Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Wednesday, 2 November 2011

Long Hải là một thị trấn thuộc huyện Long Đất, Bà Rịa-Vũng Tàu. Quanh thị trấn có nhiều bãi biển đẹp là nơi tắm biển của du khách khi đến tham quan ở tỉnh. 

Con đường chạy ven biển có rừng cây anh đào thường nở hoa vào các dịp Tết Nguyên đán. Nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan của nhiều du khách trong và ngoài nước. Du lịch phát triển thì người dân Long Hải cũng dần chuyển từ nghề làm muối qua nghề dịch vụ du lịch.

Long Hải từ lâu đã là một thắng cảnh du lịch nổi tiếng, cũng gần thành phố Hồ Chí Minh, cách Vũng Tàu 25 km nên cũng sẽ rất thuận lợi cho khách đến du lịch.

Đến nơi đây, du khách có dịp tìm hiểu về các di tích lịch sử mà điển hình là di tích Núi Minh Đạm cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 150km.

Từ thị xã Bà Rịa đi về hướng biển Long Hải chừng 30km du khách sẽ bắt gặp dãy Núi Minh Đạm cao khoảng 200m, núi này ngày xưa còn có tên là Châu Long và Châu Viên. Trên núi là một rừng cây um tùm xen lẫn với nhiều hang đá, vốn xưa kia là căn cứ kháng chiến của quân và dân Bà Rịa-Vũng Tàu.

< Khu Di tích Minh Đạm.

Đi lên giữa đèo, du khách sẽ ngắm được toàn bộ khung cảnh biển Long Hải bao la thu vào trong tầm mắt. Lên cao trên đỉnh ngọn núi còn có cái am nhỏ tên là Bạch Vân điện nhô ra triền núi. Còn phía dưới chân núi là khu du lịch Thùy Dương. Ngày nay, Núi Minh Đạm đã trở thành điểm du lịch khá lý tưởng cho nhiều loại hình du lịch như leo núi, dã ngoại, du lịch sinh thái,…

< Dinh Cô.

Đã đến Long Hải rồi thì du khách không thể nào không ghé qua biển Long Hải bởi bãi biển ở đây rất sạch, nước trong mát và bãi cát vàng chạy dài khá yên tĩnh. Bãi biển chạy dài theo chân núi Minh Đạm, với vẻ đẹp hoang sơ, tự nhiên bãi biển Long Hải sẽ là nơi tuyệt vời cho du khách đến tắm biển, phơi nắng, hóng gió vào mỗi buổi chiều.

Đi dọc theo bờ biển là những bãi đá nhiều hình dạng khác nhau tô điểm thêm cho biển. Nếu không muốn tắm biển, du khách có thể bơi ở hồ nước biển nằm sát bờ biển cũng tạo cho bạn cảm giác thoải mái như trên biển vậy. Nối liền với bãi là đèo Nước Ngọt, phía bên kia đèo là rừng cây anh đào. Đặt biệt là vào những ngày tết đến, hoa anh đào nở rộ khắp hai bên đường đi.

Giữa trung tâm bãi Hương Biển, Hàng Dương là đền thờ Dinh Cô khá lớn và kỳ bí làm thú hút sự tò mò cho khách du lịch.

< Đường leo lên núi Minh Đạm.

Và cũng chính ở nơi đây hằng năm vào ngày 10 đến 12 tháng 2 âm lịch ngư dân ở đây tổ chức lễ hội cúng Cô để cầu cho thuyền ghe đi biển được bình an và trúng cá. Vào ngày này rất nhiều người dân hành hương đến đây cùng tham gia cầu cúng. Cách Dinh Cô 1km, di tích Mộ Cô nằm trên đồi Cô Sơn là nơi khang trang cũng thu hút nhiều du khách đến viếng, cầu nguyện.

Bên cạnh đó, du khách còn được vừa ngắm biển vừa thưởng thức nhiều món đặc sản mang đậm nét ẩm thực vùng biển như cá mai, gỏi cá trích, lẩu ghẹ chua, cari tôm, hải sản nướng các loại,…
Ngoài ra, du khách có thể ra thăm ruộng muối của người dân ở đây, thăm quê hương của nữ anh hùng Võ Thị Sáu(cách đó khoảng 20km) hoặc có thể đi thăm chùa khỉ.

Du lịch, GO! - Theo Chudu24 và nhiều nguồn khác

Cẩm nang du lịch "bụi" Long Hải
Nhớ thiếu nữ Tây nguyên ngực trần trải nắng.

“Các cậu con trai hết lời ca ngợi vẻ đẹp của các cô nàng yêu quí: mái tóc, làn da và nhất là đôi vú mà người ta chẳng việc gì phải che dấu và đàn ông điên lên vì chúng, tới mức họ tạc hình chúng lên các cây gỗ trong nhà, từ cầu thang cho tới xà ngang”.

< Bức ảnh nổi tiếng đầy nghệ thuật về phụ nữ Tây nguyên.

Đã khá lâu rồi kể từ khi những dòng hồi tưởng này được nhà Tây Nguyên học nổi tiếng người Pháp Jacques Dournes viết nên, và cũng lâu rồi người ta không thấy đôi chỏm vú đào căng đầy nhựa sống nơi đất cao nguyên hùng vĩ. Dường như vẻ đẹp hoang dại ấy chỉ còn lại đâu đó giữa các bức ảnh đầu thế kỷ XX hoặc ẩn sâu giữa những nếp nhà dài đơn sơ vùng đất đỏ. Giờ đây, ta thường chỉ bắt gặp những cụ bà ở trần, dù dải vú chảy xệ nhăn nheo song đôi mắt vẫn rực sáng đăm đăm nhìn vào một miền xa xưa ký ức.

Trang phục hàng ngày của người phụ nữ Tây Nguyên cách đây vài mươi năm trước:
Ngày ấy, cao nguyên xa xăm bằng phẳng Tây Nguyên vẫn bao bọc lấy những tộc người Thượng mới bước qua thời kỳ mẫu hệ. Hình ảnh sinh sôi nảy nở đầy tính nữ như mẹ lúa, nữ thần mặt trời, bà Tồ Cô, bà Dạ Cróa... xuất hiện đậm đặc giữa một miền hồng hoang huyền thoại.

Quan niệm về cái đẹp cũng bắt nguồn từ ấy và bầu vú người phụ nữ được phô ra như những gì rực rỡ nhất của núi rừng.

Thời gian nối tiếp thời gian, những kẻ lữ hành nơi cao nguyên hoang dã đã luôn ghi lại hình ảnh bầu vú đầy khát vọng nảy nở vào ký ức của mình.
Nào là thiếu nữ ở trần mang gùi băng rừng vượt thác, màu nắng phủ lên đôi ngực đầy sinh lực của cô.

Về bản rồi, đôi vú mẩy tròn lại nhún nhẩy hòa nhịp với bước chân thoăn thoắt lên những bậc thang. Bà mẹ ngồi bên đống lửa, vừa vun bếp vừa quàng lấy đứa con đang nô đùa trong cái địu bằng chăn mải miết bú mẹ.

Rồi các cô gái tắm tiên trẫm bầu vú non đẫy nước của mình xuống làn suối mát.

Trong ký ức xa xưa hơn nữa là những cô con gái đến tuổi dậy thì vú nở khoe sắc xuân nhọn hồng háo hức mong chờ nghi lễ trưởng thành cà răng cuh kraih. Đến giờ, tục lệ ấy đã không còn, nhưng các cụ già từng trải qua thời kỳ ấy vẫn gợi lại như một kỷ niệm đẹp không thể nào quên.

Người phụ nữ Tây Nguyên xưa biết làm đẹp cho đôi nhũ hoa của mình mọi lúc, mọi nơi và mọi cách. Đối với họ, lao động sẽ giúp cặp vú luôn săn chắc qua nhiều kỳ sinh nở. Nước da bánh mật trải nắng cùng mái tóc đen huyền làm tôn lên vẻ đẹp của ngực trần. Họ quấn quanh hông một chiêc váy sẫm có hoa văn dài đến mắt cá chân hoặc đầu gối, phía trên không mặc gì, thay vào đó là đồ trang sức. Nào hoa tai to bằng cái đĩa, vòng đồng đeo đầy cẳng tay, cổ quàng vô số vòng kiềng có trang trí thêm những cái vuốt hổ hoặc nanh rắn.



Hãy nhắm mắt và nghĩ đến những chiếc vòng cổ xâu hạt kim loại ấy đang tung tẩy khoe mình giữa đôi bờ vú săn chắc. Qua mỗi bước họ đi, đám trang sức va vào nhau tạo nên những tiếng leng keng và nhịp điệu sẽ thay đổi nếu họ làm việc khác. Khi giã gạo, cánh tay người phụ nữ đưa lên tạo thành tiếng vui tai chắc nịch làm nền bầu vú đong đưa.

Khi cho con bú, đứa trẻ chùn chụt mút bầu vú căng tròn và thở đều của mẹ khiến những hạt đồng trên bộ vòng ở cổ cũng nhịp nhàng vang tiếng. Ôi, liệu trên đời còn ai biết cách khoe mình khéo léo và tinh tế hơn những phụ nữ này?

< Phụ nữ Tây nguyên bây giờ, vẫn có rất nhiều trang sức với hàng chục chiếc vòng làm bằng đồng đeo trên cổ tay.

Dù đã đổi thay nhiều nhưng Tây Nguyên vẫn bảo lưu nhiều dấu ấn của thời kỳ mẫu hệ. Hình ảnh bầu vú căng tròn xuất hiện khắp mọi nơi như biểu chưng về sự sinh sôi và phồn thực của của con người. Tiêu biểu nhất là đôi cầu thang đực - cái trước khi bước vào nhà người Ê đê.

< Chuyện thiếu nữ tắm trần vẫn thường thấy ở các bản làng.

Bên cạnh cầu thang đực nhỏ bé đơn giản, chiếc thang Cái độc mộc có hình thuyền lướt sóng được chặt khúc theo bậc được đặt trang trọng và to lớn. Trên đỉnh thang có khắc hình đôi bầu vú tròn căng viên mãn. Người Ê đê kể rằng, bầu sữa ấy chính là thông điệp ca ngợi vẻ đẹp và sự trân trọng người phụ nữ.

Vẫn còn đó những bức tượng nhà mồ khắc hình người mẹ bụng bầu với đôi vú căng phồng khỏe khoắn, Trong các ngôi nhà dài còn bắt gặp hình đôi vú, vành trăng non trạm khắc trên xà ngang để nói rằng gia chủ là người giàu có và uy thế. Rồi những chiếc núm tròn ở tâm cồng khiến ta liên tưởng đấy bầu vú mẹ cứ đến mùa lễ hội lại hòa thanh trong dàn cồng chiêng mừng lúa mới.

Em ơi, anh quá biết
Nước da em rạng ngời như gỗ cây knia
Em mượt mà như cây cẩm hương
Thân hình em đẹp quá
Thấp thoáng bắp chân em
Như tia chớp tháng hai
Như sét đánh tháng ba
Để trần cặp vú em
Cả làng ta bốc cháy
(Jacques Dournes)

< Những chàng "Đam san" cường tráng đóng khố ngại ngùng khi có phụ nữ lạ vào làng.

Trước kia, hầu hết các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên đều có trang phục riêng, nhưng chỉ thường được mặc trong những ngày lễ hội. Trong sinh hoạt hàng ngày, họ đều để ngực trần. Từ khi những nhà truyền giáo xuất hiện, người phụ nữ đã được nhắc nhở về tục để ngực trần.
< Ngọt ngào dòng sữa của người mẹ 19 tuổi đang cho hai bé A-kay một tháng tuổi bú bữa ngon lành.

Quá trình tiếp xúc với người Kinh dưới xuôi trong một thời gian dài đã khiến hình ảnh này gần như hoàn toàn biến mất. Nhà văn người Êđê Linh Nga Niek Đăm kể lại rằng những năm 1975 bà vẫn bắt gặp những khuôn ngực trần trải đầy sức nắng giữa các bản làng.
Có lẽ đến giờ, đôi vú non với vẻ đẹp của sự sinh sôi nảy chồi sự sống đã chỉ còn trong ký ức. Nhưng biết đâu đấy, giữa đại ngàn núi rừng Trường Sơn, những lữ khách lang thang lại vô tình bắt gặp đôi nụ ửng hồng của những búp xà nu ngày trước.

< Đáng yêu với cảnh chị ngồi bắt chấy cho em.
< Khuôn mặt bé thơ gãi đầu thắc mắc khi thấy người lạ đưa máy ảnh lên chụp.

Không chỉ như vậy, cảm cảnh A-kay ngủ trên đôi lưng yếu nhỏ, các chàng trai Đam san đóng khố, trẻ em ngồi bắt chấy cho nhau… là những hình ảnh thú vị đã tạo nên một nét đặc trưng của mảnh đất đại ngàn Tây Nguyên mà chỉ nơi này mới có.

Bên cạnh một xã hội hiện đại bây giờ cùng những phong cách thời trang phong phú - đa dạng đầy màu sắc, đôi khi người ta vẫn tìm thấy sự hoang sơ, trầm lắng khi đến với mảnh đất Tây Nguyên đầy nắng gió.

< Lễ hội là món ăn tinh thần không thể thiếu của người dân Tây Nguyên.

Đó là cảnh những chàng Đam san cường tráng ngại ngùng che lấy cơ thể chỉ vỏn vẹn cái khố trên người khi có phụ nữ lạ đến làng. Đôi khi chợt thấy những phụ nữ J’rai, Bahnar mặc váy thổ cẩm, thân trần như thuở nào… Rồi cả những A kay ngủ ngon trên tấm lưng gầy bé nhỏ của người chị…

Tây nguyên, mảnh đất thân thương, huyền diệu từ hàng trăm năm trước cho đến bây giờ vẫn thế: hùng vĩ cùng cả sự chân tình của con người trên một mảnh đất vùng cao.

Du lịch, GO! - Tổng hợp theo Blog BachVien, ThienThu (Tinmoi) và nhiều nguồn ảnh khác.
“Ba Đồn là chợ xưa nay
Tụ nhơn thụ hóa mười ngày một phiên
Phố phường Nam, Khách hai bên
Khi đông cũng đến mấy nghìn người ta” 

< Cảnh mua bán ở chợ Ba Đồn.

Chợ Ba Đồn với tuổi đời mấy trăm năm, mãi là trung tâm kinh tế, thương nghiệp lớn của vùng đất phía Bắc tỉnh Quảng Bình. Theo Đại Nam Nhất Thống chí thời thủa xưa chợ Ba Đồn cũng có tên là chợ Cổng, nguyên ở làng Trung Ái tức làng Trung Thuần bây giờ. Sở dĩ có tên gọi là Ba đồn là vì đời Hậu Lê, chúa Trịnh có lập ba cái đồn lính đóng giữ xung quanh đó. Một cái ở làng Trung Ái, một cái ở làng Phan Long và một cái ở làng Xuân Kiều. Lại theo một nhà khảo cứu khác thì tên chợ Ba Đồn là bởi tên đồn Tam Hiệu ở làng Trung Ái mà ra.

Ban sơ lập ra chợ này, mục đích là để quân lính ở các đồn đến mua đồ ăn uống cho tiện, nhưng sau vì địa thế chợ ở giữa giới hạn hai xứ Đàng trong và Đàng ngoài, thành thử lần lần dân hai bên đến tụ họp ở đó mà trao đổi sản vật cho nhau.

< Cổng chính chợ Ba Đồn ngày nay.

Ngày nay, nếu ai chưa đi chợ Ba Đồn thì chưa thể nói biết nhiều về chợ. Đó là cái chợ kỳ thú nhất với đủ các sản vật trên rừng, dưới biển, giữa đồng bằng. Tất cả được bày biện một cách thô mộc đầy chất... nông dân. Đi chợ nhìn hàng, nhìn mà không muốn mua mới là chuyện lạ...

Ca dao cổ đã ghi lại rằng:

Chợ Đồn bán đắt cau khô
Một đoàn vợ lính trẩy vô thăm chồng
Gặp trộ mưa dông
Đường xa gánh nặng
Mặt trời đã lặn
Đèo Ngang chưa trèo
Hòn đá cheo leo
Chân trèo chân trợt
Hỏi o bán nước
Hỏi chú chăn trâu
Ba Đồn lính đóng nơi đâu?

Dạ dày của… miền Trung

Giáo sư Trần Quốc Vượng nói rằng, chợ là cái dạ dày của làng. Nếu thế thì chợ Ba Đồn là cái dạ dày của… miền Trung. Miền Trung có nhiều chợ nổi danh, như chợ Vinh (Nghệ An), chợ Đông Ba (Huế), chợ Cồn (Đà Nẵng), chợ Đầm (Nha Trang)… Nhưng chợ có bán đủ trăm nghìn sản vật trên đời chính là chợ Ba Đồn, người dân gọi là chợ Đồn (huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình). Từ TP Đồng Hới theo hướng bắc đi ra khoảng chừng 50 km. Người ta bảo chưa đi chợ phiên Ba Đồn coi như chưa biết thế nào là… chợ quê đích thực!

< Hàng cá tại chợ Đồn.

Nhắc đến Ba Đồn người ta nghĩ ngay đến cái khu chợ bò trứ danh với cách mua bán đặc biệt, không giống bất cứ chỗ nào, nhưng khu chợ bán thịt bò mới gây cho người ta một ấn tượng đặc biệt. Từng tảng thịt, từng cái đùi bò được treo từ nóc lán dài xuống tận sàn, những thớ thịt săn chắc, đỏ au, tươi rói, dường như vẫn còn giật giật. Người mua mặc sức chọn lựa. Chỉ vào mảng thịt nào là người bán cắt ngay khoanh thịt đó.

Nhưng xương bò mới là thứ đặc sản. Không như các nơi, người ta lóc lấy hết thịt, chỉ còn xương trắng phớ. Xương bò ở chợ Ba Đồn bám đầy thịt. Nếu mua xương sườn về chặt khúc, hầm lên, thịt rút lại, cầm chỗ xương lòi ra, gặm một cái ngập chân răng, lịm hết cả người.

Nhưng nếu chỉ nói đến khu chợ bán thịt bò thì không công bằng cho khu bán cá, tôm, mực nang, mực ống… Cá biển của người từ Hộ Độ, Cửa Nhượng (Hà Tĩnh) chở xe vào, hoặc từ Thanh Khê, Cảnh Dương, Lý Hòa, Roòn gần đó theo thuyền cập bến chợ. Cá từ sông Gianh vừa đánh lên, từ cánh đồng vùng Nam Quảng Trạch chở xuống... Đủ các loại, có con to đến vài chục cân, có con nhỏ phải đong bằng chén. Rau quả thì đủ loại, tất cả đều từ vườn nhà, còn thơm mùi đồng đất đổ tràn ra nong nia, không cần sắp xếp, trưng bày.

Đi chợ để… ăn

Đi chợ để mua đã là thú vị, nhưng đi chợ Ba Đồn thú nhất là để… ăn. Ba Đồn nổi tiếng với món thịt chó, đến mức “thương hiệu” thịt chó Cu Loe đi vào tiểu thuyết. Ai từng đọc Những mảnh đời đen trắng của nhà văn người chính gốc Ba Đồn Nguyễn Quang Lập mà không tìm đến thịt chó Cu Loe thì người đó chưa rành… thịt chó!

< Hàng thịt bò.

Chợ Ba Đồn có một khu ẩm thực, tôi đã đi nhiều lần nhưng không dám chắc là đã đi hết. Ở đó người ta bán bánh đúc, bánh xèo, bánh lọc, bánh nậm, bánh kẹp và hàng chục thứ bánh nhà quê khác. Nếu mỗi thứ ăn một tí cho đến no thì chắc phải đi cả tháng mới thưởng thức hết.

Đến đây không thể không ăn bánh canh. Bánh canh (bánh bột) thì ở Huế, Quảng Trị cũng có nhưng không nơi nào giống Ba Đồn. Ăn bánh canh phải kèm thêm mấy cái ram (người miền Bắc gọi là nem rán). Người bán dùng một cái kéo cắt miếng ram nóng giòn vừa rán lên cho vào bát. Cái mềm của bột, cái giòn của nem tương tác, hòa quyện, cứ như eng với ả (anh với chị) quấn nhau. Đàn ông nên chiêu thêm một ngụm rượu Ba Đồn mới gọi là đúng cách… Ba Đồn!

Tôi cứ nghĩ, nếu một người nào đó dụng công viết về từng món ăn quê kiểng của chợ Ba Đồn cũng dư in được một tập sách dày nổi tiếng về ẩm thực.

Đi chợ để chơi

Từ rất lâu rồi, vào mỗi phiên chợ, người dân quanh vùng đi chợ mua bán không quên mang theo chú gà tài để thi đấu với nhau. Lâu ngày trở thành lệ, cứ có chợ phiên là có sới chọi gà. Lúc đầu sới chỉ là một bãi cỏ bên góc chợ bò, rất dân dã. Người đi chợ ôm gà đến đó, có người thách đấu thì thả ra đá và hò hét, uống rượu cho vui. Đó là một cái thú không thể thiếu.

< Đình làng chợ Đồn.

Nhưng bây giờ sới đã được thương mại hóa, người ta làm trường gà hẳn hoi, có mái che, có sân thi đấu đắp bằng đất nện như sân tennis của ông vua Nadal, xung quanh được bao bằng một vòng tường bọc cao su để bảo vệ chân gà, có chỗ ngồi xem cho khán giả, có chuồng trại nuôi nhốt gà, có đầy đủ mọi dịch vụ khác.
Người vào trường gà thường là dạng người tính tình hào sảng, mạnh mẽ, quyết đoán và… dữ dội.

Đi chợ phiên Ba Đồn, muốn mua thứ gì cũng có. Cơ man hàng hóa. Từ vịt giống, lợn giống, tre nứa, lồ ô, củi thước, giỏ bắt cua, chiếc nơm cá, rổ rá đan bằng tre, nong, nia, thúng, mủng... chất cao như núi.

Chợ còn có một khu bán đồ cổ và đồ cũ. Có thể tìm mua ở đó cái đài Orionton, đồng hồ Poljot của Liên Xô; mũ cối, dép cao su, ba lô, bi-đông, thắt lưng… chính cống của bộ đội thời chống Mỹ. Rồi xe đạp Phượng Hoàng, Vĩnh Cửu của Trung Quốc; xe cuốc của Liên Xô; diamand của Đông Đức; xe cub đời cũ của Nhật… Ai thích thì ngắm chơi, ai có máu thì mua đầu này chợ mang đến đầu kia chợ có thể bán để kiếm lời vài chục đến vài trăm nghìn, đó cũng là để… chơi.

Đi chợ ngắm người

< Các cháu thiêu nhi đang diễn tập văn nghệ mừng Lễ kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Thị trấn Ba Đồn - Phía sau là toàn cảnh chợ Ba Đồn.

Ba Đồn nói riêng và Quảng Trạch nói chung là đất có nhiều con gái đẹp. Thời chưa biết Ba Đồn, qua sách vở, thấy có câu: Bất thương La Hà xá/Bất giao Tiên Lệ xã/Bất đả Phan Long đề/Bất phụ Thụng Họa thê lấy làm lạ vô cùng. Sau này mới biết, làng Thụng Họa tức làng Thổ Ngọa thuộc xã Quảng Thuận bây giờ, làng này nổi tiếng có con gái đẹp: Đàn bà thắt đáy lưng ong/Vừa khéo chiều chồng vừa khéo nuôi con. Gái vừa đẹp vừa ngoan sao lại Bất phụ Thụng Họa thê? Thì ra do làng này gái đẹp, đã có nhiều người được tiến cung, cưới được vợ làng này khó lắm, nhiều lễ, nghe nói từ dạm đến cưới tổng cộng đến 7 lễ. Mà thuở trước, nhiều nhà nghèo, làm sao có đủ tiền để làm 7 lễ. Vì thế cha mẹ nên mới khuyên con trai của mình đại để rằng, con ơi nhà mình nghèo không với tới con gái làng này đâu.

Đến chợ Ba Đồn, ngoài đi chợ, thưởng thức tại chỗ các món đặc sản, còn để… ngắm con gái đẹp. Không chỉ mấy chị mấy cô, mấy em bán ở các quầy hàng mà còn cả người đi chợ. Bây giờ ở đâu con gái đi chợ cũng bịt mặt như Ninja, riêng với Ba Đồn thì không. Có vẻ họ tự tin với sắc đẹp của mình.

Loay hoay thế nào, thời sinh viên, tôi lại yêu một người, hỏi ở đâu, bảo làng Thổ Ngọa (tức Thụng Họa ngày xưa). Thoạt đầu cũng ngại lắm, nhà vừa xa lại vừa làm đến 7 cái lễ, e toi. Nhưng đâu có, cũng như mọi nơi thôi. Thế nên bèn suy ra rằng, con trai làng này dựng chuyện để giữ con gái làng mình.

Bây giờ, ai hỏi mẹ của các con tôi quê đâu, tôi làm mặt tỉnh bơ, nói, bình thường thôi, Thổ Ngọa!

“Chợ Đồn bán đắt cau khô…”

< Chợ bò ở Ba Đồn.

Anh Nguyễn Hữu Trường từng làm Trưởng phòng VH-TT rồi Phó chủ tịch HĐND huyện Quảng Trạch được anh em gọi là nhà “Ba Đồn học” kể rằng, chợ Ba Đồn bên dòng sông Gianh, trước ở khu vực xưởng cưa hiện nay của thôn Thổ Ngọa, xã Quảng Thuận, nay thì dời lên chừng nửa cây số dọc sông. Chợ có từ thời Trịnh - Nguyễn phân tranh, đến nay đã gần 400 năm tuổi. Người xưa kể lại, chợ Ba Đồn sinh ra là để phục vụ binh lính và vợ con họ ở ba cái đồn lớn của quân Trịnh là đồn Trung Thuần, đồn Phan Long và đồn Xuân Kiều. Vì thế từ xa xưa đã có câu ca: Chợ Đồn bán đắt cau khô/Một đoàn vợ lính trẩy vô thăm chồng/Gặp trộ mưa dông/Đường xa gánh nặng/Mặt trời đã lặn/Đèo Ngang chưa trèo/Hòn đá cheo leo/Chân trèo chân trợt/Hỏi o bán nước/Hỏi chú chăn trâu/Ba Đồn lính đóng nơi đâu?

Thời thuộc Pháp, trong khu chợ đã có hai dãy phố buôn bán, gọi là phố Nam và Khách (người Tàu). Phố phường Nam, Khách hai bên/Phiên đông cũng đến mấy nghìn người ta, với nhiều hiệu buôn nổi tiếng một thời của người Hoa, người Việt như Hồng Ích, Hợp Lai, Thái Lợi, Thông Đắc, Vinh Mậu, Tâm Long... Trước 1945, chợ Ba Đồn có 5 đình chợ lớn lợp ngói. Thời kháng chiến, chợ Ba Đồn bị đốt cháy. Đến năm 1991 chợ Ba Đồn mới được xây lại.

Chợ Ba Đồn giờ đây vẫn còn giữ được nét truyền thống từ thời Trịnh - Nguyễn. Bình thường chợ vẫn buôn bán nhưng mỗi tháng có 6 phiên chợ chính vào các ngày mùng 1, 6, 11, 16, 21, 26 (âm lịch). Phiên chợ nào có số 6 gọi là phiên đại (lớn), có nhiều chủng loại hàng hóa và đông người nhất; các phiên có số 1 gọi là phiên thường: hàng hóa và người đi chợ ít hơn phiên đại nhưng vẫn đông hơn những ngày bình thường. Muốn đi chợ bò nổi tiếng của Ba Đồn phải đi vào phiên đại.
Nhưng không cần phải chọn ngày phiên, cứ đi, đến chợ Ba Đồn sẽ thấy, hóa ra lâu nay mình chưa… đi chợ!

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ web Quangbinh, Thanhnien, internet

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống