Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Friday, 18 May 2012

Sự đe dọa của loài hổ đã khiến nhiều ngôi làng, đặc biệt là ở vùng núi Bắc Kỳ, biến thành các thành lũy với hàng rào cao và tháp canh luôn có người túc trực vào ban đêm…  

Trong cuốn sách Trên đường Cái Quan (Sur la Route Mandarine) được xuất bản vào năm 1925, tác giả Pháp Roland Dorgelès đã nói về nỗi khiếp sợ loài hổ của người dân Đông Dương, cũng như những câu chuyện diễn ra phía sau các buổi đi săn của giới thượng lưu.

Theo cuốn sách này, rất nhiều người đã bị chết dưới nanh vuốt hổ, đó là một thực tế. Loài vật này chính là kẻ thù số một của những nhân viên chuyển phát bưu điện, những người thường xuyên phải di chuyển những chặng đường dài qua các vùng rừng núi hẻo lánh.

Sự đe dọa của loài hổ đã khiến nhiều ngôi làng, đặc biệt là ở vùng núi Bắc Kỳ, biến thành các thành lũy với hàng rào cao và tháp canh luôn có người túc trực vào ban đêm.

Loài hổ thường săn mồi trong rừng. Nhưng cũng không hiếm trường hợp, đặc biệt là khi đói, chúng mạo hiểm xâm nhập vào các làng bản của con người để tìm kiếm thức ăn - là gia súc nhưng cũng có thể là con người. Chúng đã trở thành một mối nguy hiểm, một loài quái vật mà con người phải chống chọi…

Theo ước tính, vào đầu thế kỷ 20 có khoảng 80.000 con hổ tại thuộc địa Đông Dương của pháp. Người An Nam gọi loài hổ là “ông hổ” hoặc “ông cọp” vì họ có một nỗi sợ hãi mang tính mê tín dị đoan. Họ thờ cúng và quỳ lạy trước loài hổ với niềm tin rằng sự kính trọng của mình sẽ khiến loài vật này giảm bớt những cuộc tấn công vào con người.

Dưới đây là một số doạn trích từ cuốn Trên đường Cái Quan:

Ở Đông Dương có rất nhiều hổ, có lẽ là cũng nhiều như lợn rừng ở nước Pháp vật. Nhưng thật sự thì không phải ai cũng có thể bắt gặp được chúng một cách trực tiếp nếu không phải là những người thường xuyên đi rừng. Trường hợp một con hổ nhảy lên nóc xe ô tô của một quý bà tại Đà Lạt trên một con đường cách đây ít lâu có lẽ chỉ lã một trường hợp hi hữu.

Những tiếng gầm của loài hổ vang ra từ các khu rừng là điều mà bạn có thể bắt gặp nhiều hơn. Và chỉ cần như vậy, chúng cũng đã để lại một ấn tượng thật khủng khiếp.

Khi đi qua bất cứ một ngôi làng nào ở gần rừng, bạn cũng có thể được nghe người dân kể về các vụ mất tích của một chú chó, một con lợn, một con ngựa, một con trâu, thậm chí là cả một người bản địa mà thủ phạm không ai khác ngoài “ông cọp”.

Theo người dân bản địa, các ông cọp không thường xuyên xâm nhập vào các nơi đông dân cư. Chúng chỉ làm điều này khi đã già, cơ bắp đã quá yếu để có thể săn hươu. Khi đó, các loài vật nuôi chậm chạp và cả con người trở thành các con mồi lý tưởng. Kể cả khi đã già yếu như vậy, sức mạnh của chúng vẫn đủ làm con người kinh hãi”.

Tuy vậy, với sự hiện diện của người Pháp cùng các loại vũ khí tối tân, loài hổ đã được giao một vai trò tích cực: trở thành đối tượng trong các buổi săn bắn của giới thượng lưu Pháp.

Dưới đây là một số đoạn nói về hoạt động săn bắn hổ của người Pháp trong cuốn Trên đường Cái Quan.

Không có gì thú vị hơn một cuộc săn bắn mạo hiểm. Chỉ cần có thật nhiều tiền và một khẩu súng, bạn có hổ.

…Người bảo vệ rừng sẽ kiểm tra súng và kỹ năng tác xạ của bạn, cũng như tư vấn cho bạn về cách ăn mặc phù hợp, loại giày nào cần dùng để đi trong rừng.
Khi tất cả đã sẵn sàng, chuyền hành trình sẽ bắt đầu. Rừng rậm um tùm, các vách núi cheo leo là điều mà bạn sẽ phải trải qua.

Chẳng bao lâu bạn thân thể bạn được bao quanh bởi một đám muỗi. Chúng cắn vào mặt, chân, tay, vào khắp mọi nơi, thậm chí là căn xuyên qua cả quần áo của bạn. Bạn sẽ liên tục lắc đầu, chà xát vào những chố ngứa ngáy. Một cái tát đầy bạo lực sẽ để lại vệt máu trong con muỗi béo mọng.

Người dẫn đường sẽ gõ nhẹ vào vai để nhắc bạn không được gây tiếng ồn. Tất nhiên, bạn chỉ có một trong hai lựa chọn: đập muỗi hoặc là săn hổ.

Bạn sẽ có rất nhiều thời gian để suy nghĩ trong rừng. Nhưng luồng suy nghĩ ấy có thể bị cắt ngang bất cứ lúc nào. Đó là khi người dẫn đường ra dấu hiệu cảnh báo. Bạn không nghe thấy gì, không nhìn thấy gì, quả tim thì đập nhanh hơn một chút, và vũ khí đã sẵn sàng.

Đột nhiên, những bụi cây rung động, và điều mà chúng ta thấy...

Chính là nó! To lớn làm sao! Dường như phát hiện ra điều gì, con hổ quay đầu về phía bạn và bước đến một cách mềm mại và chậm chạp.

Hai tiếng súng đanh gọn vang lên… Và ngày hôm sau, bạn đã có thể vênh vang bên một bộ da hổ tươi nguyên.

Tại Sài Gòn, bộ da hổ này sẽ khiến bạn được mọi người ngưỡng mộ. Nếu đem chúng về Paris, người ta sẽ coi bạn là anh hùng. Đó là những điều mà bạn nhận được khi trở thành một “người giết hổ”.

Với hoạt động săn bắn của người Pháp, mặc dù hổ vẫn còn nhiều ở Đông Dương, nhưng đến cuối thập niên 1920 số lượng của chúng đã giảm nhiều ở Nam Kỳ. Nhưng sự nguy hiểm mà chúng gây ra thì lại tăng lên.

Do các đàn hươu - thức ăn chính của hổ bị tàn sát bừa bãi ở miền Nam mà thức ăn của hổ đã trở nên khan hiếm. Chúng đã rời bỏ các cánh rừng để tấn công vào làng mạc của con người.

Chính quyền địa phương ghi nhận đã có trường hợp cả một gia đình bị hổ ăn thịt. Người dân chỉ phản ứng thụ động và yếu ớt trước sự tấn công của loài vật mà họ tôn thờ. Các loại vũ khí thô sơ tỏ ra vô hiệu. Bẫy sập được đánh giá là rất hiệu quả nhưng rất hiếm khi được dùng vì người dân quan niệm rằng linh hồn của những “ông cọp” bị chết sau khi dính bẫy sẽ ám họ.

Như vậy, người dân bản địa đã trở thành nạn nhân gián tiếp của thói quen săn bắn, tiệc tùng vô tội vạ của người Pháp.

"Cọp Khánh Hòa, ma Bình Thuận" hay "hùm tha sấu bắt" là nỗi hãi hùng của người Việt trên đường Nam Tiến. Sợ thì có sợ, nhưng phải đối phó. Sơn Nam (1926- 2008) đã ghi lại nhiều chứng cớ về cọp ở Nam Bộ: Hồi thế kỷ 17 và 18, Gia Định thành Thống chí (của Trịnh Hoài Đức 1725-1825) ghi rằng: trẻ con, đàn bà cầm liềm cắt cỏ, cầm đòn xóc cũng chống cự và đuổi được cọp. Thái độ của người dân đối với cọp vừa kính nể, xem như vị thần, nhưng cũng coi thường, nếu cần thì rủ nhau đi săn bắn giết không nương tay.

Sơn Nam còn kể lại những thế võ đánh cọp như sau :

Người từng đánh cọp nắm được quy luật cọp quỳ chân sau, chống chân trước là đang chờ đợi ; trước khi vồ mồi, cọp chạy theo thế bò sát rồi phóng tới. Đuôi cọp phe phẩy hoặc để ở phía nào cũng là chỉ dẫn để ta đoán trước hướng tấn công. Người đánh cọp thường dùng cây roi nặng, cứng, chắc. Có chuyện khó tin kể rằng võ sĩ cao cường có thể đánh cọp bằng tay không. Khi cọp nhảy tới, võ sĩ hụp xuống, nắm hai chân trước của cọp rồi dùng đầu mà đội lên, miệng cọp không hả ra được, nanh cọp trở thành vô hiệu.

Nhưng theo sự tổng kết có thể tin được, trước khi giết cọp, phải đánh nhừ tử vài hiệp cho nó mệt. Nhiều con cọp, từng đánh nhau với người nên khôn ngoan, dùng thế hiểm độc là nằm ngửa bụng lên, nhìn đối thủ qua hai chân trước và hai chân sau. Với thư thế ấy, cọp dưỡng sức chờ thời cơ. Ai nôn nống sốc tới đánh, cọp sẽ chụp roi, giữ chặt, người mạnh khỏe cũng không tài nào dằng ra nổi, cọp thừa cơ mà vồ trong nháy mắt. Buông roi để chạy thì càng mau chết. Miếng võ ấy của cọp gọi là thế "trâu giằn".

Lúc mới khẩn hoang, thầy võ đánh cọp không nhiều, thông thường là đồng bào đứng lên tự vệ ; trong gia đình, ở láng giềng, dù có cọp tới lui, giết người, đồng bào vẫn bám đất kiên trì.

Sơn Nam mô tả tâm lý về cọp « vừa sợ vừa kính nể xem như vị thần, nhưng cũng coi thường » là đúng và tế nhị. Nơi khác, ông bổ sung : vì còn dấu vết mê tín cổ xưa, đồng bào ta ít chịu tổ chức săn cọp ; khi nào gặp những con có nợ máu thì huy động cả xóm đi ví khai hoặc bẫy hầm. Nhà nước khuyến khích giết cọp nhưng hương chức hội tề chỉ làm lấy lệ.

Du lịch, GO! - Theo Datviet, Belle Indochine, Thethao Vanhoa
(Tiếp theo)
Qua dòng La Ngà rồi thì trước mặt là núi Tà Pao. "Tà Pao" là tên đặt theo tiếng của dân tộc K’Ho có nghĩa là “Một giấc mơ đẹp” (“Tà”: đẹp theo nghĩa linh thiêng, “Pao”: giấc mơ) nhưng nếu được viết hoặc phát âm là “Tàmpao” thì có nghĩa là “Suối mơ”. Nơi đây thuộc xã Đồng Kho, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận.

< Trẻ người dân tộc ở La Ngâu.

Trên núi này có tượng Đức Mẹ Tà Pao (tiếng Pháp: Notre Dame de Ta Pao) đúc bằng xi măng trắng cao 3m, đặt trên một bệ vuông cao 2m. Quần thể công trình tượng đài, lễ đài Đức Mẹ Tà Pao hiện đang là một trong những trung tâm hành hương lớn của tín đồ Công giáo Việt Nam. Tượng được cung hiến và khánh thành ngày 8 tháng 12 năm 1959. Sau nhiều biến cố từ 1964 đến năm 1975, tượng bị lãng quên đến năm 1980: giáo dân thuộc vùng kinh tế mới xã Đức Tân và xã Huy Khiêm đã tiến hành tìm kiếm lại tượng Đức Mẹ Tà Pao.

< QL55 đoạn La Ngâu: hai bên là rừng cây xanh mướt.

Năm 1991, nhân dịp lễ hai thánh Tông Đồ thánh Phêrô và thánh Phaolô thì tượng được phục chế lại và khánh thành ngày 30 tháng 7 năm 1991.

Ngày 29 tháng 9 năm 1999, lễ các Tổng lãnh thiên thần, một số giáo dân vùng Phương Lâm và phụ cận, sau đó là các vùng Dốc Mơ, Gia Kiệm, Hố Nai, rồi Sài Gòn... tuôn đổ về vùng giáp ranh giữa Phương Lâm và Tánh Linh với ước muốn được tận mắt chứng kiến hiện tượng lạ như lời kể của ba em học sinh ở Phương Lâm trước đó. Các em cho rằng đã thấy Đức Mẹ hiện ra và bay về phía bên kia núi.

< Còn 14km nữa sẽ đến Đa Mi, lúc này là 1h50 - chạy xe suốt từ sáng sớm hôm nay đến giờ nhưng vẫn không thấy mệt tý nào.

Kể từ đầu năm 2000, nhiều đoàn người đổ xô về núi Tà Pao để hành hương. Từ đó đến nay, nhiều người Công giáo đã tường thuật lại nhiều câu chuyện lạ và ơn lạ xung quanh bức tượng Đức Mẹ Tà Pao (Wikipedia).

< Không phải là đèo nhưng đây là đoạn đường có nhiều dốc, nhiều khúc quanh co. Bọn mình rất thích những cung đường như thế này.

< Nếu không xem bản đồ trước hay chưa bao giờ đi QL này chắc hẳn bạn sẽ thắc mắc với cột cây số và bảng hướng dẫn bên đường ghi: Phan Thiết 75km. Qủa thật là sẽ có một nhánh rẽ từ QL55 đi Đông Giang - QL28 - Phan Thiết.

< Lộ trình của bọn mình sẽ về Mũi Né, Phan thiết nhưng không phài theo lối trên. Vậy nên cứ thẳng tiến, Đa Mi cũng không còn quá xa...

Bọn này dự định lên đồi qua hơn 400 bậc thang để viếng tượng Đức Mẹ nhưng nhìn suốt đoạn QL55 hàng km dưới chân núi toàn là hàng quán, nhà nghỉ, chổ gởi xe... hàng hàng lớp lớp..., vậy là thôi - Mình lại gò lưng trên con ngựa sắt hướng về Đa Mi. Xem vậy chứ lướt gió thêm 3km thôi thì nhìn trước sau vắng hoe, hiếm hoi mới có một bóng xe chạy ngược lại.

< Một vách chống sạt lở, không nhiều vì hai bên không có những vách dựng đứng. Ngày hôm sau đi QL28 về PT mới thấy rất nhiều đoạn đầy đất đá do núi ụp xuống đường, có lẽ nguyên nhân từ cơn bão số 1 đầu tiên.

< Bảng báo sắp đến nhánh rẽ đi Ma Lâm (47km), cũng là đi Phan Thiết. Đường này nhỏ: từ ngoài nhìn vô thấy mặt đường rải đá dăm.

Trời vẫn còn nắng gắt nhưng có lẽ độ cao cũng tăng dần nên nhiệt độ có vẻ dịu bớt dù lúc này chỉ mới gần 2h trưa. Tiếng máy xe đều đều trên đường vắng, không buồn ngủ nhưng lòng cứ nghĩ bâng quơ - La Ngâu trước mặt, nơi này cũng có một nhà máy thủy điện cùng tên đang xây dựng.

< Đến Đa Mi, ngay phía trái ngã 3 là chợ cùng tên - do buổi trưa nên khá vắng. Mình tấp vào chợ rồi sang quán bên đường làm ly cà phê cho tỉnh táo, bà xã thì "tậu" chai nước ngọt, tổng cộng chỉ 13k. Chủ quán đi vắng, vậy nên giữ quán là bạn ông chủ. Anh này nhìn mặt rất ngầu nhưng mình bắt chuyện, hóa ra tính tình anh khá vui vẻ. Nhờ vậy mình cũng biết được thêm rất nhiều điều về nơi đây: những vấn đề từ khi người Kinh lên non khởi nghiệp.


< Có người nói Đa Mi là một thôn của xã La Ngâu, huyện Tánh Linh; lại có người nói Đa Mi là xã vùng cao của huyện Hàm Thuận Bắc. Cả hai đều đúng bởi chỉ có một địa danh duy nhất là Đa Mi nhưng trải dài từ Hàm Thuận Bắc sang Tánh Linh, việc phân định ranh giới hành chính đã có từ trước nên vẫn phải theo, còn thác Đa Mi phần lớn lại nằm trên địa phận huyện Tánh Linh.

< Phè phưỡn một hồi lại sức rồi thì lên xe đi: mình cứ theo đường nhánh để vào hồ Đa Mi.

Địa danh "La Ngâu" nghe hay hay, thật dịu dàng. Bổng mình nhớ về một huyền thoại về kho báu Chăm Pa mà người ta cho rằng nằm dưới thác nước La Ngâu, chuyện như sau:

< Qua một cây cầu bê tông lớn thì mình gặp cái thác này...

Cuối năm 1993, vùng rừng núi La Ngâu, xã La Ngâu giáp với núi Ông tại huyện Tánh Linh, Bình Thuận xuất hiện vài người đàn ông trung niên thường đi xe hơi đời mới lên đây để tổ chức săn bắn. Tiếng là săn bắn nhưng thật họ thăm dò về một kho báu từ nguồn hướng dẫn là một tấm bản đồ bằng da dê xưa...

< Chiếc Win "vạn dặm" của mình đây.

Vì vậy, dù ông này (TNTrung) có trang trại lớn tại xã Tân Thắng, huyện Hàm Tân nhưng núi Ông và địa danh La Ngâu, huyện Tánh Linh mới làm ông chú ý. Ông tin chắc rằng, tấm mật đồ đang nắm giữ sẽ chỉ dẫn và ông ta tìm ra một kho báu của người Champa chôn giấu từ thế kỷ 18 đang hiện hữu đâu đó ở vùng núi rừng hiểm trở nơi đây.

< Đường vào đỗ dốc khá nhiều: vào thì xuống - hồi ra lại hì hục leo lên, may mà nàng Win khá là trâu bò.

Bình Thuận là  miền đất hẹp, nổi tiếng là “eo gió” cực Nam Trung Bộ cho nên bí mật được đồn thổi, lan truyền rất nhanh. Trước những thông tin này, một số nhà chuyên môn đã vào cuộc tra cứu để tìm hiểu đích xác và thật bất ngờ khi phát hiện những lời đồn trên về kho báu đều trùng hợp một cách lý thú với nhiều dữ kiện lịch sử. Cái tên La Ngư (La Ngâu) nhiều lần được nhắc đến như một địa điểm bí ẩn cần được giải mã.

< Cuối cùng thì gặp bảng cấm đường. Hỏi một nhóm công nhân về lối ra ven hồ thì hóa ra là ngõ ngoài kia, vậy là quay xe ra. Tuy nhiên đường quanh co trong này thích thật, bạt ngàn một màu rừng xanh.

< Lối ra hồ Đa Mi đây.

Tháng 5/1994, ông TNTrung tuyên bố đã tìm ra nơi cất giấu kho báu dưới một ngọn thác mà người địa phương gọi là thác Hai hoặc thác Mai thuộc địa bàn xã La Ngâu. Ngay sau đó, ông này đã viết đơn gởi Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận xin phép được khảo sát, thăm dò và khai thác kho báu La Ngâu dưới chân thác Mai.

< Cái sự "truyền thống" trước nay là "vứt xe bừa bãi, bỏ xế đi rong" lại có dịp. Ngay sau đoạn này là con dốc chúi, thôi thì cứ lết thếch bước chân cho an toàn.

Và qua một thời gian dài cho đến nay, kho báu vẫn chưa được sáng tỏ nên huyền thoại kho báu Chăm Pa dưới thác nước La Ngâu vẫn còn nguyên đó, chờ lịch sử sang trang.

< Và đây là hồ Đa Mi, nghe nói người ta còn nuôi cả cá tầm xứ lạnh, một loại cá có giá trị rất cao.

Nhưng thôi, huyền thoại thì vẫn còn là huyền thoại... còn cái thực tế nhất về một kho báu thì mình chắc chắn một điều là nó có thật, hiển hiện trước mắt: đó chính là rừng Tánh Linh, một kho báu khổng lồ không thể tính được bằng giá trị tiền bạc. Chỉ mong sao Bình Thuận vẫn giữ được mãi tài sản vô giá này cho ngàn sau. Đáng tiếc là thi thoảng vẫn nghe được tin "Lâm tặc phá rừng Tánh Linh", "Khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông bị rút ruột”..., tuy không phải của riêng mình nhưng sao nghe lòng vẫn xót...

< Khách sạn... sáu sao dành cho bọn... phượt (he he).

Đường còn dài đăng đẳng, ít xe. Rồi mình chạy ngang đường vào nơi xây dựng thủy điện La Ngâu. Dự án thuỷ điện La Ngâu nằm trên dòng La Ngà có công suất lắp máy dự kiến 46MW, tổng mức đầu tư khoảng 750 tỷ đồng, hình thức đầu tư dự án là BOO...

< Do "khách sạn sáu sao" giá... quá chát (he he) nên mình lại trở ra.

< Tiếng xe lạo xạo trên đường sỏi đá, không si nhê gì. Vậy nhưng chỉ 24h sau: mình xanh trán khi thấy vỏ bánh sau bị tét một đường, lòi cả phèo phổi! Nhưng đó là chuyện sau...

< Phía ngoài có bảng cấm: nhưng dễ gì cấm được đám phượt, cả đám thanh niên địa phương? Nghe nói họ thường vào đây tắm.
Lúc này trời bổng mưa, nặng hạt nữa chứ. Chổ trú chưa tìm ra, áo mưa cũng không kịp bận. May mắn ra ra tới QL thì hết.
< Hướng về Bảo Lộc. Nhưng còn xa vì phải qua đèo Lộc Nam nữa. Khúc này QL55 rộng thênh thang...

< Nhưng chỉ một đoạn ngắn thôi thì còn thế này.

Tại Tánh Linh: nước đã tụ qua các ghềnh thác của núi rừng tích tụ tại hồ rồi tạo ra dòng điện từ thủy điện Hàm Thuận - Đa Mi. Tại đây, dòng nước sông La Ngà vẫn cuồn cuộn chảy. Đứng ở khúc quanh trên suối Đa Mi thuộc địa phận xã La Ngâu, nơi dự án thủy điện La Ngâu sẽ đục núi chuyển nguồn nước sau phát điện này tới nhà máy nằm ven Quốc lộ 55, ta có thể cảm nhận sức mạnh dồn nén của nước.

< Tuy nhiên so với bọn mình và chiếc Win thì đường vẫn rộng lắm vì có mấy ai đi đâu...

Chỉ cần một lối xuyên qua ngọn núi kia hình thành, lượng nước này sẽ tuôn qua tạo thành những cột nước cao hơn 50m, theo như thiết kế cơ sở của nhà máy. Vì thế, lượng điện tạo ra sẽ rất dồi dào trong khi chi phí lại bèo bọt.

< Cỏ lau phất phơ bên vệ đường.

< Đến ngã 3 nhà máy thủy điện Hàm Thuận.

Chính điều này đã thu hút "ông thủy điện" nhảy vào làm dự án với công suất ban đầu 36 MW, sau đó tăng lên 46 MW. Từ đó, Công ty Cổ phần thủy điện La Ngâu được thành lập. Vậy nhưng cũng chính nơi này cũng đã có dự án hồ La Ngà 3 trong Quy hoạch thủy lợi lưu vực sông La Ngà. Đây là một hồ nhân tạo có quy mô lớn, bao trùm vùng dự án thủy điện La Ngâu, đón nguồn nước La Ngà vừa để tích trữ chống hạn, điều tiết lũ lụt hạ du, vừa phát điện.


< Phần cuối của hồ Đa Mi, phía dưới cũng là đường vào nhà máy thủy điện Hàm Thuận.

Theo nghiên cứu thì chỉ 8 năm nữa, khi hàng loạt khu đô thị, khu công nghiệp có diện tích hàng trăm ha lần lượt hình thành thì nhu cầu nước sẽ tăng vọt. Cũng trong khoảng thời gian trên, 4 nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 1, 2, 3, 4 đã hoạt động sẽ đẩy lượng điện sản xuất tại Bình Thuận chiếm 1/4 sản lượng của cả nước. Vì thế, nếu có 46MW tương ứng 204 triệu KWh/năm của thủy điện La Ngâu cũng chỉ là chút nhỏ nhoi (web Tanhlinh.com)…
Vì vậy thủy điện La Ngâu chắc sẽ đến hồi kết là hủy bỏ.

Còn tiếp
Điền Gia Dũng - Du lịch, GO!

Phần 1 - Phần 2 - Phần 3 - Phần 4 - Phần 5 - Phần 6 - Phần 7 - Phần 8 - Phần 9 - Phần 10 - Phần 11 - Phần 12 - Phần 13 - Phần 14 - Phần 15 - Phần 16 - Phần 17 - Phần 18 - Phần 19 - Phần 20 -

Thursday, 17 May 2012

Cách Hà Nội hơn 80 km, với độ cao khoảng 1.000 m so với mực nước biển, thị trấn Tam Ðảo (tỉnh Vĩnh Phúc) là khu nghỉ mát lý tưởng, điểm đến tham quan du lịch của nhiều du khách trong và ngoài nước.

< Tam Đảo trong màn sương.

Về mặt lịch sử, vùng đất Tam Ðảo được người Pháp phát hiện và xây dựng từ những năm đầu thế kỷ 19. Ðến năm 1940, Tam Ðảo đã là một đô thị nhỏ trên núi cao với hàng trăm tòa nhà, biệt thự cao cấp có kiến trúc khác nhau. Đặc trưng của Tam Ðảo là ngàn trùng xanh biếc, mây trắng lững lờ thấp thoáng trên ba ngọn núi cao (Bàn Thạch, Thiên Nhị và Phù Nghĩa) giữa lưng chừng trời. Hợp cảnh Tam Ðảo đã tạo nên một bức màn mây tuyệt đẹp, vừa thơ mộng vừa u tịch, vừa hùng vĩ vừa huyền ảo.

Thời điểm này đang vào mùa nắng nóng nhưng nhiệt độ trung bình ở Tam Đảo luôn giữ mức khoảng 18 độ C. Tiết trời ở đây có chút gì đó giống như Sa Pa, Đà Lạt. Đặc biệt, chỉ trong một ngày, có thể cảm nhận thời điểm của 4 mùa trôi qua. Đến Tam Đảo, du khách sẽ ấn tượng về cảnh đẹp núi mây hòa quyện, khí hậu mát lành, kiến trúc hiện đại và đặc biệt hơn là bạt ngàn màu xanh của su su.

Từ lâu su su trở thành món rau đặc sản của Tam Đảo. Không như Sa Pa hay Đà Lạt, người dân trồng su su không phải để lấy trái mà để lấy ngọn. Đi bất kỳ chỗ nào ở Tam Đảo cũng thấy su su: su su trên sườn núi, su su dưới khe sâu, su su trong những khu vườn, su su bên đường, su su bắc qua rãnh nước. Vì thế, cảm nhận đầu tiên về Tam Đảo thường gắn với hình ảnh màu xanh mơn mởn của những giàn su su.

Ngoài ra, đến Tam Đảo, du khách có thể tham quan những điểm du lịch nổi tiếng như thác Bạc, đền Mẫu Bà Chúa thượng ngàn, đền Đức Thánh Trần, hoặc leo hơn 1.000 bậc lên tháp truyền hình Tam Đảo, đến cổng trời để ngắm toàn cảnh thị trấn và đồng bằng, đến rừng quốc gia Tam Đảo, khu danh thắng Tây Thiên tham quan thưởng ngoạn... Có thể khẳng định, Tam Đảo là một điểm đến lý tưởng bởi nó hài hòa toàn diện về nhiều mặt mà hiếm nơi nào ở Việt Nam có được.

Du lịch, GO! - Theo Thanhnien, internet

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống