Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Saturday, 5 May 2012

Cách thị xã Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng 50 km, xã Đa Mi, huyện Hàm Thuận Bắc được thiên nhiên ban tặng nhiều cảnh quan thơ mộng không khác gì vùng cao nguyên Đà Lạt. 

Nếu ai chưa đến Đa Mi một lần, ắt hẳn không thể hình dung được Đa Mi thơ mộng như thế nào và cả không khí trong lành nữa. Nhưng không khỏi ngạc nhiên hơn, Đa Mi còn có rất nhiều thác lớn nhỏ được người dân ở đây truyền miệng câu nói “Đa Mi đệ nhất thác”.

Xã Đa Mi có lợi thế ở độ cao hàng trăm mét so với mặt nước biển nên không khí ở đây lúc nào cũng mát lạnh. Buổi tối  đắp chăn kín đầu mà vẫn thấy lạnh. Sáng dậy ra đường ai cũng mặc áo ấm. Buổi sáng không khí ban mai trong lành quyện với mùi thơm ngát hương hoa rừng và hoa cà phê làm cho con người thật nhẹ nhõm khác hẳn với những ồn ào nơi phố thị.

Ẩn mình trong cánh rừng Đa Mi bạt ngàn là hai hồ chứa nước lớn vừa sâu lại rộng: hồ Hàm Thuận (2.500ha) và hồ Đa Mi (700ha). Đây là hai hồ thủy điện nằm trên sông La Ngà, chảy qua địa phận huyện Thuận Bắc, cũng là vùng rừng núi còn nét hoang sơ với dân cư thưa thớt. Hồ Hàm Thuận gồm tám đảo nhỏ nổi lên giữa dòng nước bắt nguồn từ sông La Ngà (Đồng Nai). Còn hồ Đa Mi chỉ có nhiệm vụ giữ nước để làm thủy điện. Những con sông nhỏ ở khu vực này khá đặc biệt, tất cả đều chảy theo hình chữ “S”, giống như dáng hình của đất nước. Hơn nữa, nước ở đây trong vắt, xanh màu ngọc bích và có nhiều thác gềnh. Chính sự kết hợp này đã tạo ra những cảnh đẹp đến nao lòng.

Nếu du khách muốn đi tham quan lòng hồ chỉ cần đi bằng xuồng lá của dân đánh cá thì có thể khám phá hồ nước mênh mông đến mấy ngày cũng không thấy chán. Nếu có dịp đến đây, các bạn sẽ thấy hồ nước mênh mông, phẳng lặng, bao bọc chung quanh bởi những dãy núi nhấp nhô với một màu xanh biếc.

Đa Mi là Đạ Mí, theo tiếng đồng bào K’ho, Raglay, Châu Ro... ở mảng Nam Tây Nguyên, Đạ nghĩa là nơi có nước, có sông. Mí là tên riêng. Đồng bào gọi sông La Ngà là Đạ La Ngà. Thời chống pháp, Đa Mi thuộc tỉnh Đồng Nai Thượng – xứ sở của rừng thiêng nước độc, về sau thuộc huyện Di Linh (Lâm Đồng), rồi thuộc Bình Thuận.

Nhưng hấp dẫn hơn cả hồ là chinh phục thác 9 tầng, thác Mây và thác Mưa. Tôi đã có dịp chinh phục thác 9 tầng, thác Mây và thác Mưa quả thật thú vị hơn cả đi lòng hồ. Từ Ủy ban xã Đa Mi muốn lên thác 9 tầng phải đi bộ, con đường tới thác 9 tầng dài 7 km tính từ đường lộ. Đường dốc đứng toàn đá to như chiếc mũ nhô lên khiến người đi bộ cũng phải đánh võng. Hai bên đường, rừng cây rậm rạp với đủ loài hoa dại tỏa hương ngào ngạt. Thỉnh thoảng, bạn sẽ không thể cầm lòng, bỏ qua một nhánh lan rừng đang sực nức mùi thơm.

Đi cùng tôi là một người bạn dân thành phố gốc mê mẩn với những khu rừng nguyên sinh ở hai bên đường và tưởng tượng như mình đang đi giữa rừng Trường Sơn năm nào.

Mải mê chụp ảnh phong cảnh rừng, chúng tôi đã bỏ xa anh một quãng đường. Sợ bị lạc trong rừng, anh bạn này cắm đầu chạy cho kịp, hôm sau về nhà nằm nguyên ngày vì cơ chân bị giãn. Sau hơn 2 giờ cuốc bộ đường rừng, chúng tôi đến được thác 9 tầng. Người ta gọi thác 9 tầng vì thác này nằm sâu trong rừng cây bạt ngàn, có 9 tầng như ruộng bậc thang.

Thác không cao lắm, đỉnh cao nhất chưa ai đo được nhưng trên đỉnh thác có rất nhiều gỗ quý. Hôm chúng tôi đến, có hơn 10 người khách thành phố HCM đi du lịch Đà Lạt về Phan Thiết, khi qua đây được người dân giới thiệu nên cũng nhập cuộc cùng chúng tôi, mỗi người một việc, người đi kiếm củi nướng cá lóc mua sẵn ngoài hồ Đa Mi, người ngâm bia dưới nước chảy từ thác xuống cho lạnh, vì nước ở đây lạnh gần như nước đá. Khi cá chín, bia cũng vừa lạnh, uống bia ăn cá lóc nướng chấm muối ớt bên dòng nước chảy róc rách thật thơ mộng.

Ngủ một giấc thức dậy và tắm suối, chúng tôi tiếp tục chinh phục thác Mây và thác Mưa. Thác Mây và thác Mưa cách thác 9 tầng khoảng 3 cây số. Hai thác này nằm kề nhau và hùng vĩ hơn thác 9 tầng.

Từ độ cao đổ xuống, đứng cách xa cả chục mét mà nước cứ bắn lên như mưa, chính vì vậy có tên thác Mưa. Thác Mây là do sức nước đổ từ trên cao xuống và tung lên nhìn như từng dải mây trời nên người ta gọi thác Mây. 2 thác này không có mặt phẳng như thác 9 tầng nên người ta chỉ đến tham quan chứ không ở lại lâu. Chính vì thế nó còn rất hoang sơ và thơ mộng.

Với những gì thiên nhiên đã ban tặng cho Đa Mi hi vọng trong tương lai không xa, Đa Mi sẽ trở thành điểm du lịch hấp dẫn cho du khách thăm đến thăm quan, nghỉ dưỡng.

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ báo Binhthuan, Mytour và nhiều nguồn khác

Ah…thập tự chinh !!Nghe cái tên có vẻ quen quen nhỉ. Tôi cam đoan rằng nhiều người đã từng loáng thoáng nghe đến cụm từ nay khi xem một số bộ phim như Robin Hood, Heaven, the last Templier. Nếu như các bạn chưa xem thì tôi khuyên các bạn nên xem ít nhất một lần để có được sự hiểu khái quát về giai đoạn lịch sử rất biến động tại Châu Âu và Trung Đông ở thời kỳ trung cổ. Nó có ảnh hưởng rất sâu sắc đến mối quan hệ phức tạp giữa phương Tây và thế giới hồi giáo, đến tận bây giờ. (theo link này để hiểu thêm  : thập tự chinh)

Về mặt vị trí địa lý, nếu người Châu Âu đi đường bộ đến vùng đất thánh Israel để tấn công người Hồi giáo thì chắc chắn phải đi qua lãnh thổ Syria trước. Vì thế, Syria đóng một vai trò rất quan trọng trong việc tiếp tế lương thực cũng như làm cổng sau cho quân đội Thiên chúa giáo. Dọc theo đường đi của quân Châu Âu, người ta  cho xây một loạt các pháo đài kiên cố án ngữ các chốt quan trọng. Hồi ấy thì phải có đến vài chục cái, còn ngày nay thì chỉ còn vài cái. Muốn đến những lâu đài này cũng khó ra phết vì hầu như không có tour du lịch trọn gói nào được tổ chức, phải tự tìm tòi mua vé xe bus địa phương mà mò đến.  

Nếu nhìn tổng quan thì có thể nhận thấy rằng tất cả các pháo đài đều mang đậm nét kiến trúc Pháp.Tại sao vậy ? Vì 80% thành phần quân đội Châu Âu sang Trung Đông đều bắt nguồn từ Pháp và tất cả các vị trí chủ chốt trong bộ máy thống trị các lãnh thổ Thiên chúa giáo đều gốc Pháp. Vì thế, chẳng có lý do gì mà  người Pháp lại không bắt bọn culi địa phương xây dựng thành trì theo đúng kiểu gôtích của họ. Đi dọc theo con đường các pháo đài thập tự chinh, tôi có cảm giác như đang sống lại những giây phút hồi hộp của các cuộc chiến đẫm máu thế kỷ XI.

Pháo đài Alep
Nằm rất gần biên giới giữa Syria và Thổ Nhĩ Kỳ, Alep được coi là cửa khẩu và cũng là mắt xích đầu tiên trong chuỗi hơn 20 pháo đài phòng thủ dọc theo đất nước Syria. Được xây dựng vào thế kỷ XII, pháo đài Alep giữ được vẻ nguyên trạng của nó vì chưa bao giờ phải chịu một cuộc tấn công tàn khốc nào. Điểm nổi bật của nó là chiếc cầu xây theo kiểu “ruộng bậc thang”, góp phần vào hệ thống phòng thủ rất kiên cố. Điều đáng nói ở đây là Alep không được xây bởi người Châu Âu mà là bởi người Hồi giáo và được coi là ví dụ điển hình nhất của nghệ thuật kiến trúc quân sự Hồi giáo tại Trung Đông. Bởi sự kiên cố vốn có, khi Alep rơi vào tay người Thiên chúa giáo, họ không nỡ phá hủy và đã sử dụng lại nó. 


 Pháo đài Saladin
Pháo đài Saladin tọa lạc giữa một rừng thông. Nhìn từ xa, pháo đài trông thật đồ sộ và thực sự là một hệ thống phòng thủ kiên cố. Khi đến gần mới thấy nó đồ sộ như thế nào và thật khó có thể tưởng  tượng làm sao người ta có thể xây được những chiến hào và bức tường như vậy trong một khu vực đồng không mông quạnh và thậm chí còn không đủ nước để mà sống. 


 Krak des Chevaliers
 được cho như là công trình kiến trúc quân sự duy nhất ở Trung Đông vẫn giữ được nguyên vẹn sau hơn 1000 năm. Pháo đài được xây trên một vị trí chiến lược, nằm trọn trong một thung lũng hiểm trở nên rất dễ phòng thủ. Pháo đài có thể chứa được 2000 quân và đủ lương thực để cầm cự trong vòng 5 năm. Đó là lý do vì sao quân Thiên chúa giáo có thể cầm cự được vài trăm năm chỉ với vài nghìn người trong khi quân Hồi giáo đông hơn đến vài chục nghìn người 


 Pháo đài Massyaf
Cũng giống như pháo đài Saladin và Krak des Chevaliers, pháo đài Massyaf được xây trên một mỏm đá để có tầm nhìn bao quát rộng và cũng chỉ cách các pháo đài khác khoảng 50km đổ lại nên rất thuận lợi cho việc hỗ trợ giữa các pháo đài. Điểm khác biệt so với các pháo đài khác chính là quá khứ lịch sử của nó bởi pháo đài Massyaf không phải do người Châu Âu nắm giữ mà lại được cho một nhánh của đạo hồi có tên là Nizarit “mượn”. Nhóm Nizarit tạo thành một băng đảng riêng và chuyên đào tạo các tay sát thủ đi ám sát thuê và các đối tượng ám sát của chúng thường là các lãnh đạo quân sự. Với mục đích sống vì tiền, chúng sẵn sàng đánh thuê cho bất cứ bên nào, thiên chúa giáo hay hồi giáo, đánh tuốt miễn là tiền nhiều. Khu vực do pháo đài Massyaf thống lĩnh vì thế có biệt danh là Assasin, có nghĩa là “sát thủ”. Trong trò chơi điện tử Play Station 3 hoặc Xbox cũng có tên là Assasin luôn. Đồng chí nào mà thích tìm hiểu về giai đoạn lịch sử thì có thể chơi thử trò đó.   
Các khung cảnh của thời kỳ các sát thủ Assasin được tái hiện khá sống động trong trò chơi điện tử cùng tên




Friday, 4 May 2012

Cá chuồn là món phổ biến trong bữa ăn hằng ngày của người dân xứ Quảng độ hè về. 
Và đã là người Núi Thành thì không ai không biết món cá chuồn xanh nướng, cuốn rau sống chấm nước mắm ớt, vừa ăn vừa hít hà trong chiều tà bãi Rạng.

Cá chuồn tập trung chủ yếu ở vùng biển Nam Trung Bộ mà nhiều nhất là vùng biển Quảng Nam. Cá có dáng thon dài, lưng xanh, bụng trắng.

Điều dễ phân biệt nó với các loại cá biển khác là cặp cánh dài tận đuôi. Nhờ vậy, nó có thể bay, tuy không cao. Nếu được ra khơi cùng với những đoàn tàu đánh cá, bạn sẽ có dịp chứng kiến cảnh cá chuồn từng bầy bay là đà, như đám mây vờn trên mặt biển xanh rờn, chập chờn sóng vỗ.

Tầm tháng ba đến tháng năm âm lịch, nếu bạn có dịp về biển Rạng (Núi Thành - Quảng Nam) giữa mùa rộ cá chuồn gành, chuồn lộng, chuồn khơi, chuồn cồ, chuồn xanh… bạn sẽ được thưởng thức hương vị thơm ngon và không khỏi ngạc nhiên với những món ăn được người dân địa phương chế biến từ loại cá biển này.

Cá chuồn chế biến được nhiều món ngon: cá chuồn áp nén chiên giòn, cá chuồn nấu canh với rau ranh, rau muống, nấu cháo gạo, kho, luộc…Nếu là khách phương xa, bạn sẽ được người dân đãi món cá chuồn nướng. Món ăn dân dã này đơn giản, rẻ tiền nhưng hương vị rất khó quên.

Khi nào khách gọi cá mới được đưa lên bếp than nướng
Các loại cá chuồn đều có thể chế biến món nướng, nhưng được “đánh giá" cao nhất là cá chuồn xanh tươi được ngư dân đánh bắt trong đêm, sáng vào bờ bán lại cho những hộ kinh doanh ở bãi biển để nướng phục vụ khách.

Cá chuồn xanh nướng ở ngay bãi biển chỉ cần đánh sạch vảy, làm mang, sau đó quạt than đỏ đặt cá lên vỉ nướng khoảng 30 phút đem ra vừa thổi vừa ăn. Cá chuồn xanh nướng có mùi vị đặc trưng không thể lẫn với bất kỳ loại cá nào. Khi ăn cá chuồn xanh nướng cũng không cầu kỳ, cứ cầm hẳn trên tay, bẻ đôi chấm vào nước mắm nguyên chất hoặc muối sống ớt xanh thì không gì thú vị bằng, vừa ăn vừa xuýt xoa, mằn mặn đầu môi vị muối của đại dương…

Có thực khách đem cá nhúng vào nước biển rồi nướng trên bếp than hồng và thưởng thức hương vị ngọt của cá, vị mặn của nước biển thấm vào mà khen lấy khen để. Nhưng sẽ tuyệt vời hơn nếu cá chuồn nướng quấn trong bánh tráng lề (bánh tráng cuốn) kèm rau sống, chấm nước mắm ớt.

Lạ một điều, riêng loại cá chuồn lại ưa củ nén đến kỳ, dù chế biến dưới hình thức nào, từ chiên, kho đến nướng cũng không thể thiếu loại củ này. Vì thế, khi thấy cá chín vàng ươm, người nướng cá sẽ rưới một vài muỗng dầu ăn có phi củ nén, rồi nướng lại khoảng 5 phút để mùi củ nén bám vào cá đánh tan mùi tanh, tạo nên vị bùi của thịt cá chuồn tươi pha lẫn với mùi nén thơm lựng.

Món các chuồn nướng ăn cùng rau sống, chấm mắm ớt, ngon tuyệt!
Nói không ngoa, nhưng quả thật mùi của cá chuồn xanh nướng thấm dầu phi nén có sức lan tỏa và quyến rũ “kinh khủng”. Những ngày hè nắng nóng, chỉ cần chạy xe trên đường dọc bãi Rạng bạn đã nghe mùi cá chuồn nướng từ các lều, quán bãi biển…chỉ lối ra biển không sợ đi lạc.

Cá chuồn xanh thường đắt hơn các loại cá chuồng khơi, chuồn ốc mít, cánh gián…và không cân ký bán mà chỉ bán con. Mỗi con cá chuồn tùy thời điểm, tùy lớn bé, có giá 10.000 đồng/1 con hay 15.000 đồng/2 con. Khi nhà hàng, các chủ kinh doanh dịch vụ ăn uống ở bãi biển Rạng nướng bán lại thì mỗi con có giá 15.000 đồng.

Nếu khách đến bãi Rạng là dân bản địa thì sẽ rất dễ dàng “nhận diện” được đâu là cá chuồn xanh: nó thường dài chỉ khoảng 20 cm (ngắn hơn cá chuồn cồ), bề ngang to hơn cá chuồn khơi, dài hơn cá chuồn ốc mít và điểm khác biệt rõ rệt nhất chính là ở màu da xanh đặc trưng như chính tên gọi của nó.

Nếu là khách phương xa, để không bị “chém”, bị chủ quán “treo đầu cá chuồn ốc mít tính tiền cá chuồn xanh”, bạn nên đề nghị được xem và chọn cá ở thùng trước khi nướng để được thưởng thức đúng loại cá chuồn xanh. Và khi ăn, vị cá chuồn xanh cũng rất riêng, thịt không khô như cá chuồn cồ mà mềm, bùi và có vị ngọt ngọt.

Mùa hè về, nắng nóng kéo dài, bãi Rạng chiều nào cũng tấp nập khách đến tắm biển và thưởng thức cá chuồn xanh nướng. Ra về rồi mà mùi mỡ cá chảy trên lửa than hồng, mùi nén cháy vẫn cứ thoang thoảng theo làn khói như nhắn gửi du khách lời hẹn sớm gặp lại.

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ TTP, báo Quảng Nam

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống