Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Wednesday, 2 May 2012

Cuối xuân, vào mùa lễ hội, về đồng bằng sông Cửu Long, du khách đến Châu Đốc (An Giang) sẽ là một chuyến đi với nhiều khám phá. 

< Đỉnh núi Sam.

Nếu như bạn là một người có tâm nguyện, cầu mong sự tốt lành cho người thân, thì có thể viếng miếu Bà Chùa Xứ,  hoặc Tây An Cổ Tự hay Lăng Thoại Ngọc Hầu. Đó là những di tích với nhiều huyền thoại và truyền thuyết dân gian có từ thời tiền nhân khai mở đất phương Nam.

Một buổi sáng nắng ấm, trời quang, chúng tôi lên đỉnh núi Sam. Từ thị xã Châu Đốc, đi thêm 5km tới một ngã ba dưới chân núi, rẽ trái là đường đi lên đỉnh núi Sam. Con đường nầy có từ thời Pháp thuộc, nơi đây thuở xưa từng là một pháo đài trấn ải vùng “Châu Đốc tân cương” của quan binh nhà Nguyễn.

< Đường vô núi Sam (Châu Đốc) ngày xưa.

Núi Sam còn có các tên gọi khác như Vĩnh Tế Sơn hay Học Lãnh Sơn. Đó là một ngọn núi nhỏ, cao 284 mét, nằm lẻ loi giữa đồng bằng Long Xuyên, thuộc địa phận phường Núi Sam, thị xã Châu Đốc. Từ xa, du khách nhìn thấy núi Sam trông giống một con sam biển… Có giả thuyết cho rằng thuở xa xưa, quanh núi Sam là một vịnh biển, các loài sam quần hội sống nơi đây. Về tên Vĩnh Tế Sơn - là do vua Minh Mạng cho đặt tên núi để ghi công của Thoại Ngọc Hầu (Nguyễn Văn Thoại) đã hoàn thành việc đào kênh Vĩnh Tế (1819-1824).

Văn bia Vĩnh Tế có ghi: “Nơi đây chầm ao, rừng rú mênh mông rậm rạp, cũng là chỗ thổ dân, khách trú, người Lào nương ngụ. Tuy có cảnh đẹp chuyện hay, nhưng cũng vẫn là một nơi rừng sâu, đá loạn, nổng gò mà thôi…". Đó là hình ảnh xa xưa của núi Sam và vùng phụ cận…

Thật thú vị khi bạn đi theo con đường quanh co theo triền núi. Hai bên đường là những vạt rừng tầm vông đều hân hấn như đũa giắt. Có khá nhiều những cây bụi, cây chồi tái sinh rậm rạp. Rừng nguyên sinh hầu như không có ở núi Sam bởi ngọn núi nầy đã bị khai thác từ rất lâu. Có một loài hoa quý phái, gặp rất nhiều ở núi Sam, ấy là hoa ti-gôn. Hoa ti-gôn hồng tươi bò, leo, quấn quýt trên những cây điệp, bằng lăng ổi, bình linh, trâm, mét trông rất đẹp. Thỉnh thoảng có tiếng chim rừng hót “hít… cô… hít… cô...” ngân xa vời vợi khiến khách nhàn du thoáng ngẩn ngơ rồi thích thú lắng nghe.

< Bệ đá từng là nơi pho tượng Bà Chúa Xứ ngự trên đỉnh núi Sam, trước khi được thỉnh xuống núi thờ trong miếu.

Đường lên núi dài chừng 1,5km. Lên đến đỉnh, du khách sẽ được hít thở không khí trong lành, mát mẻ mà quên hết mệt nhọc. Trên đỉnh, còn dấu tích một phiến đá thuộc loại trầm tích sa thạch màu xanh đen bóng, mịn nhuyễn, nơi pho tượng Bà Chúa Xứ ngự trước khi được thỉnh về thờ trong miếu dưới chân núi.

Gần tháp Pháo đài, dựa lưng vào vách núi có một ngôi miếu nhỏ thờ nho sĩ Trương Gia Mô, tự Cúc Nông (1866-1929), ông là một nhân sĩ của phong trào Duy Tân chống Pháp. Ông đã gieo mình xuống vực sâu của núi Sam, kết thúc cuộc đời vào một đêm cuối năm 1929 do bị bế tắc và trầm uất. Miếu thờ có bia tưởng niệm kể về thân thế và sự nghiệp của ông.

< Biệt thự nghỉ mát của bác sĩ Mô.

Ngôi biệt thự của bác sĩ Mô là một kiến trúc đẹp, hài hòa với những đường nét thanh thoát, xinh xắn, tao nhã nằm bên sườn núi. Nhà được xây bằng những viên đá núi hoa cương hình chữ nhật với mái lợp tôn giả ngói đỏ, ở mặt tiền tầng lầu có ban công hình chữ U, bao lơn tầng trệt hình bán nguyệt. Từ dưới lên biệt thự là những bậc tam cấp như cầu thang giữa thiên nhiên phóng khoáng. Toàn cảnh mô phỏng cách điệu mô-tip pháo đài thời trung cổ của châu Âu. Chung quanh nhà nghỉ được bao bọc, che mát bởi nhiều cây phượng cổ thụ, về mua hè hoa nở đỏ rực. Dọc con đường lên núi có nhiều chòi, quán võng bán nước giải khát. Du khách có thể thư thả nằm nghỉ, nghe tiếng lá cây rừng xào xạc, tiếng chim hót âm vang lúc gần, lúc xa. Vào buổi sáng hoặc buổi chiều có khá nhiều tốp trung niên, phụ lão đi lên xuống núi như một bài tập thể dục rèn luyện thể lực và sức khỏe.

Long Sơn Tự là một ngôi chùa đẹp với nhiều tượng Phật, bồ tát uy nghi, tự tại như đang nhìn bao quát thế gian. Thỉnh thoảng tiếng chuông chùa ngân vọng giữa núi rừng hoang sơ, tĩnh mịch khiến lòng khách du lâng lâng như thoát tục.

Mặc dầu núi Sam khá nhỏ bé so với những núi non hùng vĩ ở miền Trung, miền Bắc, nhưng đây là nơi có nhiều di tích lịch sử quốc gia do tính đặc thù của nó, với những dấu ấn của thời mở đất như lăng Thoại Ngọc Hầu, miếu Bà Chúa Xứ, Tây An Cổ Tự…

Nếu có cảm hứng, du khách có thể lai rai ở một quán cóc nào đó ven đường với những món “độc” của vùng núi Sam như bò xào lá giang, gỏi sầu đâu trộn khô cá lóc, canh chua cá ba sa bông điên điển.

Bò xào lá giang là một món ẩm thực độc đáo khá phổ biến, dễ làm và có hương vị rất đặc trưng của miền núi. Cây giang thường mọc trong vườn, đất đồi núi; cũng dễ tìm, nhất là khi trời sa mưa xuống, lá giang phát triển rất tốt. Ðây là một loại dây leo có màu xanh thẫm, không mùi nhưng lại có vị chua ngon ngót, giàu vitamin C và chất xơ. Ở vùng Châu Đốc, Thất Sơn hầu như ai cũng biết cách làm món ăn dân dã này. Cách chế biến khá đơn giản. Thịt bò tươi thái mỏng ướp gia vị xào với nước dừa, lá giang xắt thành sợi nhuyễn độ vài nắm tay. Khi thịt  gần chín thì cho lá giang vào, xào vừa héo là nhắc xuống, thêm ít nước cốt dừa và đậu phộng rang đâm nhỏ rắc lên mặt. Ngửi mùi khói bốc lên thơm lừng và nếu có thêm vài cốc rượu đế hoặc ít ly bia thì tuyệt hảo.

Gỏi sầu đâu (sầu đông, soan) là món ăn lạ miệng, hấp dẫn. Gỏi sầu đâu thường được chế biến từ lá sầu đâu non cùng khô cá tra, cá lóc hoặc khô cá sặt.

Gỏi sầu đâu mới ăn vào thấy nhẩn, đắng nhưng khi nhai, nuốt vào lại cho vị ngọt ngon bất ngờ. Đây là món ăn dân dã, yêu thích của người miền Tây, nhất là các tỉnh cận biên giới Campuchia. Và chắc chắn là nếu du khách về vùng núi Sam, Châu Đốc vào mùa nước nổi, thế nào cũng có dịp thưởng thức món canh chua độc đáo của miền Tây là canh chua cá ba sa nấu với bông điên điển.

Du lịch, GO! - Theo TBKTSG, internet
14h chiều 2/5, rừng Nam Hải Vân (Liên Chiểu, TP Đà Nẵng) bốc cháy ngùn ngụt, đứng cách xa nhiều km vẫn nhìn thấy. 1.000 người được huy động tới dập lửa, Sư đoàn không quân 272 điều máy bay túc trực, sẵn sàng thị sát khu vực cháy ngay trong đêm hoặc sớm mai.

Theo ghi nhận của phóng viên, do thời tiết nóng và khô hanh cùng với gió to lien tục thổi vào nên đám cháy đã lan rất rộng, chỉ còn cách đường Quốc lộ 1A khoảng 1 km. Lửa chiếu sáng cả đoạn đường đèo và phát ra những tiếng nổ lớn làm không ít người đi đường hốt hoảng. Sau đó, lửa cháy lan sang tiểu khu 14 tạo thành một dãy lửa cao 10 m, dài khoảng 3 km, rộng 1 km trên đèo Hải Vân.

Ngay khi nhận tin báo, hơn 500 chiến sĩ công an, kiểm lâm, dân quân cùng hàng trăm xe chữa cháy được huy động đến hiện trường dập lửa. Tuy nhiên, do đám cháy nằm sâu bên trong, cách Quốc lộ 1A khoảng 2 km nên nước không thể tiếp cận được.

Ngay sau khi phát hiện cháy, hơn 500 bộ đội biên phòng, kiểm lâm và dân quân tự vệ của Đà Nẵng được huy động, dùng máy khò lửa, dao rựa phát đường băng chặn đám cháy lây lan trên khu rừng ở độ cao hơn 300 m. Bốn xe cứu hỏa cũng được điều tới hiện trường để tìm phương án chữa cháy bằng nước.

Do đây là khu vực rừng tự nhiên cây tạp và rừng trồng bạch đàn nên nhiều người dân có rừng đã chạy tới hỗ trợ ứng cứu. Tuy nhiên, do đám cháy nằm gần đỉnh đèo rất khó tiếp cận, cộng với thời tiết hanh khô nên việc dập lửa gặp nhiều khó khăn. Người dân phải xuống khu vực thấp hơn để tưới nước nhằm tránh cháy lan.

Đến 18h30, đám cháy vẫn lan nhanh kèm tiếng nổ. Theo nhà chức trách, đó là tiếng nổ đạn pháo còn sót lại từ thời chiến tranh. Khu vực cháy rừng từng là sân bay dã chiến của quân đội Mỹ dùng để dự trữ vũ khí. Có thể trời nắng nóng khiến những quả đạn, bom bị kích nổ và gây hỏa hoạn. Năm 2006 khu rừng này từng cháy do nổ đạn pháo.

Đến 20h, Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng Văn Hữu Chiến đã đến hiện trường chỉ đạo. Nhận định đây là vụ cháy lớn nhất từ trước đến nay tại rừng Nam Hải Vân, ông Chiến đã huy động tất cả lực lượng từ quân đội, công an, dân quân tự vệ đến không quân với con số gần 1.000 người để phối hợp chữa cháy, đồng thời báo cáo Ủy ban quốc gia về tìm kiếm cứu nạn và Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải.

Sư đoàn không quân 272 đã điều động lực lượng và máy bay túc trực, chờ lệnh bay của Bộ Quốc phòng để thị sát khu vực cháy ngay trong đêm hoặc sớm mai nhằm lên phương án cứu chữa cụ thể. Riêng việc dùng máy bay trực thăng để chữa cháy chưa được tính đến.

Lực lượng quân đội được lệnh dùng máy cưa để phát đường băng rộng 2 km, tuy nhiên do địa hình hiểm trở, ngọn lửa cao hơn 20 m cộng với trời tối nên chưa thể thực hiện. Hàng chục xe cứu hỏa được điều đến hiện trường, sẵn sàng ứng cứu trong trường hợp đám cháy lan xuống ven đường đèo Hải Vân trong đêm.

Theo nhận định của lực lượng cứu hộ, khó có thể dập tắt đám cháy trong đêm do địa hình tiếp cận ngọn lửa quá hiểm trở, lại cao tới 540 m so với mực nước biển. Ước tính 50 ha rừng đã bị lửa thiêu. Kiểm lâm Đà Nẵng đã liên hệ với Kiểm lâm Thừa Thiên Huế phối hợp chữa cháy.

Trước đó chiều 30/4, rừng thông của Công ty Lâm nghiệp Phong Điền (thị trấn Phong Điền, Thừa Thiên Huế) đã bốc lửa cao 15-20 m. Sau 3 giờ, ngọn lửa đã thiêu rụi hơn 3 ha rừng. Nguyên nhân ban đầu được xác định là nổ bom lân tinh.

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ VnExpress, Datviet
Xuân Sơn (thuộc huyện Thanh Sơn, Phú Thọ) là một địa điểm có nhiều tiềm năng du lịch của đất Tổ Phú Thọ. Ðến với Xuân Sơn, du khách không thể không đến hang Lạng, một kỳ tích thiên nhiên làm say đắm lòng người.

Hang Lạng ăn sâu trong lòng núi Ten, cửa vào hang nhìn thẳng ra cánh đồng Mường Lạng. Hang Lạng là hang lớn nhất, dài nhất trong số hang động thạch nhũ ở Xuân Sơn. Vòm hang Lạng có chỗ cao đến mười lăm, hai mươi mét và chiều rộng cũng cỡ khoảng như vậy. Hang chạy dài, dọc dãy núi đá vôi. Người ta thả quả bưởi có đánh dấu vào hang lúc sáng thì chiều tối đã thấy nó ở suối Lấp, cùng dãy núi nhưng cách chỗ thả chừng khoảng 20km.

Chạy dọc đáy hang là một con suối lớn. Những chỗ hang phình ra, nền hang trải đều một lớp đá củ đậu, cát vàng và đất sét.

Nhiều chỗ thạch nhũ buông xuống, qua hàng triệu triệu năm đã tạo nên muôn hình ngàn dạng như ngàn vạn toà thờ Phật, thờ thần. Lại có nhiều trụ cột, được thiên nhiên đắp, vẽ, điểm tô, chống từ đáy hang lên vòm trần như các cột nối từ cõi âm ti lên đỉnh thiên đàng.

Các phiến thạch nhũ tạo cho hang động đẹp một cách huyền bí, tâm linh. Ở các pho tượng, nhũ đá vừa giống như ma quỷ, vừa như thần linh, nhô lên giữa dòng suối long lanh trong ánh đèn, ánh đuốc. Nhũ đá ở đây không sỉn thành một màu xám như nhiều hang động núi đá vôi, mà sáng trắng và nhiều chỗ lấp lánh muôn hồng ngàn tía rất kỳ lạ.

Hang Lạng rộng và dài đủ cho hàng ngàn người cùng vào chiêm ngưỡng. Cách cửa hang vài giờ đi bộ, đáy hang trở thành suối sâu đến 2 mét nước. Từ đây, người ta có thể tiếp tục soi đuốc, ngồi mảng để thăm thú về sự kỳ diệu của thiên nhiên, đã tạo dựng nên một kỳ quan để cho con người vui chơi giải trí. Suối nước trong hang có khá nhiều cá măng, cá ngạnh nặng cỡ dăm bảy ký. Loài dơi màu đen đậu nhan nhản trên trần hang.

Ngày xưa, cứ vào mồng bốn tết hàng năm, sau khi cúng cấm (cúng vị thần hang cho phép vào cửa), người dân Mường Lạng lại đốt đèn đốt đuốc đưa nhau vào sâu trong hang, chọn bãi rộng để ném còn, hát rang, hát ống, đánh trống đá, đàn đá, những "nhạc cụ" do thiên nhiên tạo ra.

Hang Lạng không những có cảnh đẹp thiên nhiên kỳ bí mà nó còn hấp dẫn du khách bởi những truyền thuyết đầy huyền bí. Từ xa xưa, dân làng Xuân Sơn đã thờ thần hang Lạng. Thần là con rắn hoá thân thành chàng trai tuấn tú vẫn thường đến giúp việc nhà Thổ Lang xóm Lạng. Nhiều hôm chàng giúp nàng Bạch, con gái Thổ Lang cấy lúa trên những thửa ruộng ở đồng Lạng. Chàng nhổ mạ, cấy gặt nhanh hơn hết thảy mọi người. Dần dà, nàng Bạch đem lòng yêu mến chàng.

Một hôm, ăn uống xong, chàng lên giường trùm chăn ngủ. Do ngủ say, vô tình cựa quậy chàng để hở ra ngoài chăn nguyên hình hài một con rắn trắng. Quan Thổ Lang xua đuổi con rắn trắng ra khỏi nhà, nhắc nhở con gái tránh bị rắn hoá thành người lừa lọc cám dỗ. Một hôm, nàng dệt vải, con sợi rơi lăn mãi xuống ao sâu. Nàng ra ao vớt con sợi về thì bị ốm chết.

< Loài cá anh vũ với cái miệng độc đáo chỉ có ở hang Lạng.

Quan Thổ Lang biết con gái mình đã bị rắn bắt đi làm vợ. Dân làng phải đem xác nàng Bạch chôn cao trên đỉnh núi Ten để rắn không lấy được xác nàng đi. Nhưng rồi rắn làm mây mưa tầm tã rạch ngang dọc núi Ten thành sông thành suối để chở xác vợ về hang Lạng sống với mình. Từ đấy, người ta phải cúng rắn thần và nàng Bạch, cầu phù hộ cho mưa gió thuận hoà để có nước cày cấy.

Hang Lạng được coi là Thủy cung của thần bảo hộ xóm Lạng. Sau này, người ta mới dựng đình Lạng để các ngày lễ có nơi cầu tế thần phù hộ cho dân khang vật thịnh. Rắn và nàng Bạch từ lâu đã là Thành hoàng của người Xuân Sơn. Giống như nhiều làng Việt, Thành hoàng đều có đền, miếu yên tĩnh để nghỉ ngơi. Miếu thờ Thành hoàng cũng có ban thờ để các ngày sóc, vọng, ông từ của các làng người Kinh, ông mo của các làng người Mường thắp hương cúng thần. Hàng năm vào các ngày tiệc lớn, người ta mới rước thần từ miếu ra đình để cầu tế. Làm xong lại rước thần về ngự ở miếu cũ.

Hang Lạng cũng như miếu của làng Việt, là nơi thần ở. Thần là loài sống ở dưới nước nên gọi hang Lạng là Thủy cung. Các ngày sóc, vọng (mồng 1, rằm) hàng tháng, ông mo lại vào hang thắp hương cúng thần. Chỉ các ngày tiệc của làng: lễ cầu mùa, lễ mở cửa rừng, ngày kỵ của vợ thần... người ta mới tổ chức tế lễ ở đình Lạng. Lễ cúng thần bao giờ cũng có gạo và trứng. Gạo là sản phẩm của lúa nước, là âm tính thuộc về thế giới của loài rắn sống dưới nước. Còn trứng biểu tượng cho chim ở trên rừng thuộc về dương.

Truyền thuyết thần hang Lạng và tục thờ cũng của người Mường Xuân Sơn phản ánh tư duy thần thoại của tộc người Việt cổ làm lúa nước sống ở vùng Xuân Sơn này. Thần tích này cùng mô típ với thần thoại Lạc Long Quân và Âu Cơ chỉ khác ở chỗ là nó xuất hiện ở thời kỳ hình thái đã phát triển khá cao, có hôn nhân một vợ một chồng, chế độ mẫu hệ đã bàn giao quyền sang cho người đàn ông. Vợ phải sang ở nhà chồng. Ở đây nàng Bạch đã phải sang Thủy cung sống với chồng là con rắn trắng.

Giải mã truyền thuyết Lạc Long Quân - Âu Cơ và thần Lạng, Thành hoàng làng Mường Xuân Sơn chúng ta sẽ thấy được đôi phần xã hội thời đại Hùng Vương, những quan niệm của cư dân Lạc Việt và tinh thần con người thời đại đó đã ăn sâu trong tâm thức cộng đồng người Việt ở tận nơi thâm sơn cùng cốc này. Huyền thoại hang Lạng đã làm cho tâm hồn các thế hệ người dân Xuân Sơn trường tồn trong lịch sử dài dặc của dân tộc Việt. Hãy gìn giữ thần thoại ấy thành di sản văn hoá làm món quà quý báu dâng cho du khách mai này khi Xuân Sơn trở thành vườn cấm quốc gia, một thắng cảnh kỳ thú, một khu du lịch hiếm hoi ở vùng đất Tổ, nơi Vua Hùng dựng nước.

Ngày nay, hang Lạng rộng và dài đủ cho hàng ngàn người cùng vào chiêm ngưỡng. Cách cửa hang vài giờ đi bộ, đáy hang trở thành suối sâu đến 2 mét nước, từ đây, người ta có thể tiếp tục soi đuốc, ngồi mảng để thăm thú về sự kỳ diệu của thiên nhiên, đã tạo dựng nên một kỳ quan để cho con người vui chơi giải trí. Suối nước trong hang có khá nhiều cá măng, cá ngạnh nặng cỡ dăm bảy ký và loài dơi màu đen đậu nhan nhản trên trần hang.

Du lịch, GO! - Theo Tourbalo, internet

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống