Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Sunday, 11 December 2011

Lào Cai được mệnh danh là kinh đô của giới nhiếp ảnh miền Bắc. Một vùng đất thật đẹp, đẹp đến sững sờ. Tôi có nghe một hướng dẫn viên du lịch nói “Cứ ở đâu có du khách nước ngoài đến và có mấy ông chụp ảnh có mặt là khu vực đấy chắc chắn rất đẹp”.

< Hoa đào rực rỡ trên cao nguyên Sa Pa.

Mùa xuân, “mảnh đất nơi con sông hồng chảy vào đất Việt” này thật rực rỡ với sắc trắng hoa mận ở Bắc Hà, sắc hồng hoa đào Sa Pa, với những lễ hội đặc sắc của người Mông, người Dao, người Giáy. Đặc biệt hơn nữa mùa xuân ở Sa Pa và Ý Tý thường có những sông mây kỳ ảo như tranh thủy mặc.

< Ruộng bậc thang Ý Tý.

< Huyền ảo Sa Pa mùa xuân.

Mùa hè đến, Lào Cai lại sặc sỡ và loang lổ sắc màu của những mảnh ruộng bậc thang mùa đổ nước. Ruộng bậc thang Sa Pa đã được lọt vào top 7 ruộng bậc thang kỳ vĩ nhất thế giới, nơi người ta thường gọi là nấc thang lên thiên đàng.

< Tuyết Sapa.

Nơi đây còn có những thác nước đẹp mê hồn như thác Bạc, thác Cát Cát… (Sa Pa), thác Bay (Văn Bàn)…
< Mùa đông ở bản làng Sa Pa.

Mùa thu, mảnh đất này lại khoác lên mình sắc vàng của lúa chín, màu  tím của những ruộng hoa tam giác mạch ở Lùng Cải (Bắc Hà).
< Hoa mận ở Bắc Hà.

Vào khoảng cuối tháng 10 dương lịch, sau khi bà con dân tộc đã thu hoạch lúa xong trên những thửa ruộng bậc thang, họ gieo những hạt hoa tâm giác mạch trên chính những thửa ruộng này.
< Thác Bạc.
.
Mùa đông nơi đây tràn ngập sương mù, nhiều du khách may mắn được ngắm băng tuyết trên đỉnh đèo Ô Quý Hồ (Sa Pa), mải mê đến quên cả giá rét.
< Thác Cát Cát.

Lào Cai đẹp đã lôi kéo những tay máy nổi tiếng như Hoàng Thế Nhiệm - “ông vua phong cảnh Việt Nam” - một năm cũng đến mảnh đất này đến 5 – 7 lần, chuyên gia săn giải ảnh như Trần Cao Bảo Long, Trần Thiết Dũng mùa xuân nào cũng có mặt ở Lào Cai để ghi lại những khoảnh khắc đời thường.
< Lễ hội người Mông Sa Pa.
< Ruộng bậc thang ở Sa Pa.

Và chính mảnh đất này cũng là nguồn cảm hứng vô tận cho nhiều tác phẩm nổi tiếng đạt giải cao của lĩnh vực nhiếp ảnh. Phải nói rằng Lào Cai mùa nào cũng đẹp và tiết trời, văn hóa nơi đây luôn biết chiều lòng du khách nước ngoài cũng như giới nghệ sĩ.
< Làng định cư Tú Lệ (Yên Bái).

Đấy là khung cảnh thiên nhiên, còn cái đẹp do con người tạo ra thì sao?

< Làng định cư Cán Cấu (Si Ma Cai – Lào Cai).

Lên vùng cao Tây Bắc ta dễ dàng bắt gặp hình ảnh thân thương, ấm áp và đẹp như mơ của những ngôi làng của đồng bào các dân tộc nằm dưới chân núi Hoàng Liên hùng vĩ.
< Bản làng Y Tý (Lào Cai).
< Làng A Lù – Bát Xát – Lào Cai.

Có những ngôi làng đang là hình mẫu xây dựng nông thôn thời kỳ mới ở vùng cao Tây Bắc và có những bản làng là điểm đến không thể thiếu của du khách quốc tế mỗi khi sang thăm Việt Nam.
< Làng du lịch Bản Hồ (Sa Pa – Lào Cai).

Bản làng vùng cao Tây Bắc còn là nguồn cảm hứng sáng tạo nên những tác phẩm văn hoá – nghệ thuật đặc sắc và là nơi góp phần tạo ra những văn nghệ sỹ dân tộc ít người tiêu biểu của đất nước.
< Khu làng tái định cư ở Tuần Giáo (Điện Biên).
< Làng tái định cư thủy điện ở Quỳnh Nhai (Sơn La).

Chùm ảnh đẹp về những ngôi làng định canh định cư ấy mà chúng tôi có dịp ghi lại qua các chuyến đi thăm các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Điện Biên, Hà Giang.
< Làng định cư thuỷ điện Mường Lay (Lai Châu).
< Làng định cư biên giới Pha Long (Mường Khương).
< Làng định canh định cư Suối Thầu (Sa Pa).

Du lịch, GO! - Theo báo Laodong, Dantri

Saturday, 10 December 2011

Cùng với áo dài, áo cánh, váy lĩnh, yếm đào, thắt lưng bao... chiếc nón được coi là một thứ phục trang truyền thống của phụ nữ Việt Nam.

Việt Nam là một vùng nhiệt đới, nắng lắm mưa nhiều. Vì vậy chiếu nón đội đầu là vật không thể thiếu được để che nắng che mưa.

Nón lá Việt Nam có lịch sử rất lâu đời. Hình ảnh tiền thân của chiếc nón đã được chạm khắc trên trống đồng Ngọc Lũ, trên thạp đồng Ðào Thịnh vào 2.500-3.000 năm về trước. Từ xa xưa, nón đã hiện diện trong đời sống hàng ngày của người Việt Nam, trong cuộc chiến đấu giữ nước, qua nhiều chuyện kể và tiểu thuyết.

< Nón là và thôn nữ.

“Dáng tròn vành vạnh vốn không hư,
Che chở bao la khắp bốn bờ.
Khi để (đội) tưởng nên dù với tán,
Khi ra thì nhạt (lạt) nắng cùng mưa.
Che đầu bao quản lòng tư túi,
Giúp chúa nào quen nghĩa sớm trưa.
Vòi vọi ngồi trên ngôi thượng đỉnh,
Ai ai lớn nhỏ đội ơn nhờ.”
(Thơ cổ)

Theo sự phát triển của lịch sử qua các thời đại, nón cũng có nhiều biến đổi về kiểu dáng và chất liệu. Lúc đầu khi chưa có dụng cụ để khâu thắt, nón được tết đan. Còn loại nón khâu như ngày nay xuất hiện phải nhờ đến sự ra đời của chiếc kim, tức là vào thời kỳ người ta chế luyện được sắt (khoảng thế kỷ thứ 3 trước công nguyên).

Theo lời các cụ, trước kia người ta phân thành 3 loại nón cổ có tên gọi nón mười (hay nón ba tầm), nón nhỡ và nón đầu. Nhìn chung nón cổ vành rộng, tròn, phẳng như cái mâm. Ở vành ngoài cùng có đường viền quanh làm cho nón có hình dáng giống như cái chiêng. Giữa lòng có đính một vòng nhỏ đan bằng giang vừa đủ ôm khít đầu người đội.

Nón ba tầm có vành rộng nhất. Phụ nữ thời xưa thường đội nón này đi chơi hội hay lên chùa. Nón đấu là loại nhỏ nhất và đường viền thành vòng quanh cũng thấp nhất.

< Nón bài thơ Huế.

Trước kia người ta còn phân loại nón theo đẳng cấp của người chủ sở hữu nón. Các loại nón dành cho ông già, có loại cho nhà giàu và hàng nhà quan, nón cho trẻ em, nón cho lính tráng, nón nhà sư...

Các từ ngữ về nón lá ở Việt Nam gồm nhiều loại khác tùy theo địa danh hay giai đoạn lịch sử - ví dụ như:
- Nón dấu: Nón có chóp nhọn của lính thú thời xa xưa
- Nón gò găng hay nón ngựa: Sản xuất ở Bình Định làm bằng lá dứa đội khi cỡi ngựa.

< Nón chằm áo tơi.

- Nón rơm: Nón làm bằng cộng rơm ép cứng.
- Nón quai thao: người miền Bắc thường dùng trong lễ hội.
- Nón cời: Nón rách
- Nón gõ: Nón gõ làm bằng tre ghép cho lính hồi xưa.
- Nón lá sen: Cũng gọi là nón liên diệp.
- Nón thúng: Thứ nón lá tròn bầu giống cái thúng.
- Nón khua: Viên đẩu nón của người hầu các quan xưa.
- Nón chảo: Thứ nón mo tròn lên như cái chảo úp nay ở Thái Lan còn dùng.
- Nón cạp: Nón xuân lôi đại dành cho người có tang.
- Nón bài thơ: Ở Huế thứ nón lá trắng và mỏng có lộng hình hay một vài câu thơ v.v…

< Nón lá và nữ sinh.

Ở Việt Nam, cả hai miền Bắc, Trung, Nam đều có những vùng làm nón nổi tiếng và mỗi loại nón ở từng địa phương đều mang sắc thái riêng. Nón Lai Châu của đồng bào Thái; nón Cao Bằng của đồng bào Tày sơn đỏ; nón Thanh Hoá có 16-20 vành; nón Ba Ðồn (Quảng Bình) mỏng nhẹ và giáng thanh thoát; nón Gò Găng (Bình Ðịnh); nón Huế nhẹ nhàng, thanh mỏng nhờ lót bằng lá mỏng; nón làng Chuông (Thanh Oai, Hà Tây) là loại nón bền đẹp vào loại nhất ở vùng đồng bằng Bắc Bộ.

Nguyên liệu làm nón không phức tạp. Ở nơi nào cũng vậy, muốn làm được một chiếc nón phải dùng lá của một loại cọ nhỏ mọc hoang, dùng sợi nón - một loại sợi rất dai lấy từ bẹ cây móc (ngày nay người ta thường dùng sợi chỉ nilon) và tre.

Tàu lá nón khi đem về vẫn còn xanh răn reo, được đem là bằng cách dùng một miếng sắt được đốt nóng, đặt lá lên dùng nắm dẻ vuốt cho phẳng. Lửa phải vừa độ, nếu nóng quá thì bị ròn, vàng cháy, nguội quá lá chỉ phẳng lúc đầu, sau lại răn như cũ. Người ta đốt diêm sinh hơ cho lá trắng ra, đồng thời tránh cho lá khỏi mốc.

< Sườn nón lá.

Tre chọn ống dài vuốt nhọn, gác lên dàn bếp hong khói chống mối mọt, dùng làm vòng nón. Nón Chuông có 16 lớp vòng.

Con số 16 là kết quả của sự nghiên cứu, lựa chọn qua nhiều năm, cho đến nay đã trở thành một nguyên tắc không thay đổi. Chúng đã tạo cho những chiếc nón Chuông có được dáng thanh tú, không quá cũn cỡn, không xùm xụp. Nhưng vẻ đẹp của chiếc nón chủ yếu nhờ vào đôi bàn tay khéo léo của người thợ tạo nên.

< Chằm nón cũng là một nghệ thuật.

Người thợ khâu nón được ví như người thợ thêu. Vòng tre được đặt lên khuôn sẵn, lá xếp lên khuôn xong là đến công việc của người khâu. Những mũi kim khâu được ước lượng mà đều như đo.

Những sợi móc dùng để khâu thường có độ dài, ngắn khác nhau. Muốn khâu cho liên tục thì gần hết sợi nọ phải nối tiếp sợi kia. Và cái tài của người thợ làng Chuông là các múi nối sợi móc được dấu kín, khiến khi nhìn vào chiếc nón chỉ thấy tăm tắp những mũi khâu mịn màng. Sợi móc len theo từng mũi kim qua 16 lớp vòng thì chiếc nón duyên dáng đã thành hình.

Sao anh không về thăm quê em,
Ngắm em chằm nón buổi đầu tiên.
Bàn tay xây lá, tay xuyên nón,
Mười sáu vành mười sáu trăng lên.
(Thơ Nguyễn Khoa Điềm)

< Lá buông.

Trong lúc khâu nón, các cô gái làng Chuông thường không quên tìm cách trang trí thêm cho chiếc nón hấp dẫn. Ðơn giản nhất là họ dán vào lòng nón những hình hoa lá bằng giấy nhiều màu sắc thường được in sẵn và bán ở các phiên chợ Chuông.

< Nón và người mẫu.

Tinh tế hơn, các cô còn dùng chỉ màu khâu giăng mắc ở hai điểm đối diện trong lòng nón để từ đó có thể buộc quai nón bằng những giải lụa mềm mại, đủ màu sắc, làm tôn thêm vẻ đẹp khuôn mặt các cô gái dưới vành nón.

Nét đẹp và nét duyên của chiếc nón lá không thể không nói đến sự góp phần của quai nón. Rất nhiều chất liệu, sắc màu, người dùng có thể tuỳ theo lứa tuổi mà chọn lựa.

< Nón trang trí gian hàng triễn lãm.

Nón cho các thiếu nữ thì quai lụa thanh tao; nón cho các bà, các mẹ thì bằng vải hoa, vải nhung. Nón mảnh mai, quai êm dịu, cái duyên của người phụ nữ càng thêm đằm thắm. Biến hóa hơn: quai nón tại thành thị có thể to bản, trùm đến tận mũi và trở thành chiếc khẩu trang chống bụi bặm trên hè phố.

Các cô gái Việt Nam chăm chút chiếc nón như một vật trang sức, đôi khi là vật để trao đổi tâm tư tình cảm của riêng mình.

< Nón trong ngoại giao: Ngoại trưởng Mỹ Hilary Clinton và ái nữ của mỉnh cũng đã từng đội nón lá.

Người ta gắn lên đỉnh của lòng nón một mảnh gương tròn nho nhỏ để các cô gái làm duyên kín đáo. Công phu nhất là vừa vẽ chìm dưới lớp lá nón những hoa văn vui mắt, hay những hình ảnh bụi tre, đồng lúa, những câu thơ trữ tình, phải soi lên nắng mới thấy được gọi là nón bài thơ.

< Nón lá với du lịch: những người khách Trung Đông cực kỳ thích thú với chiếc nón truyền thống của Việt Nam.

Chiếc nón Việt Nam được làm ra để che mưa, che nắng. Nó là người bạn thuỷ chung của những con người lao động một nắng hai sương. Nhưng công dụng của nó không dừng lại ở đấy, nó đã trở thành một phần cuộc sống của người Việt Nam.

Trên đường xa nắng gắt hay những phút nghỉ ngơi khi làm đồng, ngồi bên rặng tre cô gái có thể dùng nón quạt cho ráo mồ hôi.

< Nón lá với nghệ thuật nhiếp ảnh.

Bên giếng nước trong, giữa cơn khát cháy cổ, nón có thể trở thành chiếc cốc vại khổng lồ bất đắc dĩ, hay có thể thay chiếc chậu vục nước mà áp mặt vào đó cho giải bớt nhiệt.

Trong nghệ thuật, nón lá là đề tài của hàng ngàn bức ảnh nghệ thuật đương đại lẫn tranh hội họa theo nhiều trường phái khác nhau.
Tiết mục múa nón của các cô gái người Kinh với chiếc áo dài duyên dáng thể hiện tính dịu dàng, mềm mại và kín đáo của phụ nữ Việt Nam.

< Nón trong tranh hội họa.

Với khúc hát quan họ Bắc Ninh, chàng trai và cô gái hát đối giao duyên, cô gái bao giờ cũng cầm trên tay chiếc nón ba tầm, nó giúp cô giấu khuôn mặt ửng hồng của mình khi chàng trai hát những lời bóng gió xa xôi về mối tình của chàng, thảng hoặc khi cô muốn kín đáo ngắm khuôn mặt bạn tình của mình mà không muốn để cho chàng biết.

“Tà áo dài trong trắng nhẹ nhàng bay
Nón bài thơ e lệ nép trong tay”
(Bích Lan)

Nón chính là một trong những biểu tượng của Việt Nam, là đồ vật truyền thống và phổ biến trên khắp mọi miền đất nước. Nếu ở một nơi xa xôi nào đó không phải trên đất Việt Nam, bạn bỗng thấy chiếc nón bằng lá hình mũ nhọn thì đó chính là tín hiệu Việt Nam.

Nón lá từ Bắc Trung Nam...

Người ta cho rằng chiếc nón Bắc xuất hiện ở phố cổ Hà Nội cách đây 500 năm. Nón Bắc bấy giờ sản xuất ở làng quê với cái tên là làng Chuông, Thanh Oai tỉnh Hà Tây. Rồi chiếc nón làng Chuông được đem ra bán cho người Hà Hội. Tại phố cổ Hà Nội, nơi phố phường chật hẹp, người đông đúc, có khoảng 100 con đường nhỏ gọi là Phố, với bao ngõ ngách chằng chịt. Nhà mặt tiền dành buôn bán, hẹp thắp và tối phát triển theo chiều sâu, được ngăn làm nơi ăn ở sanh hoạt gia đình, vừa buôn bán.

< Tác phẩm trên bãi biển.

Nón Bắc làng Chuông là mặt hàng đặc trưng ở Bắc lúc bấy giờ, bày bán ở phố Hàng Nón, cùng với phố Hàng Ðiếu, hàng Ðồng, Hàng Ðào, Hàng Buồm, Hàng Giầy, Hàng Chiếu, Hàng Than,... làm nên Hà Nội 36 phố phường.

Nón làng Chuông mang tính lịch sử, ngày nay được người Hà Nội làm sống lại trong các lễ hội, được nhắc tới như là chiếc nón tiêu biểu cho Hà Hội.

Tới chiếc cái nón Nghệ: rộng trên 80cm, sâu 10cm, đan bằng những sợi tre chuốt nhỏ, to và nặng, có đôi quai thao dài 1m50 làm bằng 8 sợi tơ, hai đầu có một quả găng...

Quai thao xưa nổi tiếng thời thế kỷ 17, được làm ra ở làng Triều Khúc, Thanh Trì, còn gọi là làng Ðơ Thao. Làng Ðơ Thao là làng nghề làm quai nón nổi tiếng ngày xưa, có thờ tượng tổ sư của nghề dệt quai thao, tới nay còn được dân làng tự hào.

Cái nón từ lúc xuất hiện, đi liền với đôi quai được làm bằng dây, mây, vải,... vừa để giữ chiếc nón, vừa để điểm tô cho người đội thêm duyên, thêm dáng, thêm sang trọng và quí phái theo cái nhìn thẩm mỹ bấy giờ.

-“Nón em nón bạc quai thao,
Thì em mới dám trao chàng cầm tay.”
-“Tròng trành như nón không quai,
Như thuyền không lái như ai không chồng!”
(Ca dao)

Theo bước chân Nam tiến, chiếc nón vào xứ đàng Trong với tên gọi như nón Huế, nón bài thơ, nón Bình Ðịnh...
Chiếc nón giờ đây có dáng vẻ nhẹ nhàng, mang theo trong nó cái “duyên ngầm” của người con gái Huế đội “nón nghiêng che” lãng mạn.
Chiếc nón Triều Sơn huyện Hương Trà, nón Gò Găng, nón bài thơ... lộng bên trong bài thơ, hình ảnh cầu Tràng Tiền, chùa Linh Mụ, núi Ngự, sông Hương:

“Con sông dùng dằng, con sông không chảy,
Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu.”
(Câu hò Huế)

< Nghệ thuật cùng nón lá.

Nón Huế nhìn soi qua ánh nắng mặt trời, trông như là bức tranh thủy mạc, mãi mãi là là cái gì đặc trưng và “rặt Huế” không sao tả hết được!

-“Chợ Dinh bán áo con trai,
Triều Sơn bán nón, Mậu Tài bán kim.”
-“Nón này là nón u mê,
Nón này là nón đi về che chung.”
(Ca dao)

Chiếc nón càng về sau này càng xa rời “nhiệm vụ che nắng che mưa”, trở thành cái để làm duyên của thiếu nữ và cũng được dùng để bày tỏ tình trai gái, tình nghĩa vợ chồng hay ẩn dụ điều gì đó...

-“Nón mới gột nước trời mưa,
Anh ham vợ đẹp thì thưa việc làm.”
-“Trời mưa thì mặc trời mưa,
Chồng tôi đi bừa đã có nón che.”
(Ca dao)

< Nón cũng là tranh cổ động.

Vào đến miền Nam, chiếc nón được gọi nôm na là “nón lá buông”. Nón làm bằng lá buông, với tre, chỉ sợi... vật liệu có sẵn và nhiều ở Trảng Bàng Tây Ninh, Tân Hiệp Mỹ Tho... Chiếc nón lá miền Nam kiểu dáng nhẹ nhàng, rẻ tiền, rất ư là đời thường nên thực dụng, nhưng vẫn giữ cái dáng vẻ “duyên” của người con gái miệt vườn, sông nước!

< Nón lá trong ảnh nghệ thuật trắng đen.

Nón Tây Ninh, Tân Hiệp từ lâu luôn tìm cách đáp ứng nhu cầu và thị hiếu khách hàng nên sản xuất làm 3 hạng nón: hạng nón thường, nón dày, nón lỡ. Việc tổ chức làm nón ở Tây Ninh qui mô, khoa học, sản xuất chia ra ba công đoạn để giảm giá thành, như: làm khung tre, lựa lá và chằm nón.
Khung nón làm bằng tre, loại tre cật Tây Ninh, khung có hình chóp, kích cỡ bằng chiếc nón. Khung và bộ vành với 16 chiếc vòng lớn nhỏ được chuốt nhỏ nhắn, tròn và khéo, cân xứng, nghệ thuật và nhẹ nhàng.

Lá buông có nhiều ở địa phương, là nguyên liệu chánh làm nên cái nón. Lá phải chọn lá già, lá mật cật, đem luộc chín, vuốt thẳng, phơi/sấy và ủ khô sao cho lá còn giữ màu trắng tự nhiên vẫn xanh-trắng mịn màng, không bị ngả màu đen hay vàng. Lá phải cán hay vuốt thẳng, sao cho sau khi lợp, sau khi chằm không bị co bị dúm lại.

< Duyên dáng với nón lá.

Giai đoạn cuối cùng là chằm nón bằng những sợi chỉ trong suốt dọc theo nan tre. Chính giữa hai lớp lá được đặt vào các hoa văn, hoặc câu thơ cắt bằng giấy, có khi là hình cầu Tràng Tiền, núi Ngự, Sông Hương...

Người thợ nón Tây Ninh mỗi ngày làm ra từ 2 đến 4 cái nón tùy theo hàng. Những chiếc nón ra lò ở đây trông “rất Huế” nhưng không phải Huế, do bàn tay những nghệ nhân Tây Ninh khéo léo, bằng những đường kim mũi chỉ sắc sảo.

Du lịch, GO! - Tổng hợp
Với đặc thù có nhiều hòn đảo đá nhô lên từ mặt biển, hang động trong lòng Vườn Quốc gia và Khu dự trữ sinh quyển, Cát Bà ẩn chứa trong mình những hang động kỳ bí và độc đáo, trở thành điểm đến hấp dẫn với du khách, thúc đẩy phát triển du lịch.

Trên đảo Cát Bà hiện có khoảng 20 hang động lớn nhỏ trải dài từ xã Phù Long đến thị trấn Cát Bà và  trên những hòn đảo trong khu vực vịnh Lan Hạ. Động Thiên Long ở xã Phù Long, xã Trân Châu tự hào có động Quân Y, xã Hiền Hào có động Cây Thị, xã Gia Luận có động Hoa Cương…

Theo nhận xét của đa số du khách khi đến Cát Bà, nét độc đáo của hang động nơi đây là những quần thể hang động trải dài khắp đảo, ẩn chứa vẻ đẹp riêng với giá trị thẩm mỹ và địa chất mà thiên nhiên ban tặng.

Được ví như điều kỳ diệu của thiên nhiên, hệ thống hang động ở Cát Bà được hình thành từ những ngọn núi đá vôi, tạo khá nhiều thạch nhũ, chủ yếu là những hang chạy dài và chia ra nhiều ngách chứ không là một hang lớn.

Từ trung tâm thị trấn Cát Bà, khoảng 15 phút đi xe ô- tô, trên trục đường đến Vườn Quốc gia Cát Bà, tại khu vực Khe Sâu xã Trân Châu, du khách dễ dàng nhận ra động Quân Y nằm ngay ven đường, lưng chừng núi. Đây có thể coi là “kiệt tác” của con người tạo nên mà vô hình chung sau này trở thành điểm du lịch thú vị.

Vào thời kháng chiến chống Mỹ, động này được xây dựng và thiết kế làm bệnh viện. Trong lòng động, mô hình một bệnh viện được hình thành với sức chứa hơn 100 thương binh. Ngoài 17 phòng bệnh và các phòng chức năng, trong lòng động còn có bể bơi, bãi chiếu phim và khu tập luyện  thể lực…

Những kỳ công trong xây dựng và thiết kế của con người để lại một trong những điểm tham quan hấp dẫn, thú vị bậc nhất ở Cát Bà. Khi tham quan và tìm hiểu động trở ra chắc nhiều người tự hỏi vì sao ông cha ta có thể tạo ra được một công trình “đặc biệt” đến thế?

Không kém về vẻ đẹp và sự quyến rũ, động Thiên Long (xã Phù Long) được coi là một trong những động đẹp nhất ở Cát Bà với 3 tầng được kết cấu khác nhau. Khu vực giữa động có một ngọn thạch nhũ nhỏ nước quanh năm tạo nên một vũng nước nhỏ mát lạnh.

Hoặc động Cây Thị, trong thời chiến tranh dùng làm nơi tránh bom, đạn, nằm cheo leo trên sườn núi, cách mặt nước biển khoảng 30m. Hay động Hiền Hào cũng có đặc thù khi nó được phát hiện trong thời kỳ phá đá làm đường xuyên đảo nên giữ được vẻ hoang sơ với những tảng thạch nhũ còn nguyên độ sắc cạnh và óng ánh, hấp dẫn du khách khi đến Cát Bà.

Bên cạnh những hang, động tiêu biểu trên, Cát Bà sở hữu một số động có tiềm năng phát triển du lịch như động Gia Luận, Trung Trang, Hoa Cương hay hang Luồn, tạo nên hệ thống thắng cảnh mà không phải nơi nào cũng có được.

Trong những năm gần đây, du lịch hang động ở Cát Bà trở thành sản phẩm thu hút ngày càng đông du khách và các hãng lữ hành tổ chức tua du lịch Vườn quốc gia- hang động Cát Bà để giới thiệu và đưa khách đến.

Hệ thống hang động cùng với các tua du lịch sinh thái, cộng đồng, leo núi ở Việt Hải, Trân Châu, Xuân Đám… đang thiết thực góp phần khắc phục tính mùa vụ của du lịch Cát Bà. Mặt khác, ngoài đa dạng sản phẩm du lịch, “tua” tham quan hang động thật sự là điểm nhấn, khác biệt của du lịch biển, đảo Cát Bà mà du khách rất yêu thích, đặc biệt là khách đến từ các nước phương Tây.

Du lịch hang động cũng là sự bổ trợ cho thương hiệu du lịch Cát Bà cùng với giá trị của khu dự trữ sinh quyển thế giới, Vườn Quốc gia, vịnh Lan Hạ và hệ thống hàng trăm bãi cát trải khắp các vịnh ở Cát Bà.

Du lịch, GO! - Theo Hải Phòng Online, internet

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống