Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Thursday, 8 December 2011

Đó là ngôi làng Ba Na đẹp nhất mà tôi từng gặp. Đó cũng là ngôi làng đìu hiu nhất mà tôi từng thấy. Không một bóng người. Không mùi khói bếp. Không tiếng giã gạo. Không giọng cười đùa trẻ thơ. Chỉ có tiếng gà trưa đôi hồi cất lên, lẻ loi đến nao lòng…

Mặt trời tháng 3 đã lên cao quá đầu khi chúng tôi ghé Kon Sơ Lăl. Những bóng cây rười rượi vẫn toả đều xuống các mái nhà, đây đó có vài giàn bí đang ra trái. Nhưng tịnh không một bóng người.

Ngôi làng Kon Sơ Lăl (xã Hà Tây, huyện Chư Pah, Gia Lai) vừa được nhắc đến chỉ là làng cũ; làng mới đã dời đi từ năm 2002 về gần trung tâm xã, cách làng cũ chừng bốn cây số. Lý do, theo chủ tịch UBND xã Hà Tây Đinh Sưk, là tạo điều kiện cho bà con ra vùng thuận lợi, có đầy đủ điện – đường – trường – trạm theo chính sách định canh, định cư của tỉnh.

Mặc nhiên, ngôi làng cũ bị bỏ rơi. Những sinh hoạt ngày thường ngưng đọng. Chỉ còn năm người già nhất làng ở lại với sự ắng lặng mênh mông.

“Làng người già”

< Những ngôi nhà im lìm cửa nẻo.

Làng có chừng hơn 50 nóc nhà quần tụ trên một mảnh đất khá bằng phẳng, quang quẻ, xung quanh là rừng thưa. Trừ vài mái ngói, tất cả nhà sàn nơi đây đều lợp tranh, sàn gỗ chắc chắn, vách nhà bằng liếp tre, nứa hoặc bằng đất sét trộn rơm. Từng ngôi nhà đều thể hiện sự công phu, tỉ mẩn, khéo léo của những người đã tạo ra chúng; qua nhiều năm tháng ẩn nhẫn không hơi người, chúng vẫn sống động lạ thường. Thoạt nhìn, chúng lặng lẽ đứng cạnh nhau, như một đám nấm mọc giữa rừng không theo trật tự nào. Song cuối cùng đều quây lấy nhà rông như gà con quây mẹ. Đó là ngôi nhà rông Ba Na truyền thống thâm nghiêm, vững chãi được trai tráng trong làng dựng từ năm 1978 với bề ngang dễ đến hơn chục mét, mái tranh dày cả gang tay. Thấp thoáng giữa làng là màu xanh tươi của những cây phượng vĩ, xoài, thanh long, mấy giàn bí… Toàn cảnh ngôi làng bật lên vẻ đẹp đẽ nguyên sơ, không sắp đặt – một vẻ đẹp hiếm gặp mà tôi, vì nghề nghiệp, trong nhiều năm đã lang thang qua nhiều ngôi làng ở Gia Lai, mới một lần thấy.

Loanh quanh một lúc lâu, chúng tôi không gặp ai ngoài mấy chú heo ủn ỉn và vài chú dê giương mắt tò mò nhìn lên từ dưới chân nhà sàn. May thay, có tiếng xe máy giòn giã tiến về phía làng. Đó là vợ chồng cựu thôn trưởng Hyưnh.

< Bok Chil: “Khi nào buồn thì xuống làng mới chơi với mấy đứa con”.

Mời chúng tôi vào thăm ngôi nhà sàn hiếm hoi còn ấm hơi bếp lửa, anh Hyưnh cho biết, tuy đã dời về làng mới từ nhiều năm nay, nhưng anh và một số người vẫn thỉnh thoảng đi về vì còn giữ thói quen nuôi heo, gà ở đây, và vì còn một ít ruộng cũng cách đó không xa. Lý do quan trọng hơn là anh còn người cha vẫn ở lại và đang sống tại ngôi làng này, đó là bok (ông) Hnhih, năm nay đã ngót nghét 100 tuổi. Trong làng hiện có bốn người già như ông, đó là bok Chil, bok Chưng, bok Kơch và bà Dyơi (hai vợ chồng) đều đã ở cái tuổi 70 – 80. Hyưnh vẫn nhớ rõ, làng cũ trước kia có 85 hộ với 454 khẩu. Những ngày làng vui nhất, rộn rã nhất là vào lễ mừng lúa mới, khi những bao lúa đã chạy về đầy kho. Tôi nhìn ra phía nhà rông, nơi ấy đã từng sống động những vòng xoan duyên dáng của các thiếu nữ, tiếng cồng chiêng trầm hùng của các chàng trai, những ghè rượu uống mãi không bao giờ cạn mùa lễ hội… Chúng đã biến mất từ lâu, từ khi làng vắng tiếng người.

Tình cờ gặp và trò chuyện cùng chúng tôi trên nhà sàn của cựu thôn trưởng Hyưnh, bok Chil, năm nay 67 tuổi, vừa phì phà chiếc tẩu thuốc bằng tre vừa kể: bok có sáu đứa con, cả sáu đứa đều đã chuyển đến làng mới, riêng bok ở lại đây. Thi thoảng, chúng mang gạo và thức ăn đến cho bok. Hỏi vì sao ở lại, bok chỉ cười và rít thuốc. Hay là ngôi làng này đã quá thân thuộc với bok, đến mức không muốn rời xa? Hỏi ở một mình có buồn không, bok nói: “Khi nào buồn thì xuống làng mới chơi với mấy đứa con”. Không nhanh nhẹn được như bok Chil, bok Hnhih – người lớn tuổi nhất làng, cha của Hyưnh – đã hơi nghễnh ngãng. Bok sống một mình, thỉnh thoảng chị con gái đã chết chồng ghé về chăm sóc hoặc đưa cha về chơi ở làng mới. Khi chúng tôi ghé thăm nhà bok, ánh chiều đang xuống dần, bóng tối chập chờn phủ chụp từng ngôi nhà. Làng vốn không có điện, bok đang lọ mọ đi thắp đèn dầu. Xong, bok lại ra trước nhà tiếp tục ngồi đan gùi. Trong bóng chiều, ngôi làng yên ắng như trôi hẳn vào tịch mịch.

Đau đáu làng cũ…

< Vót tre đan gùi cho con cháu. Thú vui của bok Hnhih khi một mình ở lại làng cũ.

Vậy là, xét về mặt địa chính, ngôi làng mà chúng tôi đang đứng đây đã bị “xoá sổ”. Song, làng vẫn như một cơ thể còn gắng gượng với chút năng lượng sống ít ỏi. Và hầu như đây vẫn là ngôi làng trong–tâm–tưởng của nhiều người. Khi thấy chúng tôi loay hoay chụp vài tấm hình ngôi nhà rông ở làng mới, một nhóm thiếu niên đang chơi đá bóng nhanh nhẹn chỉ tay về phía làng cũ: “Chụp hình nhà rông làng cũ kìa. Nhà rông ở đó đẹp hơn!”

Làng Kon Sơ Lăl mới bây giờ được quy hoạch theo kiểu ô bàn cờ. Lạ là hầu như bên cạnh mỗi căn nhà xây đều có thêm một ngôi nhà sàn, dù xộc xệch. Đi cùng chúng tôi, anh Khơk – phó bí thư xã Đoàn – giải thích: “Nhiều người dân vẫn thích ở nhà sàn hơn nên làm thêm nhà sàn”. Theo anh, ở nhà sàn có nhiều tiện lợi, phù hợp với phong tục lâu nay của người Ba Na. Ông Đinh Sưk cho biết, trước kia từ trung tâm xã chưa có đường vào làng cũ, đời sống người dân khó khăn nên phải dời làng ra vùng thuận lợi. Bây giờ thì lại có một con đường rộng rãi dẫn đến làng cũ (!), do công ty TNHH MTV cao su Chư Pah mở từ năm 2008 để phục vụ cho việc trồng và khai thác mủ cao su. “Nếu lúc đó có đường sớm thì chắc không phải dời làng”, ông Sưk nói.

< Làng Kon Sơ Lăl, xã Hà Tây, huyện Chư Pah.

Dù sao thì, ai đã một lần đến Kon Sơ Lăl đều không khỏi tiếc nuối. Chợt nhớ cách đây nhiều năm, nhà văn Nguyên Ngọc cùng đoàn làm phim Đất nước đứng lên đã rất vất vả khi tìm bối cảnh tại Gia Lai, bởi đòi hỏi của bối cảnh phim thời kỳ đó là một ngôi làng “giống những làng Ba Na xưa, không có nhà xây, lợp ngói hay lợp tôn, chỉ toàn nhà sàn tre tranh, cũng không đơn điệu như nhiều làng định cư bây giờ mà lô nhô so le, tạo nên một thứ nhịp điệu riêng đầm ấm và thân thuộc” (Nguyên Ngọc tác phẩm). Bây giờ, một ngôi làng truyền thống đẹp đẽ như Kon Sơ Lăl cũ, một ngôi làng tìm đỏ mắt mới thấy, lại đang bị bỏ quên, đang lụi dần đi trước cái hiện đại, trước những tính toán có phần vội vã.
Rồi làng sẽ thế nào nếu 5 người già còn lại mất đi? Tôi không dám nghĩ tiếp…

Du lịch, GO! Theo báo Gia Lai
Sau khi đất nước thống nhất, suốt giai đoạn 1976-1986, người dân cả nước đã quen với việc hàng hóa không được mua bán trên thị trường mà chỉ được phân phối theo chế độ tem phiếu.

< Chuyến tàu điện ở Hà Nội luôn trong tình trạng chật kín khách.

Khi ấy: được mặc chiếc áo lông, ăn những hạt gạo không bị mốc và đi xe đạp Trung Quốc là ước mơ của biết bao nhiêu người dân.
Rồi năm 1986, đất nước bước vào thời kỳ đổi mới toàn diện và dần bỏ lại những ký ức về một thời tem phiếu.
25 năm đã qua, nhiều người dân vẫn không thể quên ký ức về thời kỳ dùng tem phiếu để mua bán các nhu yếu phẩm từ cân thịt, quả trứng, dầu hỏa, vải vóc cho tới đường sữa trẻ em...

Dưới đây là những hình ảnh về thời kỳ trước đổi mới được trưng bày tại triển lãm "Việt Nam 25 năm trên đường đổi mới 1986-2011 qua tài liệu lưu trữ", khai mạc sáng 8/12 tại Bảo tàng Hồ Chí Minh (Hà Nội).

< Cuốn sổ đăng ký mua lương thực năm 1988 của gia đình ông Phan Văn Sinh, xã Duyên Hà, Thanh Trì, Hà Nội.
Nhà mà mất số này là đói đấy!
< Người dân xếp hàng mua lương thực, thực phẩm theo tem phiếu thời kỳ bao cấp trước năm 1985.
< Phiếu thực phẩm loại C năm 1973 của Bộ Nội thương phát hành được Xí nghiệp sửa chữa đồng hồ cấp cho bà Nguyễn Thị Bảy ở phố Hàng Khoai (Hà Nội).
< Một người đàn ông xem và hồi tưởng những ngày ông cũng phải xếp hàng đong gạo.

Tuy thiếu thốn nhưng nhiều thứ lại miễn phí. Ví dụ như đi học chả tốn đồng nào. Đau bệnh đi nằm nhà thương chỉ đóng một số tiền rất nhỏ và... gạo.
< Phiếu mua hàng ở mỗi địa phương lại khác nhau...
< Xe đạp gióng ngang - một phương tiện đi lại của những người dân mọi tầng lớp thời bấy giờ. 
< Phiếu mua 2 kg thịt năm 1972.
< Phiếu mua thịt lợn, thịt bò, cá, gia cầm, trứng...
< Những mặt hàng "đặc biệt" chỉ sắm được vào ngày Tết như bánh mứt, pháo, dĩ nhiên cũng có tem phiếu tùy theo nhà đông người, ít người.
< Trong thời kỳ bao cấp, các mặt hàng từ chất đốt...
< ...cho tới cả vải vóc, phụ tùng xe đạp... đều dùng tem phiếu.
< Và mỗi loại tem phiếu lại ghi rõ số lượng hàng hóa có thể được mua, như 0,2 - 0,5 - 1 mét vải.
< Và vải của nam, nữ cũng được quy định trong tem phiếu.
< Salon gỗ, tủ lệch, tivi đen trắng, tủ lạnh Liên Xô - những vật dụng xa xỉ và là niềm mơ ước của nhiều người.
< Gia đình có trẻ em sẽ được phát phiếu mua sữa...
< ...và phiếu mua đường.
< Còn phụ nữ nông thôn có phiếu bồi dưỡng dành cho người sinh con.
< Gian bếp ngày ấy có thể kiêm chuồng nuôi lợn.
< Áo lông thời ấy tương đương 3 chỉ vàng - niềm mơ ước của bao người trong những ngày đông giá lạnh.

ĐGD: Thời ấy mình từng xếp hàng, xếp sổ mua gạo, bột mì, bánh mì, thịt, cá. Thậm chí cả đường, thuốc lá, hộp quẹt..., nói chung mọi thứ đề có têm phiếu và xếp hàng hết cả. Đó là một thời kỳ mà cả nước vô cùng khó khăn nhưng người ta vẫn sống trong sự sẻ chia đầy tình người.


Lớp trẻ bây giờ sung sướng hơn ngày xưa nhiều: đi xe xịn, Ipad - laptop kè kè bên mình, tha hồ tán chuyện qua điện thoại. Áo quần thì theo mode, theo thời trang... , vượt trội hơn tới mức không thể so sánh với thời cấm vận.
Vậy nhưng có những bạn vẫn than chán, sống thiếu mục đích, sống thiếu tình người và bất cần đời.

Thôi thà cứ khổ rồi mới sướng còn hơn là sướng quen: gặp chút trắc trở lại tự cho là cả cuộc đời toàn màu đen...

Du lịch, GO! - biên tập theo VnExpress

Wednesday, 7 December 2011

Mùa đông cũng được mệnh là mùa bánh gối Hà Nội. Có lẽ không một ai từng đến Hà Nội vào mùa đông mà không ấn tượng với ẩm thực hè phố, trong đó có góc nhỏ bán món bánh gối thơm ngon.

Tiết trời dịu nhẹ của Hà Nội tháng cuối năm vẫn còn quyện hương hoa sữa, gió heo may khô hanh đã thay bằng cái lạnh se se nhẹ nhàng thấm vào da thịt… Thứ thời tiết khiến người ta thêm yêu mảnh đất Hà thành cổ kính, lại thấy thèm cảm giác ngồi co ro trong góc quán vỉa hè thưởng thức những món ăn cay cay, nóng hổi.

Trời trở rét, từ nhà hàng sang trọng đến quán ăn bình dân, quán cóc ven đường lại bắt đầu "chạy" thực đơn các món bánh mặn, bánh ngọt - những món đủ nóng, đủ ấm, đủ hấp dẫn trong cái giá rét. Trong số đó, bánh gối được mệnh danh là thứ bánh của mùa đông, của ẩm thực dân dã Hà thành.

Bất kể là người lớn hay trẻ nhỏ, sinh viên hay học sinh, viên chức hay người lao động chân tay… ai ai cũng có thể tạt qua cửa hàng bánh gối và thưởng thức dăm ba cái. Cũng bởi thế, người ta bảo mùa này là mùa bánh gối Hà Nội.

Bánh gối thường được bán trong các quán bánh mặn ngọt cùng nhiều đặc sản Hà thành khác như quẩy nóng, bánh mì, chân gà nướng… Nhưng đôi khi cũng trở thành một món ăn chơi nhẹ nhàng, có mặt trong các nhà hàng sang trọng. Nhờ bánh gối, nhiều con phố Hà Nội nổi danh, trở nên quen thuộc hơn: bánh gối phố Lý Quốc Sư, bánh gối phố Hòe Nhai, phố Lương Văn Can…

Đầu tháng 12, góc quán nhỏ bánh gối trên phố Hà Nội lại tấp nập hơn bao giờ hết. Dường như chúng trở nên “có sức sống” chỉ từ khi đợt rét đầu tiên ùa về. Mùa đông là mùa vào vụ, mùa vất vả, bội thu của người chủ hàng và cũng là mùa thưởng thức lý tưởng nhất cho mỗi thực khách khoái khẩu món bánh này.

Một lần đến cửa hàng chuyên bánh gối trên phố Lý Quốc Sư, tôi còn ngạc nhiên bởi những vị khách đến đây không chỉ có học sinh, các bạn trẻ người Việt mà còn rất nhiều khách ngoại quốc. Theo chị chủ quán tên Oanh, khách nước ngoài sau khi dạo thăm phố cổ thường tìm đến cửa hàng thưởng thức đặc sản bánh gối. Họ đi theo nhóm dăm ba người nhưng đôi khi cũng đến ăn một mình. Sau khi thưởng thức bánh còn mua vài cái về làm quà.

Bánh gối là kết hợp của vị giòn vỏ bánh, vị thơm, bổ của nhân bánh thập cẩm. Phải ăn bánh lúc còn nóng mới ngon - đó cũng chính là lý do khiến loại bánh này chỉ bán chạy mỗi khi trời lạnh.

Nhân bánh gối gồm thịt lợn ba chỉ xay, mộc nhĩ, miến, củ cà rốt hoặc xu hào thái nhỏ, cùng với nhiều loại gia vị khác như hành lá, hạt tiêu… Nhiều vị chủ hàng cho rằng làm nhân bánh gối khá đơn giản, chỉ cần thái nhỏ đều các thành phần và trộn với nhau, ngâm trong 5-7 phút là được gói.

Tuy nhiên, vỏ bánh và nước chấm mới là những yếu tố chủ đạo tạo nên nét riêng của bánh mỗi cửa hàng. Bởi thế, những hàng bánh gối đông khách thường mang riêng một bí quyết làm vỏ bánh. Đó là các công đoạn như nhào, phết, cán bột bánh sao cho đều nhưng phải mỏng và mềm dẻo.

Cũng giống như nhiều món ngon truyền thống khác của Hà Nội như phở cuốn, nem cuốn, nem tai… thứ bánh đặc sản này cũng cần ăn kèm với nước chấm được pha cầu kỳ. Nước chấm phải có một chút mặn, ngọt, một chút chua và tuyệt nhiên không được dùng nước mắm để pha.

Tất cả những thành phần ấy tạo nên hương vị của món bánh truyền thống, “bánh mùa đông Hà Nội” dù không phải lừng danh nhưng cũng đã gắn bó, hấp dẫn người Hà thành nhiều năm nay. Và tôi nghĩ chưa có ai yêu mến ẩm thực đường phố Hà thành mà chưa từng thưởng thức thứ bánh ăn chơi dân dã này.

Nếu bạn đang ở Hà Nội, hãy tìm đến một cửa hàng bánh gối ven phố cổ nào đó. Tôi tin rằng có được thưởng thức bánh gối trong tiết trời như thế này, bạn mới cảm nhận đủ nét đẹp mùa đông trên mảnh đất Tràng An.

Du lịch, GO! - Theo Dulich Tuoitre, internet

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống