Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Saturday, 3 December 2011

Trong số các đồ chơi dân gian, cùng với đèn ông sao, đèn cù, đèn kéo quân... tò he có sức sống lâu bền..
Xưa xưa lắm, có cụ già làng bảo khoảng hơn 300 năm trước, có sách ghi là những năm 80 của Thế kỷ 20, nhưng đi tìm những trang về làng nghề truyến thống để biết, để hiểu thì chưa bắt gặp. Có lẽ đơn giản thôi, từ xưa và nhất là đến bây giờ làm sao tò he có thể sản xuất hàng loạt, có thể bày bán khắp nơi, bán quanh năm nuôi sống con người, nuôi sống làng nghề truyền thống lâu đời - làng Xuân La, huyện Phú Xuyên, Hà Nội.

Tò he là một nghề độc đáo. Ban đầu, người ta chỉ nặn những con chim, con cò mang bán. Rồi dần dần những con vật gần gũi trong đời sống nông thôn như gà, lợn, cá, chó mèo, trâu bò... những hình tượng trong các truyện cổ tích như Thạch Sanh, Tấm Cám, hoàng tử công chúa, mãng xà, đại bàng... được sáng tạo.

Các nhân vật trong các tích cổ Trung Quốc cũng được du nhập dưới đôi bàn tay tài hoa của các nghệ nhân nông dân. Nào là Lưu Bị, Quan Công, Trương Phi. Nào bộ tam đa, tứ quý...

Lịch sử đổi thay, xã hội phát triển, hình tượng tò he nhiều lên, mới lên. Tò he có chú lính, có anh bộ đội, anh giải phóng quân. Tò he có giáo mác, có súng ống, có kèn đồng. Bây giờ lên phố tò he có Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới, có Đôremon, có Thủy thủ Mặt trăng, có Siêu nhân, Người nhện.

Hình thì phải có động, phải có tiếng. Gắn thêm một kèn ống sậy, khi thổi lên hình tượng kêu tò... he.  Âm thanh nhỏ thôi, ngắt quãng theo nhịp thở. Chắc thế mà gọi chệch choạc đi thành tò he.

Một loại vật phẩm nữa cũng mang màu sắc, nhịp thở của tò he, đó là các mâm bồng, mâm ngũ quả như nải chuối, quả hồng quả bưởi, chùm ba quả cau, đĩa xôi, nắm oản... xưa dành cho bà, cho cô đi lễ. Vừa đẹp màu, vừa thơm mùi đường bột, cúng rồi lại có thể ăn.

Người dân làng Xuân La mang tò he đến khắp các làng quê Việt Nam trong những ngày lễ tết, hội hè. Hàng năm, khi nông nhàn, với hành trang gọn nhẹ, chỉ vài cân bột xay sẵn, người nặn tò he len lỏi khắp ngõ xóm, xuất hiện nơi đầu chợ, góc đình. Gạo tẻ 1 cân, gạo nếp 1 lạng đem ngâm, rồi xay hoặc giã thành bột, rồi luộc hoặc đồ chín, rồi để nguội, sau đó nhuộm màu. Nghe trình tự có vẻ như giản đơn, dễ dàng vậy mà phải có kinh nghiệm thuần thục. Ví như tỷ lệ hai loại gạo phải tăng giảm tùy theo thời tiết để bột dẻo, bền lâu. Ví như khi nhuộm màu phải quấy từ từ, lửa phải nhỏ đều cho chín tới. Có như vậy màu khó phai, diệt khuẩn để nhiều ngày khó thiu khó mốc.

Tò he đẹp kiểu dáng, tươi màu sắc. Màu chiết ra từ cỏ cây hoa lá nên ăn được - chơi mà ăn được. Rơm rạ đốt, nhọ nồi, rồi mực tàu cho màu đen. Hoa hiên, quả dành dành, quả gấc, thân gỗ vang cho màu đỏ. Màu xanh có lá riềng. Màu chàm có lá chàm. Màu vàng có củ nghệ, hoa hoè... Thiên nhiên vốn là người bạn thân thiết, hào phóng của nhà nông. Đồ phụ trợ cũng lại là tre nứa. Nếu là mân bồng, bánh vòng thì làm khung. Còn các hình tượng thì chỉ cần que tre làm cốt. Đồ nghề thì quá sơ sài dễ dãi, chỉ cái lược, con dao bài nhỏ, cục sáp, cật tre.

Cái gì nghe cũng giản đơn, mộc mạc như nếp nghĩ, nếp sống của nhà nông vậy. Nhưng đó là nghệ thuật - nghệ thuật không sách vở lý luận mà của kinh nghiệm vê vê, nắn nắn cho vừa đủ, sắp đặt cho hợp lý, cho đẹp mắt theo trí tưởng tượng sinh động mà cụ thể. Một nghệ thuật sáng tạo không có công thức cứ hiện dần trước mắt ta như một trò ảo thuật. Đồ chơi mua sẵn có tiện lợi nhưng không thể có cái hứng thú đến lặng lẽ, đến say mê trên các khuôn mặt trẻ thơ đứa đứng đứa ngồi chồm hỗm chăm chăm vào ngón tay của người nặn tò he. Người nghệ sĩ nông dân không phải chỉ véo nặn mà đã thổi hồn cho các hình tượng, cho đồ chơi dân dã ấy.

Nông thôn đã đổi thay theo nhịp điệu đổi thay của thành phố. Đồ chơi hiện đại theo người trên phố về làng. Tò he vẫn vậy, vẫn theo người nghệ sĩ tạo hình nông dân lang thang nơi ngõ xóm, vẫn tựa lưng góc đình quán chợ, vẫn ngồi bệt nơi hè đường, lối phố, vẫn túm tụm những đứa trẻ háo hức, tò mò. Giữa bao ồn ào, sặc sụa của lối sống hiện đại, cầm trên tay tò he đưa lòng ta về với nét dịu dàng, tinh tế của làng quê dân tộc.

Cho đến nay, "Tò he" vẫn chưa được xác định rõ ràng về tên gọi cũng như nguồn gốc xuất xứ.

Chỉ biết rằng, từ nguyên liệu hết sức đơn sơ là những sản phẩm nông nghiệp như hạt gạo, lá rau, qua sự "phù phép" của người nông dân Xuân La, phút chốc đã tạo thành nhân vật cổ tích, hoạt hình, danh nhân văn hóa, góp phần nuôi dưỡng tâm hồn trong trẻo, thơ ngây của trẻ thơ, đẹp và ngọt ngào như khúc đồng dao thương mến. Nhờ nét độc đáo có một không hai ấy mà người thợ Xuân La cùng những sản phẩm tò he không ít lần có mặt tại Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ… để giới thiệu văn hóa Việt Nam, để lại ấn tượng tốt đẹp trong lòng bạn bè quốc tế.

Cả làng Xuân La hầu như ai cũng biết nặn tò he, nhưng không phải tất cả đều theo nghề này. Một nửa dân trong làng đi nặn tò he "lưu động". Họ phân tán đi các tỉnh và thường dừng lại ở các điểm vui chơi, trường học, công viên, những nơi có nhiều khách du lịch để quảng bá, giới thiệu và bày bán các sản phẩm nghệ thuật của làng.

Với những người ít biết đến tò he thì việc đứng quan sát các nghệ nhân trổ tài quả thật là một điều thú vị.

Nhìn những gương mặt hớn hở, thích thú khi cầm trên tay những con vật, bông hoa, thậm chí là chân dung con người nhỏ bé, xinh xinh, ngộ nghĩnh bằng bột đủ màu sắc ở khắp các ngõ ngách của Thủ đô và nhiều miền quê khác đủ để thấy tò he có sức sống mãnh liệt trước sự "tấn công" dữ dội của thị trường đồ chơi nhập ngoại. Do đó, việc giữ nghề tò he không chỉ vì mục đích kinh tế mà sâu xa hơn đó là gìn giữ nét văn hóa dân gian đặc trưng của vùng đồng bằng Bắc bộ.

Ngày nay tò he cũng đã có những hợp đồng làm ăn lớn từ các nơi đến đặt hàng. Những người thợ của làng chuyên cần chăm chỉ như những con ong, ngày ngày toả đi khắp nơi để nặn bán, giới thiệu Tò he đến với mọi người khắp từ Nam chí Bắc. Và chúng tôi tin rằng những thế hệ nối tiếp sau đó ở Xuân La đã, sẽ và mãi mãi lưu giữ, phát triển được nghề với tất cả lòng nhiệt huyết yêu nghề.

Du lịch, GO! - Tổng hợp
Tạo hóa đã ban tặng cho Quảng Bình nhiều thắng cảnh như Động Phong Nha, suối Bang, Chùa Non - Thần Đinh, Bàu Trò… và thật thiếu sót nếu không khám phá vẻ đẹp huyền thoại của dòng Nhật Lệ chan hòa giữa thế giới non nước hữu tình.

Huyền thoại về dòng Nhật Lệ

Trong dân gian lưu truyền nhiều giai thoại về con sông này. Chuyện kể rằng: Vào đời vua Trần Anh Tông để giữ tình hòa hiếu của hai nước, tránh nạn binh đao và mở mang bờ cõi, nhà vua đã gả Huyền Trân Công chúa cho Chế Mân. Và nàng Huyền Trân trên con đường tiễn biệt xa xứ cuối cùng để từ giã nước Đại Việt về làm dâu xứ Chiêm Thành đã dừng lại ở đây, giọt nước mắt của nàng hòa vào dòng sông mà có tên là Nhật Lệ. Để nay Nhật Lệ đẹp như nỗi buồn trên khóe mắt của người kiều nữ, dòng sông như muốn chảy vào lòng người.

< Con sông Nhật Lệ trong xanh chảy ra cửa biển phía xa. Nơi đó cũng chính là bãi tắm Nhật Lệ mà chiều chiều người dân đến bơi và thưởng thức đồ biển.

Giữa muôn trùng sóng nước, sông lặng lẽ kể lại khúc tráng ca của những năm tháng Trịnh-Nguyễn phân tranh, vang danh người anh hùng Đào Duy Từ với chiến lũy Trường Dục nằm trên dòng Kiến Giang và Nhật Lệ án ngự ven triền sông từ dưới chân núi Thần Đinh đến cửa Nhật Lệ. Dòng sông lưu dấu hai chuyến mang quân ra Bắc của Quang Trung-Nguyễn Huệ phò Lê diệt Trịnh và cuộc hành quân thần tốc đánh bại 29 vạn quân Thanh.

Trong mỗi tiếng sóng dập dờn, lại ngân lên câu hò của Mẹ Suốt làm thổn thức lòng người. Rồi giữa tiếng hò khoan kéo lưới âm thầm hát vang khúc hát ngợi ca về uy danh vang vọng khắp năm châu người con xứ lúa Quảng Bình - Đại tướng Võ Nguyên Giáp là niềm tự hào của người dân miền "gió Lào cát trắng".

Vỗ về những con đò nhỏ, dòng Lệ Giang nghiêng mình lao xao trên những dải núi xanh bất tận, những cánh đồng mêng mông bát ngát và những cồn cát vi vu phi lao, phong cảnh hữu tình của đồng quê xen lẫn dãy Trường Sơn trải dài vô tận.


< Cầu Nhật Lệ.

Sớm tinh mơ, thuyền tấp nập cá về trên cửa biển, mang theo vị mặn nồng nàn da diết hôn vào mạn thuyền. Buổi trưa chang chang trời đổ nắng, ngọn Nồm Nam miên man mang những cánh hoa vàng lững lờ nhẹ rơi trên mặt gương lấp lánh. Mặt nước bồng bềnh làm đẹp thêm đôi gò má bên cồn Long Đại, uốn mình bồi đắp cho bãi bồi Đồng Tư – Cổ Hiền, chợt gieo nặng thêm hương phù sa ở cồn Trần Xá.

Nhật Lệ hôm nay

Nhật Lệ vẫn giữ được nét xưa vốn có, vẫn một màu xanh thắm của thời gian, vẫn một tình yêu thắm thiết với quê hương. Và hôm nay, Nhật Lệ khoác cho mình màu áo tươi mới của cuộc sống. Nhật Lệ vẫn hiền hoà lưu giữ nét truyền thống của các làng nghề thủ công. Một trong những nghề còn được lưu truyền ven bờ Lệ Giang là nấu rượu với hai làng nghề nổi tiếng Võ Xá và Tuy Lộc. Cho dù có đi nơi đâu, trong lòng mỗi người con Quảng Bình vẫn mang tình hiếu khách, vẫn ấm áp ngọt ngào vị bùi trong lát khoai deo hay vị mặn nồng trong hương nước mắm Hải Ninh.

Nhật Lệ hiền hòa mà hiện đại, Nhật Lệ của thơ, nhạc và âm thầm giữ chặt lòng người viễn du. Bên bờ Nhật Lệ du khách có thể thưởng thức hương vị ngọt ngào, độc đáo của mực tươi, cháo Hàu ở những hàng quán nhỏ nằm liên tiếp nhau không một giải phân cách. Dọc sông Nhật Lệ, đoạn qua thị trấn Quán Hàu đến dọc bờ Nhật Lệ và ngay trong các nhà hàng khách sạn có rất nhiều món ẩm thực hàu được đôi bàn tay điêu luyện của các đầu bếp chế biến. Nhưng có lẽ món cháo Hàu vẫn là món ăn đặc trưng, ngon và nổi tiếng nhờ hương vị đậm đà mà chỉ có ở đây mới có được.


< Bình minh trên dòng sông Nhật Lệ.

Vào mùa lễ hội, nhất là ngày Tết Nguyên Đán và Tết Độc lập 2-9, người dân bên sông Nhật Lệ tổ chức các trò chơi dân gian, bắn pháo hoa, kết đèn hoa đăng… trong đó tiêu biểu Hội bơi trải thu hút nhiều người tham gia và đón chào những người con xa xứ trở về hoan hỷ trong làn điệu "hò khoan Năm mái".

Nhật Lệ đang dần chuyển mình với những dự án đầu tư để khai thác kết hợp với khu du lịch sinh thái Sun Spa Resort khu du lịch Mỹ Cảnh-Bảo Ninh, biển Quang Phú và cầu Nhật Lệ, thủ đô của dòng Lệ Giang "đã nối nhịp cầu vui" đôi bờ Đồng Hới – Bảo Ninh để những cành hoa hồng tỏa hương mỗi khi đêm về dưới sắc nước long lanh của ánh đèn lung linh, huyền ảo trên mặt sóng. Dòng Nhật Lệ âm thầm nuôi dưỡng lòng người và hồn người để tạo nên khí phách hùng thiêng của mảnh đất giàu truyền thống Văn - Võ - Cổ - Kim (Văn La, Võ Xá, Cổ Hiền, Kim Nại) trong "Bát danh xứ Quảng".

Nằm sát bên thành phố, dòng Nhật Lệ vẫn xanh một màu huyền thoại, vẫn chát mặn bao đời, vẫn đắm đuối soi bóng quê hương trên từng chặng đường phát triển. Không biết từ lúc nào, và ai đó đã đặt tên cho dòng sông với tên gọi thơ mộng và đắm đuối đến thế.

Lệ Giang bốn mùa vẫn chảy theo dòng huyền thoại, dẫu năm tháng trôi qua trong cuộc hành trình cuộc đời của mỗi con người… Dòng sông huyền thoại vơi đầy biết bao nỗi nhớ niềm thương, trăn trở. Nhật Lệ ngưng đọng thành những bản tình ca ngọt ngào, đắm say về một dòng sông đã đi vào thi ca - đi vào huyền thoại.

- Sông Nhật Lệ nằm ở phía Nam Quảng Bình chảy qua hai huyện Quảng Ninh và Lệ Thuỷ rồi đổ ra biển ở TP. Đồng Hới.
- Được tạo bởi hai chi lưu Long Đại (Đại Giang) và Kiến Giang.
- Có chiều dài 96 km hợp lưu ở ngã ba Trung Quán.

Du lịch, GO! - Theo LangViet, ảnh internet
Hồng du nhập vào Việt Nam và được trồng ở xứ ôn đới, thời tiết mát quanh năm như vùng Lâm Đồng, Lạng Sơn... Hồng là loại trái cây có nhiều ở Đà Lạt. Nhưng du khách lựa chọn đầu tiên để thưởng thức là hồng giòn.

Hồng giòn tức hồng còn xanh. Hồng chín hẳn chuyển sang đỏ, thịt mềm. Để hồng không bị chát, nông dân Đà Lạt bẻ trái hồng đã già nhưng còn xanh rồi “ủ” trong bao kín khoảng 10-15 ngày. Gần đây, một số người dùng đến vôi và nhiều cách khác để làm giòn trái hồng nhưng không làm mất hết được vị chát.

Nhiều người dân bản địa cho biết, người Đà Lạt trước đây chỉ ăn hồng chín. Hồng giòn chỉ mới được biết đến trong thời gian gần đây, chủ yếu là bán cho khách mua về làm quà. Ở Đà Lạt, hồng trĩu quả trên cây. Vào mùa thu hoạch, hồng có màu vàng hơi xanh và đỏ.

Thu hoạch hồng giòn là phải hái trái khi còn xanh và xử lý đơn giản như nói trên. Hồng giòn được gọt vỏ xong rồi chẻ thành miếng vừa miệng ăn cho vào miệng nhai giòn rôm rốp.

Trái hồng còn có giá trị đông y, chữa được nhiều bệnh. Phấn hồng, cuống hồng, vỏ hồng và thịt trái hồng, cả lá hồng... đều là những vị thuốc. Hồng ép lấy nước hòa với sữa cho ra vị thuốc đặc trị tăng huyết áp hiệu nghiệm. Lá hồng phơi khô và nghiền nhỏ trị các loại bệnh xuất huyết nội, được nhiều thầy đông y sử dụng. Ngoài ra, hồng còn trị được nhiều loại bệnh, như: chữa nấc, lở môi và lưỡi, dị ứng da, viêm ruột, kiết...

Hồng giòn được bày bán nhiều ở chợ trung tâm Đà Lạt và các tuyến đường có du khách đi qua. Mùa này, nông dân mang hồng giòn bán đến tận đèo Prenn. Giá khoảng 5.000-8.000 đồng/kg tùy cỡ trái. Nếu “săn” được hồng mới hái, khách gói kỹ trong bọc ni lông rồi mang về để nguyên như vậy thêm khoảng 10 ngày thì ăn sẽ ngon, giòn rụm, ngọt thanh.

Ở miền Bắc có loại hồng ngâm được nhiều người yêu thích vì ăn vừa giòn, vừa ngọt. Nếu mua phải hồng ngâm chưa kỹ, ăn chát thì bạn nên áp dụng 1 trong 5 cách sau đây.

1- Cho hồng vào chậu nước nóng 40-45 độ C và đậy lại. Đến khi nguội thì thay 1-2 lần nước nữa, để qua một đêm, hồng sẽ không chát.
2- Hòa nước vôi với nồng độ 3%, bỏ hồng vào và đậy lại. Ngâm 3-5 ngày ăn sẽ ngon.
3- Có thể mang hồng xanh vùi vào thùng cám gạo, để qua 4-5 ngày ăn là vừa.
4- Phun rượu trắng hoặc vẩy cồn lên hồng rồi xếp vào thùng kín, để 3-5 ngày ăn sẽ hết chát.
5- Ủ chung hồng với các loại hoa quả xanh khác cũng khử được vị chát.

Du lịch, GO! - Theo báo Cần Thơ, Cachngam, ảnh internet

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống