn đón xem.

Du lịch, GO!


Con đường “Nam quốc sơn hà” (Kỳ 1)
Con đường “Nam quốc sơn hà” (Kỳ 2)
Con đường “Nam quốc sơn hà” (Kỳ 3)
Con đường “Nam quốc sơn hà” (Kỳ 4)
Chùa Vẽ là ngôi chùa thờ Phật của làng Đoạn Xá, xã Đông Hải, huyện An Hải, nằm ở ngoại vi phía Đông cách trung tâm thành phố Hải Phòng khoảng 10km. Chùa Vẽ có tên chữ là Hoa Linh Tự. Nhưng tại sao chùa lại có tên là chùa Vẽ thì có thể có hai cách giải thích như sau:

Cách giải thích thứ nhất: Địa bàn xã Đông Hải trải dài theo bờ nam sông Cửa Cấm, với nhiều làng xã, địa danh cổ gắn liền với những sự kiện oanh liệt chống ngoại xâm của quân dân ta trong chiến thắng Bạch Đằng năm 938 của Ngô Vương Quyền như: Hạ Đoạn, Đoạn Xá, Phương Lưu và chiến thắng Bạch Đằng năm 1287 - 1288 của quân dân ta thời Trần, đó là các làng quê Phú Xá, Bình Kiều...

Truyền sử địa phương đặc biệt nhắc tới vai trò lợi hại của các ngôi chùa ở khu vực này đã góp phần vào thắng lợi vang dội của quân dân ta trong thế kỷ XIII.

Đó là chùa Đỏ (Linh Độ Tự) gần khu vực cảng Cửa Cấm ngày nay là nơi quân ta nổi lửa nuôi quân đánh trận, chùa làng Đoạn Xá (Hoa Linh Tự) - nơi các thám tử của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn quan sát đồn trại giặc, vẽ sơ đồ chuẩn bị cho trận đánh Bạch Đằng năm 1288 thắng lợi. Do vậy, chùa làng Đoạn Xã ngoài tên chữ Hoa Linh Tự, còn có tên là chùa Vẽ.

Cách giải thích thứ hai: Chùa làng Đoạn Xá mang tên vị tăng có công khai lập ngôi chùa thờ Phật từ buổi đầu gian nan là Sư ông Vẽ, sau truyền đến Sư Vô. Nhưng cách giải thích này chưa thật đầy đủ, lại chưa thấy một văn bản nào đáng tin cậy nói tới. Nhưng tên chùa Vẽ ngày nay đã trở nên quen thuộc với người dân nơi đây.

Chùa Vẽ là một công trình kiến trúc nghệ thuật cổ còn khá nguyên vẹn, nguy nga. Chùa có qui mô và nghệ thuật trang trí kiến trúc giống hệt các đình làng nổi tiếng trong vùng như Đông Khê, Hạ Lũng, Phụng Pháp... chứ không mang dáng vẻ thấp và u tịch như nhiều chùa làng Việt Nam khác. Tòa Phật điện cấu trúc hình chữ 'Đinh' gồm 5 gian tiền đường và 4 gian chuôi vồ. Kèm hai bên hậu cung là hai ngôi nhà chè nhỏ, nơi đặt bàn thờ 'Tam toà Thánh Mẫu' và 'Đức Ông bản thổ'. Các cột của toà nhà được làm hoàn toàn bằng gỗ lim nguyên cây, cao to lừng lững, một vòng tay người ôm không xuể.

Bàn thờ Trần Hưng Đạo, vị tổng chỉ huy quân đội nhà Trần được lập ở gian phía trái toà tiền đường. Tượng Hưng Đạo Vương và tượng đôi ngựa chiến hồng bạch của ông là những tác phẩm điêu khắc cực kỳ sống động.

Thăm chùa Vẽ ngày nay, chúng ta không có dịp được chiêm ngưỡng đầy đủ những tượng pháp, nghi trượng và đồ thờ tự trong nguyên trạng, nhưng những hiện vật còn được bảo tồn đều là cổ vật quí giá, đặc biệt là hệ thống tượng tháp, tượng thánh thần, tượng Hậu phật, tượng Sư tổ.

Tòa Tam Bảo được bày trọn trong tòa hậu cung. Hàng trên cùng là bộ tượng Tam Thế, tiếp đến là bộ Di Đà Tam Tôn là những tượng pháp kinh điển của nhà Phật. Tượng A Di Đà cao to nhất trong Phật điện, thể hiện trong tư thế toạ thiền trên đài sen, phụ toạ toàn phần trong thế hình tháp vững chắc.

Hàng tượng thứ ba có đức Thích Ca giáo chủ ngồi giữa, hai bên là tượng Mahacadiếp và Anam Đà tôn giả là những đệ tử của đức Cồ Đàm.

Hàng tượng thứ tư gồm ba pho Quan Thế Âm Bồ Tát. Pho đặt chính giữa là Quan Âm 'Thiên thủ Thiên nhỡn' ngồi trên toà sen, có 6 đôi tay để trần xoè ra như đoá hoa nở và các ngón tay cong lại trong những thế ấn bí truyền của dòng Thiền. Pho bên phải là đức Phật bà Diệu Thiện với bình nước cam lồ để diệt trừ 108 điều phiền não cho chúng sinh và con chim ca lăng tần già đang hoá giảng Phật pháp cho chúng sinh. Pho bên trái là Quan Âm toạ sơn ngồi khoan thai trên bộ gỗ.

Tiếp đến là các hàng tượng: Ngọc Hoàng và Nam Tào, Bắc Đẩu, toà Cửu Long và Thích Ca Sơ Sinh, tượng đức Thế Tôn thuyết pháp, cuối cùng là tượng Thánh Tăng.

Đứng song hàng với tòa Phật điện là nhà thờ tổ 5 gian cùng quay hướng Đông Nam. Trong nhà thờ tổ, chính giữa đặt bàn thờ đức Ngô vương Quyền, ông tổ trung hưng dân tộc, bên cạnh phải là bàn thờ sư tổ, bên trái là bàn thờ Hậu phật. Tượng sư tổ có 5 pho, trung tâm là tượng tổ dòng Thiền Bồ Đề Đạt Ma (nhân dân quen gọi là Tổ Tây), chung quanh là tượng các vị cao tăng trụ trì tại chùa. Tượng mang dáng dấp của các vị tăng sư, đầy vẻ từ tâm và đậm nét chân dung. Tượng Hậu phật gồm 6 pho, tất cả đều là phụ nữ có khuôn mặt phúc hậu và quí phái. Đây là những tác phẩm nghệ thuật mang tính tả thực, mỗi người có một vẻ mặt riêng rất gần gũi với đời thường, không câu nệ, gò bó.

Với những công trình kiến trúc nghệ thuật đặc sắc kể trên và ý nghĩa lịch sử của chùa, ngày 25/1/1994, Bộ Văn hoá - Thông tin đã công nhận chùa Vẽ là di tích lịch sử Quốc gia.

Du lịc, GO! - Theo NTO, internet
Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Điền 
Anh thương em thì cho bạc cho tiền, 
đừng cho lúa gạo xóm giềng cười chê!
Câu hát giới thiệu một chuỗi địa danh ở Cần Thơ mà dẫn đầu là Cái Răng.

< Chợ nổi Cái Răng.

Cái Răng là nơi đất tốt, đông dân cư, được lập làng từ thời Minh Mạng. Khoảng 1889 – 1890 người Pháp cho đào tại đây một con kinh, lúc đầu chưa có tên sau đó đặt là kinh/rạch Cái Răng. Về mặt quản lý hành chính, tiên khởi Tòa Bố tỉnh Cần Thơ đặt tại Trà Ôn (làng Thiện Mỹ, tổng Bình Lễ), nhưng chỉ được một năm thì dời về đặt ở Cái Răng (làng Thường Thạnh, tổng Định Bảo). Sau, do Nghị định của Soái phủ Nam Kỳ ngày 23-2-1876 vùng Phong Phú lập thành tỉnh Cần Thơ, tỉnh lỵ đặt tại đây. Từ đó Trà Ôn và Cái Răng trở thành quận.

< Cà ràng cổ.

Thời khẩn hoang, sinh hoạt đời sống người nông dân còn lẩn quẩn theo phương thức tự cung tự cấp, “ông Táo” lúc ấy chỉ là 3 cục đất, hoặc đá kê chụm lại, bắc nồi trách lên, đem nấu bằng củi đòn, củi chẻ. Phải một thời gian khá dài, cả trăm năm sau, khi mà cuộc sống người nông dân Nam bộ dần đi vào ổn định thì người ta mới thấy có chiếc cà ràng được làm bằng đất xuất hiện, thay thế cho ông Táo thô sơ trước đó.

< Cuộc sống miền sông nước.

Tất nhiên lúc đầu kiểu dáng chưa mấy khéo, đẹp, có thể rất thô vụng và mau hư bể vì chất đất nguyên liệu có sẵn tại mỗi địa phương không chịu nổi sức nóng của lửa khi chụm. Về sau, do công năng độc đáo của nó, chiếc cà ràng trở thành một loại phương tiện nấu nướng, nó không chỉ hiện diện tại bếp ăn mỗi nhà mà còn theo chân người nông dân vào tận những vùng sâu, vùng xa trong những tháng gắn với mùa vụ. Chưa hết, nó còn là bạn đồng hành với những người nghèo chuyên sống nghề câu lưới, cũng là người bạn thân thiết của giới thương hồ quanh năm lênh đênh trên sông nước.

Nhưng từ đâu mà có chiếc cà ràng với kiểu dáng đáng yêu và trở thành vật dụng gắn bó thân thiết cuộc sống con người như vậy?

Có thuyết cho rằng chiếc cà ràng trước hết người Xiêm sáng tạo, đem bán ở chợ Nam Vang (Phnom Penh, Campuchia), các lái rỗi người Việt – nói chung là dân thương hồ – làm ăn ở Nam Vang mua dùng, thấy tiện ích nên trong những chuyến về lại quê nhà, lấy đất sét sẵn có ở địa phương, phỏng theo kiểu mẫu mà nặn đắp ra để xài. Song do đặc điểm của loại đất nguyên liệu này không chịu được lửa trong điều kiện nung đất tự do, tức không kiểm soát được nhiệt độ phù hợp nhất định, nên cà ràng làm bằng các loại đất ở đồng bằng đều mau hư, dễ bể. Riêng về đất sét tự nhiên, ngoài ưu điểm mềm dẻo, cũng có những nhược điểm nhất định nếu dùng nó để tạo hình làm gốm thô, nhất là đối với những vật thể mỏng mảnh, vì khi đem nung đốt chúng sẽ dễ bị nứt, nên bị xem là “đất xấu”.

< Hình dáng chiếc cà ràng.

Cho nên chiếc cà ràng chỉ được làm bằng loại đất đặc biệt ở miền núi, tốt nhất là đất lấy ở chân núi Nam Vi, miệt Xà Tón (Tri Tôn, An Giang) vì nó có tính năng kết dính rất tốt, nên xài bền, có khi vài năm cũng chưa bể, gãy. Chính vì thế nên bà con vùng Xà Tón có điều kiện sản xuất hàng loạt, sỉ cho các ghe thương hồ đem bán tại các chợ lớn, chợ nhỏ, hoặc bán lẻ tận những vùng sâu, vùng xa khắp Đồng bằng sông Cửu Long. Lộ trình thuận tiện nhất của các ghe này là xuôi theo dòng Hậu Giang, thả xuống “miệt vườn”, “miệt dưới”... mà Cái Răng được xem là “tổng đại lý” mặt hàng này. Cái Răng, cách tỉnh lỵ Cần Thơ 6 km về phía Tây Nam, trên Quốc lộ 1, từ quận Ninh Kiều (TP Cần Thơ) đi Sóc Trăng. Do thuận lợi việc giao thông thủy, bộ nên sớm trở thành nơi đô hội.

< Gian bếp Việt.

Năm 1897, toàn Cần Thơ có 10 chợ thì Cái Răng là một trong 10 chợ ấy. Vì bán đủ các mặt hàng nông lâm thủy sản nên được xem là chợ chánh, sầm uất hơn cả chợ Cần Thơ, lỵ sở huyện Phong Phú (lúc bấy giờ thuộc làng Tân An, tổng Định Bảo). Sách Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca, 1909) mô tả:

Chợ Cái Răng xứ hào hoa
Phố lầu hai dãy xinh đà quá xinh
Có trường hát cất rộng thinh
Để khi hứng cảnh thích tình xướng ca.

Từ lâu, trong dân gian còn có câu hát huê tình:

Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Xà No
Có thương em, anh mua cho một chiếc đò
Để em lên xuống thăm dò ý anh!

Thời Pháp, Cái Răng từng là nơi sản xuất lúa gạo nổi tiếng nhất trong khu vực. Nhờ có đường bộ rộng rãi, đường sông lưu thông dễ dàng nên hoạt động kinh thương nơi đây phát triển mạnh, vì vậy ở Cái Răng đã sớm có chành lúa, và nhà máy xay xát quy mô, đủ khả năng tiếp nhận lúa toàn cả miền Hậu Giang để chế biến chuyển về Chợ Lớn xuất khẩu. Cần Thơ sớm trở thành xứ “cả cơm lớn tiền”!

Câu hát cũ ghi lại dấu ấn tình hình lúa gạo hàng hóa nơi đây rất nhiều, nhiều đến mức không ít người địa phương đã xem đó là “chuyện thường”:

Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Điền
Anh có thương em thì cho bạc cho tiền, đừng cho lúa gạo xóm giềng cười chê

< Ghe chở cà ràng.

Chợ Cái Răng nhộn nhịp trên bến dưới thuyền nên các ghe cà ràng ở “miệt trên” không thể không đến đây chọn bến cắm sào. Trước ít sau nhiều, nhiều mãi đến mức cà ràng trở thành mặt hàng “ngoại nhập” được người tiêu dùng ưa thích, chiếm tỉ trọng áp đảo, nên bến chợ này được bà con đặt gọi chợ “Cà Ràng” (âm từ tiếng kran hay karan), sau nói trại ra là “Cái Răng”.

Cụ Vương Hồng Sển có ghi trong sách Tự vị tiếng Việt miền Nam (Nhà xuất bản Văn hóa, 1993) ở mục từ “Cái Răng”, trang 98:

< Các loại cà ràng.

“Cà ràng hình thù như con số 8 để nằm, một đầu là ba ông Táo lú đầu lên cao để đội nồi ơ siêu trách, còn một đầu kia nắn cái bụng chang bang dài dài vừa vặn với cây củi chụm, bụng này chứa được tro nhiều không rơi rớt ra ngoài, lại ấm cúng che kín gió, mau chín mau sôi. Truy nguyên ra, trong sách Pháp, Le Cisbassac chẳng hạn, và nhiều sách khác đã có từ lâu vẫn ghi: “Krôk kran: rạch Cái Răng, nay cứ lấy điển này làm chắc, một đàng khác hỏi thăm người cố cựu bản xứ thuật rằng ngày xưa, không biết từ đời nào, nguyên người Thổ (Cơ Me) ở Xà Tón (Tri Tôn) chuyên làm nồi đất và “karan” chất đầy mui ghe lớn rồi thả theo sông cái đến đậu ghe nơi chỗ này để bán, năm này qua năm nọ, chầy ngày người mình phát âm “karan” biến ra “Cái Răng” rồi trở nên địa danh thiệt thọ của chỗ này luôn”.

Trong tự điển J.B.Bernard, ghi rõ rằng, địa danh rạch Cái Răng là: krêk karan (hay kran), là cà ràng.
Chăng kran, Choeung kran: fourneau portatif Khmer: Cà ràng Miên.
Choeung kran Xiêm: Cà ràng của người Xiêm đem bán chợ Nam Vang.

Thật ra chiếc cà ràng đã từng có mặt trên vùng đất này khoảng 1.500 – 2.000 năm (thế kỷ I đến thế kỷ VI).

Chủ nhân của nó là cư dân thuộc nền văn hóa cổ nào đó ở Đồng bằng sông Cửu Long, bởi qua khai quật những di chỉ khảo cổ ở nhiều nơi trong vùng, thí dụ như kết quả khai quật khảo cổ học tại Gò Tháp (huyện Tháp Mười, Đồng Tháp) năm 2000 vừa qua, người ta đã bắt gặp hàng vạn hiện vật, đa phần là những mảnh gốm bể, trong đó nhiều nhất là mảnh bể cà ràng, vòi ấm (siêu), nồi, tô chén, chum vại, lu hũ... Theo các nhà khảo cổ thì cà ràng và vòi ấm (siêu) là hiện vật đặc trưng của nền văn hóa Óc Eo. Điều đó giúp chúng ta kết luận, cư dân của tầng văn hóa này là các bộ tộc thuộc vương quốc Phù Nam.

< Chuẩn bị đất nặng cà ràng.

Vậy thì, chiếc cà ràng đã là vật dụng thân thiết trong sinh hoạt đời sống con người từ hàng ngàn năm trước. Và ngày nay, để phù hợp với những loại chất đốt phế liệu/phế phẩm có sẵn rất nhiều tại từng địa phương nên việc nấu nướng được thay thế bằng những bếp gas, bếp điện,… tiện dụng và hiện đại.

Tuy nhiên, nhiều người dân vùng sông nước vẫn sử dụng cà ràng với lý do giản dị: nồi đất nấu ngon cơm, trã đất nấu nước lèo ngon hơn nồi nhôm, còn cà ràng rất tiện dụng trên ghe xuồng với rất nhiều “ưu thế”.

Trước hết nó có thể nung đốt thoải mái mà không lo chuyện lửa có thể bắt sang làm cháy ghe, vì tro than nằm gọn trong bếp. Mặt khác, bếp cà Ràng dễ nhóm và dễ đốt vì có thể đặt củi vào bếp ở khắp bốn bên, và lại không kén một loại củi nào mà dân đi ghe có thể quơ được đâu đó trên bờ, nơi ghe vừa tấp vô. Thêm nữa, nó có thể di dời dễ dàng, khi người ta ngồi ăn uống ở bất kỳ nơi nào đó trên ghe thì cái bếp cà ràng đều có thể mang đặt ngay bên cạnh...

Cà Ràng sử dụng thật tiện lợi đặc biệt là với người sống nghề sông nước và nó cũng là dấu ấn khó phai của cuộc sống khẩn hoang của cha ông từ hơn ba trăm năm trước.

Du lịc, GO! - Theo Nguyễn Hữu Thiệp và nhiều nguồn khác

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống