Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Friday, 9 December 2011

Nhà hát lớn Hà Nội vừa tròn 100 tuổi. Không chỉ là công trình kiến trúc đồ sộ được xây dựng từ thời Pháp, nhà hát Lớn còn là nơi diễn ra hàng loạt sự kiện trọng đại của đất nước.

< Khởi công xây dựng năm 1901 và hoàn thành năm 1911, Nhà hát Lớn Hà Nội là sự kết hợp kiến trúc cổ Hy Lạp và nhà hát Opera Paris. Với kinh phí lên tới 2 triệu Franc, dự án nhà hát rộng 2.600 m2 ở Hà Nội đã gây nên những tranh cãi trên báo chí tại Pháp thời kỳ đó.

Nhà hát lớn Hà Nội đã tổ chức lễ kỷ niệm 100 năm thành lập vào ngày 9/11. Lãnh đạo Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch đã công bố quyết định về việc xếp hạng di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Nhà hát Lớn Hà Nội và Quảng trường Cách mạng tháng Tám.

< Sau 100 năm đưa vào sử dụng, công trình lớn mà Chính quyền thực dân Pháp xây dựng trong những năm đầu thế kỷ 20 vẫn giữ được các đường nét kiến trúc trước đây.

Mặc dù là một công trình kiến trúc được pha trộn nhiều phong cách, nhưng Nhà hát Lớn Hà Nội vẫn mang đậm dáng vẻ Tân cổ điển Pháp, được đánh giá là kiến trúc đẹp nhất Đông Nam Á.
Nhà hát Lớn Hà Nội tọa lạc trên Quảng trường Cách mạng tháng Tám, đầu phố Tràng Tiền (Hà Nội). Đây vốn là vùng đầm lầy thuộc đất của 2 làng Thạch Tần và Tây Luông giáp gianh với làng Cựu Lâu, thuộc Tổng Phúc Lân, huyện Thọ Xương xưa.

< Hồi đầu, trước cửa nhà hát (nằm đầu phố Paul Bert) từng có tượng đài phun nước.
.
Đồ án thiết kế công trình này do hai kiến trúc sư người Pháp là Voyer và Harley thực hiện, mang dáng dấp của nhà hát Opera Paris. Công trình được khởi công vào ngày 7/6/1901 đến khoảng cuối năm 1911 thì hoàn thành.
< Nhưng sau đó tượng đài này bị bỏ đi, thế chỗ bằng quảng trường Cách mạng tháng Tám nằm ở đầu phố Tràng Tiền.
.
Vì xây trên mặt bằng của một chiếc đầm lớn vừa san lấp nên người ta phải cho đóng tới 35.000 cọc tre trước khi đổ bê tông lót đáy nhà. Móng xây bằng đá tảng, khu vực sân khấu xây bằng gạch chịu lửa để phòng hỏa hoạn, mái nhà lợp bằng phiến thạch trang trí kẽm thếp vàng rất mỹ thuật. Đường vòng quanh mái trang trí bằng gạch tráng men.
.
< Bên trong nhà hát là sân khấu rộng chứa được 870 chỗ ngồi, dùng làm nơi biểu diễn các loại hình nghệ thuật cổ điển như Opera, nhạc thính phòng, kịch nói... phục vụ cho tầng lớp quan lại thượng lưu người Pháp và một số ít người Việt giàu có.
.
Phía trước có cột đỡ xây theo phong cách Côranhtơ Hy Lạp. Mặt chính nhà hát là hành lang kiến tạo giống như hành lang lâu đài Tuylơri ở Paris. Cửa vào tầng một dẫn tới tiền sảnh. Hai bên là hai cổng phụ có mái che nhô ra để xe cộ có thể đỗ sát vào khi trời mưa, tránh cảnh ướt át.

< Nhà hát Lớn và xe kéo tay hồi những năm đầu thế kỷ 20.
.
Công trình được đặt trong không gian rộng có hoa, cây cảnh. Chiều dài mặt ngoài là 87m, bề rộng trung bình là 30m, diện tích chung là 2.600m2. Điểm cao nhất của nhà hát lên đến 34m. Từ điểm này có thể nhìn thấy toàn cảnh thành phố, núi Tam Đảo và Ba Vì, ngày đẹp trời còn có thể nhìn thấy dãy núi đá vôi ở Ninh Bình.

< Và Nhà hát Lớn với các phương tiện hiện đại đầu thế kỷ 21.
.
Cấu trúc nhà hát có thể chia ra làm 3 phần. Mặt trước là thềm tam cấp nhiều bậc đi lên nền tôn cao. Tiền sảnh dài 30m, rộng 15m, từ đây có bậc thang đi lên tầng để vào các "chuồng gà", đi xuống tầng hầm. Trước tiền sảnh có hai ghisê bán vé, trên tầng hai có phòng gương và một phòng nhỏ tiếp khách. Đây là nơi dành cho các nhân vật VIP và gia đình họ.

< Phố Paul Bert dẫn vào Nhà hát Lớn...
.
Từ ban công tầng hai có thể bao quát cả quảng trường và nhìn thẳng ra phố Paul Berst (nay là Tràng Tiền). Phần giữa dành cho khu vực hội trường dài 25,5m, rộng 19m, nền nhà dốc về phía sân khấu gồm hai dãy lô có hai cầu thang để rút ra ngoài khi có sự cố.
< ...giờ được đổi tên là phố Tràng Tiền sầm uất.
.
Số ghế ban đầu là 870, tất cả các lô đều có phòng chờ nhỏ. Trần nhà hát được trang trí các họa tiết và có hệ thống quạt trần làm mát và thoáng khí cho khán giả vào mùa hè. Khu vực sân khấu dài 17,50m, rộng 20m mặt mở ra phía khán giả rộng 10m. Phía sau sân khấu có phòng làm việc và 18 lô dành cho diễn viên, các phòng tắm, một thư viện phòng giám đốc và nơi nghỉ ngơi của nhân viên; có kho chứa phông màn, kho đựng dụng cụ cứu hỏa. Tầng hầm cao 5m thoáng khí nhờ hệ thống cửa tò vò.

< Không chỉ có giá trị về nghệ thuật, Nhà hát Lớn Hà Nội còn có giá trị lớn về lịch sử bởi đây diễn ra hàng loạt sự kiện lịch sử trọng đại gắn liền với cuộc Cách mạng Tháng Tám và những năm đầu của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
.
Mặc dù là một công trình kiến trúc được pha trộn nhiều phong cách, nhưng Nhà hát Lớn Hà Nội vẫn mang đậm dáng vẻ Tân cổ điển Pháp, đặc biệt ở kết cấu kiến trúc, kiểu mái hai mảng lợp ngói đá đen cùng các họa tiết trang trí bên trong. Vì thế, mặc dù ra đời muộn hơn các nhà hát ở Sài Gòn và Hải Phòng nhưng Nhà hát Lớn Hà Nội có kiến trúc hoàn chỉnh nhất và trở thành một hình ảnh quen thuộc, đặc trưng của thành phố Hà Nội.


< Tháng 8/1945, nhân dân Hà Nội đón quân đồng minh vào giải giáp quân Nhật ở phố Tràng Tiền. Phía sau ảnh là Nhà hát Lớn.
.
Ngay vào thời điểm mới hoàn thành, Nhà hát Lớn Hà Nội đã trở thành trung tâm các sự kiện văn hóa, nghệ thuật dành cho người Pháp và một số ít người Việt thuộc tầng giàu có ở Hà Nội. Đây cũng là địa điểm biểu diễn lý tưởng cho các đoàn kịch, ban nhạc từ Pháp và châu Âu tới lưu diễn.

< Ngày 28/8/1945, đoàn giải phóng quân ở Việt Bắc về duyệt binh ở quảng trường Nhà hát Lớn.
.
Khoảng thời gian về sau, một số buổi trình diễn của các nghệ sĩ người Việt với mục đích từ thiện như quyên góp cứu nạn các vùng lụt lội, xây dựng nhà tế bần... Từ năm 1940, nhiều đoàn kịch nói Việt Nam đã có thể thuê lại nhà hát để biểu diễn...
< Ngày 17/9/1945 tại Nhà hát Lớn diễn ra "Tuần lễ vàng", "Quỹ Độc lập" và nhân dân Hà Nội hăng hái đến góp vàng, tiền ủng hộ kháng chiến.
.
Không chỉ là nơi tổ chức các sự kiện văn hóa, nghệ thuật của Việt Nam mà một thời Nhà hát Lớn còn là nơi diễn ra các hoạt động cách mạng, yêu nước... Ngày 17/8/1945, trên quảng trường Nhà hát đã diễn ra cuộc mít tinh ra mắt Mặt trận Việt Minh. Ngày 16/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động Tuần lễ vàng quyên góp ủng hộ Chính phủ tại nơi này.

< Sau cuộc Tổng tuyển cử ngày 1/6/1946, kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa I (Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) đã diễn ra tại Nhà hát lớn Hà Nội.
.
Vào ngày 2/3/1946, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khóa 1 cũng đã họp phiên đầu tiên ở Nhà hát và tiếp tục ở đây cho đến những năm 1960, khi Hội trường Ba Đình được xây dựng.

Tiếp đó, trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, quảng trường Nhà hát Lớn là nơi tiễn đưa những người con Hà Nội lên đường nhập ngũ.

< Ngày 3/11/1946 cũng tại Nhà hát Lớn Hà Nội, Chính phủ ra mắt Quốc hội.
.
Chuẩn bị cho Hội nghị khối Pháp ngữ lần thứ 7 diễn ra năm 1997 tại Hà Nội, Nhà nước đã quyết định trùng tu Nhà hát Lớn với số tiền khoảng 16 triệu USD. Lần trùng tu này đã trả lại dáng vẻ ban đầu vì những lần sửa chữa trước đó, người ta quét vôi phủ kín các hoa văn của công trình. Và điều thú vị là các kiến trúc sư đã sử dụng đá ở Lai Châu để làm ngói lợp thay cho ngói cũ, loại ngói phải nhập từ nước Pháp.

< Nhà hát Lớn Hà Nội năm 1955.
.
Kể từ đó đến nay công trình có giá trị về kiến trúc và lịch sử này là địa điểm biểu diễn lý tưởng của các đoàn nghệ thuật trong và ngoài nước, là địa chỉ không thể thiếu cho các tour du lịch đến Hà Nội.

Nhà hát lớn Hà Nội là chứng tích thiêng liêng, ghi dấu và lưu truyền những sự kiện lịch sử và cách mạng quan trọng bậc nhất của quốc gia cũng như thủ đô.

Du lịch, GO! - Theo VnExpress, Datviet
“Ngọ Môn năm cửa chín lầu/ Cột cờ ba cấp, Phu Văn Lâu hai tầng”. Câu ca dao đã mô tả một cách ngắn gọn nhưng khá đầy đủ và chính xác ba công trình kiến trúc tiêu biểu nhất nằm ở mặt tiền của hệ thống thành quách cung điện Huế.

Ngọ Môn là bộ mặt của Hoàng Thành, Đại Nội. Cột cờ hay Kỳ đài là hình ảnh nổi bật nằm ở vị trí trung tâm của cố đô. So với hai công trình kiến trúc ấy thì Phu Văn Lâu chỉ là một tòa nhà tương đối nhỏ. Nhưng, tại sao nó lại được nói lên cùng một lượt, xem như ngang hàng? Chắc hẳn nó phải có một giá trị nào đó về mặt văn hoá và lịch sử.

Theo một số sử sách của quốc sử quán triều Nguyễn thì vào đầu thời Gia Long, khi chưa có tòa nhà như ta đang thấy hiện nay triều đình đã cho xây dựng ở vị trí ấy một ngôi nhà nhỏ gọi là Bảng Đình, “các chiếu thư dụ chỉ đem bá cáo thì treo yết ở đó”.

Đến tháng 6 năm Gia Long thứ 18 (tháng 7/1819), triều đình cho giải tỏa Bảng Đình ấy đi và xây dựng vào đó tòa nhà hai tầng được đặt tên là Phu Văn Lâu .

Tòa nhà kiến trúc trên một cái nền hình vuông mỗi cạnh 12,24m. Mặt đất của đoạn thành giai này hơi xuôi về phía trước, nên nền cao đến 1,22m ở mặt tiền, còn ở mặt hậu thì nền chỉ cao 1,07m. Mặt nền lát đá cẩm thạch, quanh sân lát gạch Bát Tràng, nhưng nay sân đã thay thế bằng gạch ca-rô đúc bằng xi-măng. Tòa nhà chia làm hai tầng, gồm hai bộ mái chồng lên nhau, dưới lớn trên nhỏ. Mái ngày xưa lợp ngói ống tráng men vàng (hoàng lưu ly) là loại ngói được dùng để lợp cho tất cả các cung điện nằm ở trục chính của Kinh thành.

Tòa nhà có 16 cột gỗ tròn sơn màu đỏ đậm. Bốn cột chính ở giữa chạy liên tục từ trên nền đến nóc tầng trên, cao khoảng 8 mét. Cột gỗ lim, chu vi trung bình 10,7m, 12 cột quần ở chung quanh cao khoảng 3m, có tiết diện nhỏ hơn, chu vi từ 0,95m đến 1m. Mỗi cột nhà đều dựng trên một bệ đá thanh. Những viên đá tảng được chạm thành hai tầng, dưới vuông trên tròn, cao 31cm. Chung quanh mặt nền, xây một hệ thống lan can cao 0,65m, chỉ bị gián đoạn ở các hệ thống bậc thềm giữa 3 mặt trước, trái và phải dùng để lên xuống. Hai lối đi hai bên không có thành bậc thềm. Hai bên hệ thống bậc cấp mặt trước có thành bậc chạm hình rồng. Đứng từ mặt nhìn lên, ta thấy có trần gỗ.
Từ tầng dưới đi lên tầng trên bằng một cầu thang bằng gỗ đặt ở góc phải.

Ở tầng trên, cả 4 mặt đều dựng đố bản, kiểu đố lụa khung tranh. Hai mặt trước và sau trổ cửa sổ tròn, hai mặt trái và phải trổ cửa sổ vuông, đối xứng nhau từng cặp. Chạy quanh bên ngoài là một hệ thống lan can con tiện bằng gỗ trau chuốt thật thanh tú và duyên dáng.

Ở nội thất không trần thiết gì, nhưng ngoại thất thì trang trí đẹp. Trên nóc lầu đắp cặp hồi long chầu mặt nhật. Các góc mái chắp hình con giao. Các bờ nóc, bờ quyết đều chia ra từng ô hộc kiểu lòng giếng, trong đó trang trí các thứ hoa lá đắp nổi bằng sành sứ nhiều màu. Trước mặt tầng này treo tấm biển gỗ đề ba chữ Phu Văn Lâu.

Dạng thức cấu trúc tòa nhà nằm trong hệ thống âm dương ngũ hành. Phu Văn Lâu hai tầng tượng trưng cho lưỡng nghi. Ở tầng trên, hai cặp cửa sổ tròn và vuông biểu hiện rõ rệt hình dáng trời và đất: trời tròn đất vuông. Cái nền, bộ phận thấp nhất của tòa nhà, có kích thước hình vuông, cũng tượng trưng cho đất, hình ảnh mặt trời trên nóc tầng hai, bộ phận kiến trúc cao nhất, hình tròn, cũng tượng trưng cho trời. Tòa nhà tuy không lớn nhưng đứng ở một vị trí quan trọng: ngay giữa mặt tiền kinh thành. Bởi vậy, ý niệm kiến trúc mang tính triết lý ấy phải được thể hiện ở đây. Dụng ý của các nhà kiến trúc Việt Nam đầu thế kỷ 19 được thấy rõ hơn qua kiểu xây dựng Kỳ đài và Ngọ Môn nằm trong câu ca dao đã được nhắc đến.

Kỳ Đài ba cấp tượng trưng cho tam tài: thiên, địa, nhân. Ngọ Môn năm cửa biểu hiện ngũ hành: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Như vậy, nếu tính từ ngoài và trong kinh thành thì khái niệm kiến trúc siêu nhiên ấy đã thể hiện từ lưỡng nghi (âm dương) với Phu Văn Lâu, qua tam tài và Kỳ Đài, đến Ngũ hành với Ngọ Môn. Và, nếu nhìn xa hơn một quãng nữa hòn núi Ngự Bình dùng làm tiền án cho đế đô có thể tượng trưng cho thái cực. Phải chăng cả một loạt thực thể và kiến trúc nằm trên trục chính kinh thành Huế đã đi từ thái cực đến lưỡng nghi, rồi qua những yếu tố khác nữa trong hệ thống Thái cực- Lưỡng nghi - tứ tượng - bát quái - vạn vật?

Tóm lại, về mặt kiến trúc, ngoài vẻ đẹp thanh thoát, nhẹ nhàng và tỷ lệ hài hòa cân xứng của nó, Phu Văn Lâu còn mang rõ tính triết lý theo thế giới quan của người xưa nữa.

Trong trận bão lớn năm giáp thìn (1904), Phu Văn Lâu bị hư hỏng hoàn toàn. Năm sau (1905), vua Thành Thái đã cho tái thiết lại theo quy mô cũ. Tấm biển dưới mái lầu mặt trước hiện nay là tấm biển đã được làm lại dưới thời Thành Thái trong lần tu sửa ấy.
Trên biển, ngoài ba chữ đại tự Phu Văn Lâu, còn ghi hai lạc khoản với cỡ chữ nhỏ.

Lạc khoản thứ nhất viết: Gia Long thập bát niên lục nguyệt nhật kiến (nghĩa là xây dựng vào một ngày thuộc tháng 6 năm Gia Long thứ 18, tức là tháng 7/1819).

Lạc khoản thứ hai ghi: Thành Thái thập thất niên nhị nguyệt nhật trùng kiến (nghĩa là xây dựng lại vào một ngày thuộc tháng 2 năm Thành Thái thứ 17, tức là tháng 3/1905).
Trong đợt tái thiết này, ngói ống hoàng lưu ly đã bị thay thế bằng ngói âm dương màu gạch.

Hai lần tu sửa tiếp theo là vào năm 1963 và năm 1974. Trong lần tu sửa 1963, người ta đã dựng hệ thống vách gỗ ở cả bốn mặt tầng trên thay cho đồ bản cũ có cửa sổ tròn và vuông ngày trước; chỉ trổ một cửa lá sách ở giữa mặt tiền, kiểu thượng song hạ bản. Trong lần tu sửa 1974, người ta thay thế một số rui, đòn tay bằng gỗ, lợp lại mái bằng ngói âm dương thông thường: và nhất là thay bốn cột giữa và bốn cột góc bằng bê-tông cốt sắt giả gỗ như ta đang thấy hiện nay. Lần tu sửa gần đây nhất vào cuối năm 1984. Trong đợt này, người ta đã thay thế một cột quân đã mục nát, hai kèo, một số đòn tay và rui đã hỏng vì mái bị thủng. Ngói ở cả hai tầng mái được lợp lại, nhưng diềm mái lại không được tu bổ.

Vậy Phu Văn Lâu là gì? Chữ Phu Văn Lâu thường bị một số người viết nhầm, đọc nhầm là Phú Văn Lâu. Thực ra: Phu là trình bày ra, phô diễn ra. Văn là vẻ đẹp, ý nghĩa bao hàm trong các chữ văn chương, văn nghệ, văn học, văn hoá. Lâu là ngôi nhà lầu, vì nó có hai tầng. Như thế, Phu Văn Lâu là ngôi nhà lầu dùng để phô diễn những cái hay, cái đẹp trong văn hoá, nghệ thuật cho mọi người thưởng ngoạn.

Tòa nhà này đã từng được nhà nước phong kiến giao cho những chức năng như trong nghĩa đen vừa giải thích:
Một là nơi yết thị các chiếu chỉ của triều đình và kết quả các kỳ thi đình; hai là nơi tổ chức các cuộc vui để mừng tuổi thọ của các vua nhà Nguyễn.

Thật vậy, tầng dưới (để trống cả bốn mặt chung quanh, bên trong cũng chẳng trần thiết gì) khi cần, người ta treo lên một tấm bảng sơn son thếp vàng, gọi là Kim bảng hay Bảng vàng, để đính vào đó những chiếu chỉ của nhà vua cần thông báo cho thần dân, hay niêm yết danh sách những sĩ tử thi đỗ tiến sĩ, phó bảng trong các kỳ thi đình (cũng còn gọi là điện thí) được tổ chức ở hoàng cung. Các cuộc sát hạch ở bậc cao nhất này thường diễn ra ở hai nhà Tả Vu, Hữu Vu hoặc Duyệt Thị Đường trong phạm vi Tử Cấm thành. Thông thường nhà vua ra đề thi, chấm bài và quyết định kết quả trong kỳ thi. Các thí sinh trúng tuyển được vua trao tặng lễ phục, vật phẩm và đãi yến tiệc tại điện Cần Chánh, và đôi khi còn được vua cho cưỡi ngựa xem hoa ở vườn ngự uyển.

Hôm sau, triều đình tổ chức cuộc lễ truyền lô tại điện Thái Hòa hay tại Ngọ Môn để xướng danh những người thi đỗ. Tiếp đó, họ được ghi tên trên một tấm bảng lớn gọi là Bảng vàng. Tấm bảng được rước một cách trọng thể đến Phu Văn Lâu để treo yết ở đây cho mọi người đến đọc; có lính canh gác và quan hữu trách túc trực. Sau 3 ngày, tấm bảng ấy lại được rước một cách trọng thể đến trường Quốc Tử Giám để lưu trữ, xem như là một văn vật quý của nhà trường.

Cuối cùng, những người đỗ tiến sĩ còn được khắc tên tuổi và quê quán vào bia đá, dựng ở Văn Miếu bên cạnh trường Quốc Tử Giám. Hiện nay, tại Văn Miếu Huế còn có 32 tấm bia tiến sĩ lập từ các khoa thi từ thời Minh Mạng đến thời Khải Định. Cái tên “Bảng vàng bia đá” là như vậy: “Bảng vàng” treo ở Phu Văn Lâu còn “Bia đá” dựng ở Văn Miếu. Ngoài ra, mỗi lần nhà vua ban chiếu chỉ gì thì văn bản đó cũng đưa ra niêm yết ở Phu Văn Lâu.

Vào năm 1829, một năm trước khi xây dựng Hổ Quyền - một trường đấu của voi và cọp, Minh Mạng đã cho tổ chức một trận đấu giữa voi và cọp trước Phu Văn Lâu. Nhà vua đã ngồi trên một chiếc thuyền rồng đậu gần bờ sông Hương để xem. Mặc dù con cọp đã bị buộc vào một cái cọc rất chắc, nhưng vì nó mạnh quá nên đã bứt được dây và bơi về phía thuyền vua. Mọi người hoảng hốt. Không có vũ khí trong tay, vua Minh Mạng phải dùng một cái sào để đẩy lùi con vật. Ngay sau đó, mấy người lính nhảy xuống một chiếc thuyền nhỏ tiến đến gần con thú và giết nó chết giữa dòng sông.

Vào năm 1830, nhân dịp Tứ tuần Đại khánh của Minh Mạng, triều đình đã tổ chức ở khu vực Phu Văn Lâu những cuộc vui chơi, yến tiệc trong suốt 3 ngày để chào mừng . Chính nhà vua cũng ngự ra ở Phu Văn Lâu để xem các trò vui chơi đặc biệt do nhiều địa phương về biểu diễn. Trong dịp này, Minh Mạng cho mời 100 vị bô lão ở kinh đô và các tỉnh lân cận có tuổi từ 70 trở lên. Số tuổi của họ cộng lại thành 10.000 tuổi chẵn, tức là 10.000 năm, đúng với ý nghĩa chữ “vạn thọ” để chúc nhà vua sống lâu. Đối với các cụ từ 100 tuổi trở lên, vua thăm hỏi từng người và trao tặng cho họ mỗi vị một lạng quế và một đồng tiền vàng. Sau đó, tất cả các vị kỳ lão ấy đều được nhà vua khoản đãi yến tiệc và chúc mừng họ lại bằng một số bài thơ ngự chế.

Tại Phu Văn Lâu cũng là nơi nhà vua cùng triều thần duyệt khán các đơn vị bộ binh và kỵ binh của triều đình diễu hành. Sau đó vua xuống bến sông Hương để duyệt khán thủy binh, và xem cuộc đua thuyền đầy hào hứng và thú vị ở trên sông.

Theo gương của Minh Mạng, về sau các vua Thiệu Trị và Tự Đức cũng mời các vị kỳ lão về dự các ngày lễ tứ tuần và ngũ tuần của nhà vua. Trong dịp nầy, nhân dân nô nức đến xem các nghệ nhân từ nhiều nơi trên cả nước về biểu diễn trò chơi và ca nhạc vũ ở nhà rạp dựng lên trước bến Phu Văn Lâu. Các cuộc vui công cộng diễn ra ở đây suốt 3 ngày liền.

Vào năm 1843, Thiệu Trị còn cho dựng gần bên phải Phu Văn Lâu một nhà bia nhỏ, trên mặt bia khắc bài “Hương Giang hiểu phiếm”(Đi chơi thuyền buổi sáng trên sông Hương)  là bài thứ 11 trong 20 bài thơ nhà vua làm ra để ca ngợi 20 cảnh đẹp nhất của cố đô, gọi là Thần kinh nhị thập cảnh.

Để tăng thêm vẻ uy nghiêm cho Phu Văn Lâu, triều đình đã cho dựng ở hai bên mặt tiền hai tấm bia đá thanh, mỗi bia khắc bốn chữ “khuynh cái hạ mã”, nghĩa là ai đi qua trước mặt tòa nhà này cũng phải cất nón mũ và xuống ngựa. Ở sân trước của Phu Văn Lâu cũng đã thiết trí hai bên hai khẩu súng thần công nhỏ bằng đồng (ngày nay hai tấm bia và hai khẩu súng đều không còn nguyên tại chỗ).

Ngày nay, du khách gần xa đến Huế, ai lại không một lần nhìn ngắm di tích lịch sử và văn hoá ấy của cố đô. Và, ai lại không nghe vang vọng từ đây câu hò mái nhì man mác, gợi lại tấm lòng yêu nước thiết tha của nhân dân ta, mà tương truyền gắn liền với tâm sự vua Duy Tân thuở nọ:

Chiều chiều trước bến Văn Lâu
Ai ngồi ai câu,
Ai sầu ai thảm,
Ai thương ai cảm,
Ai nhớ ai trông,
Thuyền ai thấp thoáng bên sông,
Đưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non.

Du lịch, GO! - Theo Tạp chí Sông Hương, ảnh internet
Chợ Lớn là chợ xưa ở vùng đất Chợ Lớn - Sài Gòn khi bà con người Hoa tập trung về đây lập ra từ năm 1778, sau nhiều đợt di dân của đồng bào người Hoa.

< Chợ Bình Tây: một trong những trung tâm bán sỉ của Chợ Lớn.

Chợ Lớn tập trung phần lớn là người Hoa ở tỉnh Quảng Ðông và Triều Châu, cùng một số người Hoa ở Phúc Kiến, người Hẹ và Quảng Tây... Ngoài ra, còn một số bà con người Hoa khác đến từ Cù Lao Phố, trên sông Ðồng Nai, sau năm 1778.

Chợ Lớn từ thế kỷ 18 là cả một khu vực rộng, với cảnh làm ăn, buôn bán nhộn nhịp tại các quận: 5, 6, 10 và một phần quận 11. Trước đây, khi nhắc đến Chợ Lớn là người dân nghĩ ngay đến một Chợ Lớn - phố Tàu trong lòng TP Sài Gòn.

Chợ Lớn xưa, đã trở thành một địa danh nổi tiếng không thể thiếu cho những ai đến Sài Gòn - TP Hồ Chí Minh vào dịp cuối năm mua sắm vì đây là nơi mua bán giá sỉ lớn nhất, cung cấp hàng hóa cả vùng Nam Bộ và là chợ có chủng loại hàng hóa nhiều nhất của vùng đất Chợ Lớn - Sài Gòn.

< Bến sông ở Chợ Lớn ngày xưa.

Lịch sử Chợ Lớn, có từ ngày 20/10/1879, khi Thống đốc Nam Kỳ LeMyre de Vilers ra Nghị định thành lập TP Chợ Lớn (Municipalité de Chợ Lớn). Ðây là thành phố cấp 2, ngang cấp tỉnh, cùng với các TP Ðà Nẵng và Phnôm Pênh lúc đó, được thành lập sau Chợ Lớn của toàn xứ Ðông Dương thuộc địa thực dân Pháp. Ðứng đầu thành phố là viên Ðốc lý Maire (người Pháp); do Thống đốc Nam Kỳ đề cử và được toàn quyền Ðông Dương bổ nhiệm.

< Đường xe lửa Sài Gòn - Chợ Lớn (Ngày Xưa).

TP Chợ Lớn khi ấy tách biệt với tỉnh Chợ Lớn, là vùng đất rộng kéo tới phía bắc tỉnh Long An bây giờ. TP Chợ Lớn lúc đó cách Sài Gòn 11 km.  Ngày 13/12/1880, Thống đốc Nam Kỳ ra Nghị định thành lập Khu Sài Gòn - Chợ Lớn, đặt dưới sự cai trị của Giám đốc Nha vụ Chánh Khu Sài Gòn - Chợ Lớn gồm cả 2 thành phố và vùng phụ cận chung quanh.

Ðến ngày 12/1/1888, hai thành phố Sài Gòn và Chợ Lớn lại được tách ra như cũ. Và sự kiện nối hai thành phố là ngày 1/7/1882, thực dân Pháp cho xây dựng tuyến đường sắt từ Sài Gòn đi Mỹ Tho và bến Chợ Lớn. Trong ngày đó lần đầu tiên có tuyến xe điện chạy bằng đường sắt hoạt động. Còn về đường bộ, trong "Bến Nghé xưa", nhà văn Sơn Nam viết: "giữa Sài Gòn và Chợ Lớn lúc đó, phía đất thấp, chưa có dự kiến làm đường nối liền, còn ruộng lúa với ao cày, ao nuôi vịt, ngọn rạch cạn, đợi đến năm 1916 mới bắt đầu đắp đường, trải đá ong... đó là đường Galléni, nay là đường Trần Hưng Ðạo".

Dân số của TP Chợ Lớn vào năm 1901, theo thống kê của người Pháp là 63.237 người. Sau đó theo kết quả điều tra dân số ngày 15/2/1920 là 93.949 người. Thập niên 40, dân số Chợ Lớn được phát triển lên 200.000 người, đứng thứ nhì sau TP Sài Gòn (220.000 người) trong toàn xứ Ðông Dương. Ðến năm 1930, hai thành phố Sài Gòn và Chợ Lớn đã giáp nhau ở chỗ nay là đường Nguyễn Văn Cừ, giữa quận 1 và 5. Sau này, trong thời kỳ thuộc Mỹ - ngụy, TP Chợ Lớn nhập với TP Sài Gòn và đến năm 1956 thì bỏ tên gọi kép, chỉ gọi chung là Ðô Thành Sài Gòn.

Nói đến Chợ Lớn, ai đến đây dù xa hay gần, cũng nghĩ tới hình ảnh của các khu, xưởng sản xuất thủ công nghiệp, hàng hóa đủ loại, nhộn nhịp cảnh buôn bán sầm uất. Cùng với đó là san sát các hàng quán, tiệm ăn mang phong vị người Hoa xưa cũng như nay...

Hiện tại, vào ban ngày, Chợ Lớn vẫn ồn ào náo nhiệt người mua kẻ bán tấp nập. Còn đêm về, kể cả tới 21 - 22 giờ khuya, Chợ Lớn vẫn náo nhiệt cảnh ăn tối, mua bán như phong tục xưa. Ðộc đáo còn ở chỗ, ngoài việc tham quan, mua sắm thì khách đến thăm Chợ Lớn còn được tận mắt chứng kiến cuộc sống sôi động mà bà con người Hoa, khi đến lập nghiệp đã bảo tồn các mặt văn hóa đời sống thường ngày trên mảnh đất này.

Du lịch, GO! - Theo Nhân Dân, internet

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống