Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Sunday, 20 May 2012

Đã đến lúc nhiều vị lãnh đạo ở các tỉnh miền Trung phải ngửa mặt kêu trời: “Chúng tôi quá ân hận, đã sai lầm khi cho xây dựng nhiều dự án thủy điện...” (Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam - Đinh Văn Thu).

< Một đập thủy điện chắn ngang dòng sông Bung. Đây là thủy điện Đăk Mi 4A, nhiều người cho rằng đây là tác nhân chính khiến cho hạ nguồn sông Vu Gia thiếu nước. 

Hàng loạt các di hại - mặt trái của việc xây dựng, khai thác thủy điện như nạn phá rừng, bất ổn tái định cư, xả hồ thủy điện gây ngập lũ hạ du, nứt thân đập đe dọa cả vạn dân (Sông Tranh 2)... liên tục xảy ra nhiều năm nay. Và bây giờ, Quảng Nam, Đà Nẵng đang đối mặt với nạn hạn hán, thiếu nước ngọt sinh hoạt, tưới tiêu, sản xuất công nghiệp, đối mặt với nguy cơ biến đổi hệ sinh thái, sự đa dạng sinh học ở hệ thống sông Vu Gia- Thu Bồn...

Cảnh báo

Khi phát hiện thiết kế xây dựng nhà máy thủy điện ĐắkMi 4 (tại huyện Phước Sơn, Quảng Nam) cắt hoàn toàn dòng ĐắkMi để phát điện, nhưng không trả nước về dòng cũ, từ đầu năm 2009, UBND TP.Đà Nẵng đã liên tục gửi công văn khiếu nại lên Bộ NN&PTNT, Bộ Công Thương, Chính phủ để “đòi” ĐắkMi 4 trả nước về dòng cũ. Theo chính quyền Đà Nẵng và các chuyên gia về thủy lợi, sông ĐắkMi chiếm 1/3 lưu vực dòng Vu Gia, nhưng chiếm 50% lưu lượng nước của hệ thống sông chính này. Nếu thủy điện ĐắkMi 4 không trả về dòng cũ sau khi cắt nước ở thượng nguồn phát điện, sẽ gây cạn kiện hạ lưu, ảnh hưởng nội thủy TP.Đà Nẵng. Ngoài những hệ lụy về môi sinh, môi trường, gần 1,7 triệu người dân vùng hạ lưu sẽ ảnh hưởng trực tiếp.

Đây là vụ tranh chấp nguồn nước đầu tiên ở VN, nhưng diễn biến phức tạp và kéo dài. Những nỗ lực quyết liệt của Đà Nẵng liên tiếp không được đáp ứng từ phía nhà đầu tư thủy điện ĐắkMi 4 - Tổng Cty Đầu tư phát triển đô thị và khu công nghiệp VN (IDICO) cũng như các bộ, ngành trung ương. Đầu năm 2010, Chính phủ mới có kết luận buộc IDICO xây dựng cống (ở thân đập chính), trả nước về dòng cũ với lưu lượng 8m3/s. Kết quả này không được Đà Nẵng chấp thuận và Bộ TNMT đã phải vào cuộc, làm trọng tài từ đầu tháng 4.2010.

Sau khi xem xét, tính toán cân bằng nước, Bộ TNMT đã tham mưu Chính phủ, buộc IDICO phải xây dựng cống lớn hơn, tăng lưu lượng nước trả về dòng cũ là 25m3/s. Theo tinh thần này, Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải chỉ đạo (tại công văn 2840/VPCP-KTN), buộc ĐắkMi 4 phải trả về dòng cũ ít nhất 25m3/s, tương đương với lưu lượng mùa kiệt tại dòng sông ĐắkMi. Nhưng thỏa thuận này chỉ nằm trên văn bản...

Đối mặt

Trước nguy cơ sẽ xảy ra thảm họa khi thủy điện ĐắkMi 4 cắt hẳn dòng ở thượng lưu để phát điện mà không trả lại dòng cũ, chính quyền Đà Nẵng không chỉ cảnh báo, khiếu nại mà còn tranh chấp quyết liệt đến tận cùng. Nhiều chuyên gia thủy lợi, khí tượng thủy văn, môi trường đã dày công nghiên cứu, để đi đến việc tham mưu chính xác cho Chính phủ.

< Sông chết từ sau chân đập thủy điện.

Thế nhưng, chỉ vì quyền lợi của nhà đầu tư, của ngành điện mà NM thủy điện ĐắkMi 4 đã bất chấp chỉ đạo của Chính phủ, cắt dòng nước của thượng nguồn sông Vu Gia. Ngày 10.5.2012, Thủy điện ĐắkMi 4 phát điện tổ máy thứ 2, cũng là lúc nhà máy này chặn tiệt dòng sông. Từ sau thân đập chính, ĐắkMi rồi Vu Gia dần trở thành dòng sông chết. Gần 2 triệu dân cư vùng hạ lưu cùng hệ sinh thái môi trường đa dạng ven sông đang đối mặt với thảm họa sa mạc hóa.

Đúng như những cảnh báo trước đấy, TP.Đà Nẵng - cuối nguồn của dòng sông này là nơi gánh chịu hệ lụy trực tiếp, bộc lộ những thiệt hại rõ nhất. Nhà máy nước Cầu Đỏ - nơi cung cấp nguồn nước ngọt sinh hoạt cho 90% dân số cả TP đã phải điêu đứng. Liên tiếp mấy tuần qua, các họng nhận nước đã phải dừng hoạt động vì nhiễm mặn, vẩn đục và cạn dòng. Để “cấp cứu” nhà máy, đáp ứng cơn khát đột ngột của cả triệu dân thành phố, nhà máy đã phải khởi động hết công suất trạm bơm ở đập ngăn mặn An Trạch - cách hồ chứa chính gần 10km - để đưa nước về. Đồng thời, đưa 3 máy đào, xúc trên thượng nguồn để nạo vét, thông dòng. Hàng trăm hécta đất nông nghiệp đã bị khô cằn, một số bị nhiễm mặn.

Cả chục nhà máy chế biến thủy hải sản, nhà máy dệt, nhuộm... tại Đà Nẵng cũng đang bị đe dọa ảnh hưởng nghiêm trọng nếu nguồn nước bị nhiễm mặn, thiếu hụt. Những thiệt hại hữu hình, trực tiếp này các DN và người dân Đà Nẵng đang phải gánh chịu. GĐ Cty Cấp nước Đà Nẵng, ông Nguyễn Trường Ảnh cho biết, thường niên, hạn hán chỉ xuất hiện cuối tháng 6 đến tháng 8, nhưng do thủy điện chặn dòng, năm nay mới tháng 3, nguồn nước kiệt dòng. Chúng tôi đã phải huy động các trạm bơm, tăng cường nhân lực... hiệu quả kinh doanh rõ ràng kém đi. Tuy vậy, Cty cũng chỉ mới dừng lại việc... “chịu trận”, làm báo cáo gửi sở NN&PTNT, UBND TP.Đà Nẵng chứ chưa khởi kiện, đòi thủy điện bồi thường.

Chính quyền Quảng Nam ngày 14.5 đã phải họp khẩn để yêu cầu các nhà máy thủy điện ĐắkMi 4, A Vương, Sông Bung... xả nước cứu hạ du. Nhưng ngày 15.5, thủy điện ĐắkMi 4 cũng chỉ “bắt ống kỹ thuật”, trả lại dòng cũ lưu lượng 10m3/s, không đủ “giải khát” cho một đoạn sông khi bị cắt kiệt những ngày qua. Thảm họa về môi trường từ việc “giết chết” một dòng sông bắt đầu từ thời điểm này...

Điệp khúc “nắng gây hạn, mưa tạo lũ”

Có vô số thủy điện (TĐ) được qui hoạch và xây dựng trên địa bàn các tỉnh miền Trung-Tây Nguyên thời gian qua bên cạnh lợi ích kinh tế-điện năng cũng đã bộc lộ nhiều bất cập cả trong xây dựng, vận hành, tái định cư, gây ảnh hưởng lớn đến nhiều mặt kinh tế xã hội.

Đặc biệt, vùng hạ du chịu tác động nặng nề do TĐ tích nước hồ chứa, gây ra tình trạng mùa nắng thì khô hạn, thiếu nước, nhiễm mặn, mùa mưa thì xả nước gây “lũ chồng lũ”.

Yêu cầu xả nước chống hạn

Dù mới bước vào mùa nắng hạn, nhưng nhiều vùng rộng lớn ở hạ du các TĐ đã bị thiếu nước, mặn xâm nhập sâu vào các sông, làm ảnh hưởng đến sinh hoạt và sản xuất. Tại tỉnh Quảng Nam, có hơn 40 TĐ lớn nhỏ được qui hoạch và đang vận hành, bao gồm 10 TĐ bậc thang trên hệ sông chính Vu Gia-Thu Bồn vào loại lớn nhất miền Trung, có 4 TĐ đang vận hành gồm: Sông Tranh 2, A Vương, Sông Côn, ĐắkMi 4. Tình trạng khô hạn và mặn từ biển thừa cơ xâm nhập vào sâu nội đồng qua các cửa sông do TĐ “găm nước” để phát điện và dòng chảy thiếu nguồn nước bổ sung đang được báo động.

< Hiện các tỉnh miền Trung dày đặc các nhà máy thủy điện. Trong ảnh: Nhà máy thủy điện Sông Tranh 2 ở Quảng Nam).

Ông Nguyễn Thanh Quang, GĐ  Sở NNPTNT Quảng Nam, cho biết: “Diện tích sản xuất nông nghiệp vụ hè thu ở vùng hạ du hệ thống sông Vu Gia-Thu Bồn hiện nay trên 15.000ha đất lúa (chưa kể hoa màu). Theo lịch gieo sạ lúa hè thu bắt đầu từ ngày 15.5, kết thúc vào ngày 10.6. Ở giai đoạn này, nhu cầu nước tưới cho sản xuất là rất lớn, trong khi đó dòng chảy trên hệ thống sông Vu Gia-Thu Bồn hiện nay thấp hơn trung bình nhiều năm. Nguyên nhân là do thời tiết nắng nóng kéo dài, lượng mưa trong lưu vực ít, dẫn đến dòng chảy bị suy giảm mạnh.

Mặt khác, các hồ TĐ bậc thang trên hệ thống sông Vu Gia-Thu Bồn có chế độ vận hành không ổn định, lưu lượng xả nước qua tổ máy phát điện thấp (đạt khoảng 40-50% công suất thiết kế), thời gian xả nước mỗi ngày chỉ khoảng 10-12 giờ, mực nước trên sông dao động mạnh ở mức thấp, không đảm bảo nguồn nước phục vụ sản xuất trong thời gian tới”.

Để bổ sung nguồn nước trên hệ thống sông Vu Gia-Thu Bồn, đảm bảo cho 168 trạm bơm điện thuộc các huyện Đại Lộc, Điện Bàn, Duy Xuyên và thành phố Hội An vận hành, bơm tưới đổ ải vụ sản xuất hè thu năm 2012, Sở NN&PTNT Quảng Nam đã họp khẩn cấp, yêu cầu các nhà máy TĐ phải thực hiện việc xả nước phát điện từ ngày 20.5-10.6.


< Những dòng nước cuồn cuộn ngày xưa bây giờ trơ đáy...

Cụ thể, hồ thủy điện A Vương phát điện một tổ máy với lưu lượng xả từ 30-39m3/s, thời gian chạy máy phải liên tục trên 16 giờ/mỗi ngày, Sông Tranh 2 phát điện 1 tổ máy với lưu lượng xả từ 80-120m3/s, thời gian chạy máy phải liên tục 24 giờ/mỗi ngày, Sông Côn phát điện 2 tổ máy với lưu lượng xả từ 16-20m3/s, thời gian chạy máy phải liên tục trên 8 giờ/mỗi ngày.

ĐăkMi 4 phát điện 1 tổ máy với lưu lượng từ 40-50m3/s, thời gian chạy máy phải liên tục trên 16 giờ/ngày. Ngoài ra, đối với hồ thủy điện ĐăkMi 4 phải thực hiện xả qua cống xả sâu tại đập chính bổ sung nước về sông Vu Gia với lưu lượng xả lớn hơn hoặc bằng lưu lượng nước về hồ tương ứng thời điểm xả nước. Sở NN&PTNT cũng sẽ báo cáo với UBND tỉnh, Bộ Công Thương và Tập đoàn Điện lực Việt Nam chỉ đạo các đơn vị quản lý hồ thủy điện thực hiện nghiêm túc yêu cầu này của địa phương.

Hệ lụy lâu dài

Không chỉ ở Quảng Nam, mà hiện nay hầu hết các địa phương có TĐ đều phải gánh chịu nhiều hậu quả do TĐ. Hiện nay hàng trăm TĐ lớn nhỏ trên cả nước đóng góp khoảng 37,1% tổng năng lượng điện quốc gia, đem lại lợi ích quan trọng cho an ninh năng lượng quốc gia. “Lịch sử” phát triển TĐ vừa trải qua một thời kỳ “rất nóng”, với sự  “leo thang” về công suất TĐ: Trước năm 1975 trên 300MW, đến năm 2010 là 9.200MW, qui hoạch phát triển đến năm 2020 là 17.400MW.

< Nước chảy như suối tư thân đập thủy điện Sông Tranh.

Trong đó những TĐ vừa và nhỏ sau năm 1995 có đến 800 dự án, Quảng Nam là một trong những tỉnh đứng “đầu bảng”, và hậu quả đang nhãn tiền với cảnh TĐ mùa nắng gây hạn, mùa mưa gây lũ. Trên thực tế sau một khoảng thời gian phát triển, nhiều dự án TĐ đã làm nảy sinh những vấn đề bất cập liên quan đến môi trường, đất rừng, sản xuất, thay đổi thủy văn các sông ngòi, gây rung chấn kích thích, ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống xã hội.

Tại hội thảo ““Phát triển TĐ bền vững – các bài học và khuyến nghị” do Mạng lưới sông ngòi Việt Nam phối hợp với Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Nam tổ chức mới đây tại tỉnh Quảng Nam, các nhà khoa học từ nhiều địa phương, đơn vị, trung tâm khoa học toàn quốc đã đưa ra thông điệp khuyến cáo điều chỉnh, sửa sai một số vấn đề cốt lõi và cấp thiết.

Theo các nhà khoa học, phát triển TĐ hiện nay đang diễn ra ồ ạt ở tất cả các lưu vực sông của Việt Nam. Các sông suối của Việt Nam đã gánh trên hàng trăm công trình  TĐ lớn, nhỏ. Không phủ nhận đóng góp tích cực của TĐ cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, tuy nhiên, là những công trình can thiệp lớn đến các dòng sông - các dự án TĐ đã và đang có những tác động tiêu cực lớn đến môi trường - sinh thái của các lưu vực sông, đến sinh kế của người dân - an toàn cộng đồng, an ninh nước và an ninh lương thực.

Phát triển TĐ dù được ghép thêm từ bền vững cũng vẫn là một bài toán đánh đổi giữa phát triển kinh tế và môi trường - xã hội. Từ đó, các nhà khoa học đã “xét lại”, kết luận không thể xem TĐ là nguồn năng lượng sạch và rẻ để phát triển với bất cứ giá nào - bất cứ ở đâu. Cộng đồng và người dân phải di dời do xây dựng TĐ đã phải chịu thiệt thòi nhất, chịu hy sinh nhiều nhất kể cả vật chất, tinh thần và văn hóa bản địa cho lợi ích của chung và của chính những nhà đầu tư (nhà nước hoặc tư nhân).


< Nạo vét, khơi dòng để chống hạn ở hạ lưu sông Vu Gia, Quảng Nam.

Do vậy, các nhà khoa học kiến nghị, kế hoạch phát triển TĐ cần được các cấp ra quyết định xem xét lại một cách thận trọng, hạn chế sự phát triển tràn lan, giảm thiểu những tác động tiêu cực cho môi trường, sinh thái của các dòng sông, văn hóa các cộng đồng ven sông, sinh kế của người dân thế hệ hôm nay và mai sau.

Việc phát triển TĐ cần phải bền vững, vì lợi ích của tất cả, có sự tham gia thực sự của các bên liên quan, cộng đồng ảnh hưởng trong qua trình từ quy hoạch đến vận hành. Cần phải có cơ chế chia sẻ lợi ích một cách công bằng giữa nhà đầu tư - cộng đồng trong suốt quá trình vận hành công trình. TĐ phải có trách nhiệm duy trì và phục hồi rừng đầu nguồn, phải có kịch bản liên quan đến các sự cố đập (vỡ đập) và các phương án phòng, tránh, giảm nhẹ thiệt hại cho cộng đồng liên quan trong phạm vi ảnh hưởng của TĐ.

Du lịch, GO! - Theo báo Laodong, internet

Saturday, 19 May 2012

(Tiếp theo)
Rồi giữa đoạn đường QL55 quanh co nhưng thưa vắng xe này, mình gặp một ngã 3. 
Biển hướng dẫn không có, vậy nhưng phía trái đường lại có một hàng quán nhỏ với khoảng dăm bảy người trong đó. Ghé hỏi thì biết chạy thẳng là đi Bảo Lộc - còn rẽ trái là xuống nhà máy thủy điện Hàm Thuận.

< Đường trên là QL55, đường dưới là đường vào nhà máy thủy điện Hàm Thuận.

Ngộ nhỉ: nhà máy thủy điện Hàm Thuận nằm ngay "đuôi" hồ Đa Mi? Hóa ra từ cửa nhận nước của hồ Hàm Thuận, nước được dẫn trong ống xuôi về đây để chạy tuốc bin máy phát và xả xuống hồ Đa Mi. Đa Mi lại tích nước ở đầu này, tới đầu kia thì lại được dẫn vào ống của nhà máy thủy điện Đa Mi làm ra điện lần nữa rồi xả ra thượng nguồn sông La Ngà chảy về La Ngâu.

< Những bông cỏ lau phất phơ trong gió bên phải đường...

Do La Ngâu vẫn còn lợi thế tích nước nên người ta lại dự tính làm một nhà máy thủy điện hoặc hồ thủy lợi... mà bài trước mình đã đề cập đến. Làm thủy điện vẫn tốt thôi, vẫn ích nước lợi nhà nếu biết dung hòa giữa chuyện "được gì" và "mất gì", và chắc chắn là không thể đánh đổi bằng mọi giá.

< Một đoạn bị lở trong cơn bão số 1 vài tháng trước, nay đã được khắc phục.

Tiện đây, mình sẽ nói qua về QL55: Con đường quốc lộ mang số 55 này khỏi nguồn từ Bà Rịa - Vũng Tàu chạy qua thị trấn Long Điền, thị trấn Đất Đỏ, thị trấn Phước Bửu, Bình Châu... cho đến thị xã La Gi.

< Biểu hiện của sự văn minh chỉ thể hiện qua con đường nhỏ láng nhựa và hàng cột điện lưa thưa bên trái.

Từ đây: đường rẽ ngoặc về hướng Bắc cho đến thị trấn Tân Nghĩa sẽ giao nhau với con đường "xương sống" là QL1. Ở điểm này, nếu trở ngược về hướng Tây khoảng 11km thì gặp điểm giao kết thứ 2 của QL55 tại thị trấn Tân Minh...

< Bản hướng dẫn sắp đến một ngã 3: rẽ phải là vào một phần của nhà máy thủy điện Hàm Thuận (Cửa nhận nước). Lúc này trời không còn nắng nữa do có nhiều mây.

Từ Tân Minh: QL55 sẽ chạy ngang xã Suối Kiết, xã Gia Huynh, thị trấn Lạc Tánh, xã La Ngâu và đến Đa Mi. Tại Đa Mi, QL55 trở thành đèo Lộc Nam, vượt xã cùng tên, vượt xã Lộc Thành đến điểm cuối gặp QL20 đoạn thành phố Bảo Lộc.

< Một đoạn lở nặng phải dừng xe đôi chút để chờ xe ủi trống khoản đất đá. Đầu bên kia có một chiếc 4 bánh và một xe gắn máy, bên này là bọn mình.

< Quang cảnh đẹp như tranh với con đèo Lộc Nam ngoằn ngoèo.

Tổng chiều dài của đường là 229 km, đây chính là con đường kết nối 3 tỉnh là Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Thuận và Lâm Đồng... nhưng đặc biệt: QL không liền lạc mà có một đoạn cách khoảng từ Tân Nghĩa đến Tân Minh (do khúc này là QL1).

< Ngoái ngược nhìn lại phía xa xa là hồ Đa Mi: mờ mờ tỏ tỏ trong khung cảnh huyền ảo.

< Cảnh đẹp quyến rũ níu chân người lữ khách phương xa. Bên trái là vực sâu còn mé phải là vách núi sừng sững, lở một phát là mình "đi Tây" luôn.

< Mình gặp cái lán nhỏ gần ngã 3, trong đó có vài cô gái đưa mắt nhìn lạ lẫm...

< Chưa vội về Bảo Lộc, mình rẽ phải vào cửa xã thủy điện.

Lại bàn trở về chuyến đi: từ khi rời ngã 3 nhà máy thủy điện Hàm Thuận trở đi thì chạy hàng chục cây số vẫn không thấy nhà cửa nào cho đến lưng chừng đèo Lộc Nam, đoạn giáp hồ thủy điện Hàm Thuận thì mới thấy lác đác một ít nhà cửa. Trên đèo có đường lên chùa Quan Âm: giữa khung cảnh tĩnh mịch nhìn xuống lòng hồ, người lữ khách sẽ cảm nhận được cảnh đẹp khó tả tại nơi đây...

< Cửa xã hồ Hàm Thuận là đây: nước vào cửa, theo ống to dẫn xuống đầu hồ Đa Mi. Thấy bảng cấm nên mình không vô sâu hơn nữa.

< Tại đây có thể phóng tầm mắt nhìn bao quát một góc nhỏ của hồ Hàm Thuận. Chỉ một góc nhỏ thôi vì hồ này rộng lắm, có nhiều mũi và đảo che chắn. Vị trí nơi này ở đây.

< Trở ra, "nửa kia" chộp ngay ở một góc ảnh hay hay.

... Gọi là đường nhưng ký thực thì nhiều đoạn không khác gì đèo, kể cả đoạn từ xã La Ngâu. Đường được láng nhựa, một số đoạn trông như đất đỏ nhưng những chổ này vẫn là đường nhựa - đất chỉ do các vạt núi lở xuống đường nhưng không thể dọn sạch hết thôi. Đi đoạn đường này, bạn sẽ mãn nhãn với khung cảnh rừng núi bao la tuyệt đẹp xung quanh nhưng nhớ kiểm tra xe và xăng trước nhé: sẽ không có chổ đổ xăng hay sửa vá gì đâu.

< Một phần khác của hồ thủy điện Hàm Thuận, đoạn này đã có lác đác nhà nhưng không nhiều.

< Vài bé đứng bên đường rong chơi và trông em. Đây là chổ lở đất và người ta cho máy ủi phần đất lở xuống vực.

Chạy miết hồi lâu trên đèo rồi thì thấy thấp thoáng nhà cửa, ấn tượng nhất là ngay ngã 3 đường vào hồ thủy điện Hàm Thuận. Nhà máy thủy điện Hàm Thuận – Đa Mi nằm trên lưu vực sông La Ngà thuộc lưu vực sông Đồng Nai...

< Hết nhà thì đường lại vắng lặng, bấy giờ đã là 4h13 phút.

< Tiết trời lúc này hanh hanh lành lạnh do mặt trời ẩn nấp sau những đám mây đen. Vả lại cũng sắp đến Bảo Lộc rồi mà: ở đây cao hơn mực nước biển tầm 1000m nên nhiệt độ giảm.

... Hồ chứa của thủy điện Hàm Thuận nằm trên 2 tỉnh Lâm Đồng và Bình Thuận với diện tích mặt thoáng ở mực nước dâng bình thường (+605 MSL) khoảng 25,2 km². Hồ chứa thủy điện Đa Mi là hồ chứa điều tiết ngày, là bậc thang dưới của Nhà máy Hàm Thuận. Hai nhà máy cách nhau khoảng 10km. Nhà máy thủy điện Hàm Thuận – Đa Mi cách Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 200 km.

< Điền Gia Dũng nhà ta đây...

< Còn đèo Lộc Nam thì vẫn thía này...

Nhà máy thủy điện Hàm Thuận gồm 2 tổ máy với công suất 300MW được khởi công xây dựng vào năm 1997, đưa vào vận hành vào năm 2001. Cũng như Nhà máy thủy điện Hàm Thuận, Nhà máy thủy điện Đa Mi gồm 2 tổ máy với công suất là 175MW. Đây là 2 nhà máy có thiết bị công nghệ hiện đại, xuất sứ từ Nhật Bản, Mỹ, Canađa, Italia…

Thông số chính của nhà máy thủy điện Hàm Thuận như sau:

Hồ chứa:
Mực nước dâng bình thường:         +605 MSL
Mực nước chết:                                +575 MSL
Dung tích toàn bộ hồ:                          695 106m3
Dung tích hữu ích:                            523 106m3

< Một chổ lở ăn vào lòng đường, sát mí kè bê tông.

Đập:
Bao gồm 01 đập chính và 04 đập phụ;
Đập chính:
Loại:   đá đổ, lõi giữa chống thấm
Chiều cao:                             93.5 m
Cao trình đỉnh:                       +609.5 MSL
Chiều dài theo đỉnh đập:      686 m
Các đập phụ đều là loại đập đất đồng chất.

< Bất chợt nhìn thấy một dãy lán trại, nơi người ta rửa xe ben chở đất bằng vòi nước. Nước có sẳng từ núi cao, dẫn ống xuống để xài thôi - xe ben dính đất cát tha đi tùm lum: CSGT phạt "lòi phèo".

< Trên nhiều đoạn ở QL55: người ta hay vạt núi như thế này. Do lở hay lấy đất làm nhà?

< Đột nhiên, mình thấy một nhà thờ nhỏ, xinh xắn phía bên phải đường - trông mới tinh khôi.

< Hai học sinh trên đường về nhà.

Một huyền thoại về hồ thủy điện Hàm Thuận - Đa Mi được người địa phương truyền tụng qua nhiều đời:

< Người ta bán một ít đặc sản của rừng ven đường. Do còn đi quá xa chứ không thì mình mua ủng hộ ít trái bơ.

Chuyện kể về tình yêu và sự chung thủy của nàng K- Mi và chàng K-TàPung đã đưa đến một biến cố kì dị của tự nhiên tạo ra dòng sông, hồ nước nằm trên thung lũng núi non trùng điệp của huyện Hàm Thuận Bắc và từ đó mới có tên địa danh như sông ĐạMi, hồ ĐạMi, núi TàPung. ngày nay gọi là hồ ĐaMi hay Thủy điện Hàm Thuận - Đa Mi)                                

< Vào địa phận tỉnh Lâm Đồng.

Ngày xưa, chỉ biết cách đây từ lâu lắm, tại vùng đồi núi huyện Hàm Thuận Bắc tiếp giáp với huyện Tánh Linh. Nơi đây rừng rú hoang vu, trùng trùng điệp điệp, chưa từng có tên tuổi. chưa một ai đến đây ngoài hai buôn làng người dân tộc K-Ho sinh sống.

Buôn làng La Ngâu sinh ra chàng trai tên K.TàPung lực lưỡng, khôi ngô tuấn tú, chàng trai có tài săn bắn, cứ mỗi lần vác ná vào rừng đều mang về những con thú to lớn. Một hôm, chàng bắn con nai bị thương, nó chạy tận vào rừng sâu. Lo cho dân làng không có cái thịt để sống, nên chàng đã cố đi tìm cho bằng được. Chàng theo vết máu, đi mãi, băng qua biết bao là đồi núi, thác gềnh mà vẫn tìm chưa ra con vật. Chàng  lạc sâu trong rừng rậm, sức cùng lực kiệt nên chàng mê man bất tỉnh giữa núi rừng...

< Người ta hay bạt núi để xây nhà như thế này, xem ra cũng ớn cảnh núi lở.

... May thay, lúc đó có nàng con gái tên là K-Mi xinh đẹp, con của già làng LaDạ vào rừng hái rau bắt gặp, vốn giàu lòng thương người, nàng vội đi tìm thuốc để cứu chàng. Thấy chàng trai tuấn tú khôi ngô, nàng K-Mi đem lòng yêu thương.

< Hết đèo nhưng vẫn còn các khúc quanh thật đẹp...
Lúc này mình nẩy ra ý định chạy về Di Linh luôn nhưng 'nửa kia' cản: "ông này hôm nay sung dữ á".

Nhưng luật lệ hà khắc cấm không cho trai gái của hai buôn làng quan hệ lẫn nhau, người làng này lạc vào lãnh thổ của làng kia, đều bị bắt đánh đập và đưa lên giàn hỏa thiêu chết...

< Địa phận xã Lộc Nam.

... Tình yêu của hai người ngày khắn khít hơn nhưng luật lệ của buôn làng hà khắc nên họ bỏ trốn vào trong rừng sâu làm ngôi nhà trên ngọn cây cao và hằng ngày K-Mi mượn cớ hái rau, bẻ măng để cùng chung sống với chàng. Những chàng trai trong làng để ý theo dõi và biết được tình tiết sự việc, họ đem lòng ghen tuông rồi mách bảo với cha nàng. Người cha  giận dữ, huy động cả dân làng vào rừng vây bắt K-TàPung...

< Trường tiểu học Lộc Nam A.

< Và khu thị tứ Lộc Thành. Định ghé vào làm món gì đó nhưng chưa đói, thôi về Bảo Lộc làm bữa chiều luôn.

... Hai người dắt nhau chạy trốn, nhưng không sao thoát được. Ktapung bị bắt đem về đưa lên giàn hỏa thiêu, nàng khóc lóc van xin thảm thương nhưng đều vô dụng. Với lòng chung thủy, nàng lao vào giàn hỏa thiêu ôm chặt K-Tàpung để chết cùng chàng.

< Chỉ 10km nữa sẽ đến thành phố mù sương Bảo Lộc.

Kỳ lạ thay, nàng cứ dính chặt vào K-TàPung mà không ai có thể gỡ ra được. Cha nàng vì giận giữ châm lửa thiêu cả con gái của mình.
Lúc đó mây đen từ đâu cuồn cuộn đến, bầu trời tối sầm, mưa trút xuống như thác đổ làm ngọn lửa tắt biến.

< Cuối cùng cũng giáp mặt QL20, mình rẽ trái ngược vào thành phố.

Tiếng sấm sét long trời lở đất, gió rít từng cơn dữ dội, cây rừng, nhà cửa đổ sập, mọi người khủng khiếp chạy tán loạn. Cơn mưa kéo dài từ ngày này sang ngày khác, nước đổ ào ào cuốn phen cả cây cối, núi đồi. Tiếng va chạm của đất đá từ núi cao lăn xuống cùng với tiếng sấm chớp làm rung chuyển cả núi rừng, con nước đục ngầu, sôi sục, giận dữ, xé toang vách núi.

< Hồ Đồng Nai tại Bảo Lộc. Chạy quanh co một hồi để kiếm phòng nghỉ, rồi cũng xong.

Dân làng khủng khiếp, cầu xin Giàng tha tội và họ nghe tiếng phán từ trên trời rằng "Các ngươi không được chia rẽ hạnh phúc họ, vì đó là ý nguyện của ta. Từ đây phải đoàn kết, thương yêu, không được chém giết lẫn nhau nữa". Tiếng nói vọng xuống mặt đất, rền vang cả núi rừng...

< Bữa chiều đây: Hoành thánh gõ, chỉ 13k/tô khá... ngon (chắc do đói rồi), sau đó là mấy cái bánh xèo lớn (15k/cái), giòn và ngon tuyệt cú mèo. Bánh xèo ở đây cũng ăn kèm bánh tráng như tại Madagui.

... Ngay lập tức mưa tạnh, bầu trời sáng rạng, mọi người mừng vui hớn hở, ngạc nhiên trước cảnh vật rừng núi thay đổi một cách kỳ lạ, dòng nước rộng lớn đục ngầu cuồn cuộn chảy.  Dân làng La Ngâu vui mừng khôn xiết, họ kéo nhau đến làng La Dạ, làm lễ giết trâu để ăn mừng, kết tình anh em và cho phép chàng K-TàPung và nàng K-Mi tác hợp thành vợ chồng.

< Chạy loanh quanh gặp hai ông Tây phượt bằng Win100. Chơi lòng vòng một đỗi thì dính trận mưa lớn, núp mái hiên chờ tạnh mệt xỉu, mất gần cả tiếng đồng hồ vàng bạc, tiếc...

Từ bấy giờ, thuở nguyên sơ là một khe suối nhỏ nay trở thành dòng sông to lớn chảy cuồn cuộn. Người ta bèn đặt tên cho dòng sông bằng cách ghép tên nước và tên của nàng lại thành một (Đạ có nghĩa là nước) để tưởng nhớ về sự kiện lịch sử này. Vậy là dòng sông có tên là Đạ Mi (Người Kinh phát âm là ĐaMi) và cũng là tên của địa danh cho đến ngày nay.

Ngày nay, sông Đa Mi đã được công trình thủy điện khai phá rộng lớn thành hồ chứa nước phục vụ cho nhà máy thủy điện Hàm Thuận - Đa Mi. Nhìn ngọn núi TàPung cao to sừng sững, chân núi như một thành trì vững chắc ôm ấp lòng hồ Đa Mi, bóng in xuống mặt nước phẳng lặng. Đó là biểu tượng về tình yêu và sự chung thủy của họ.

Còn tiếp
Điền Gia Dũng - Du lịch, GO!

Phần 1 - Phần 2 - Phần 3 - Phần 4 - Phần 5 - Phần 6 - Phần 7 - Phần 8 - Phần 9 - Phần 10 - Phần 11 - Phần 12 - Phần 13 - Phần 14 - Phần 15
Có một cung đường mới tuyệt đẹp, còn rất hoang sơ nối Di Linh (Lâm Đồng) và Phan Thiết (Bình Thuận). Con đường này nối từ ngã ba quẹo thẳng tiến đến xã La Dạ.

Khởi hành từ TP Hồ Chí Minh, bạn sẽ vượt hơn 170km để đến thành phố Phan Thiết của tỉnh Bình Thuận. Từ trung tâm thành phố Phan Thiết, ta sẽ vượt qua những quả đồi nhấp nhô, con đường lên dốc ngoằn ngoèo (đây chính là QL28) để tìm đến các xã dân tộc của huyện Hàm Thuận Bắc. Huyện có 3 xã dân tộc là Đồng Tiến, Đông Giang và La Dạ.

Bon bon trên cung đường vào xã Đông Giang, xã La Dạ, khách lữ hành sẽ càng mãn nhãn khi xa xa là cảnh mây núi của xứ B’Lao quấn quýt vào nhau trông rất hữu tình. Những con thác nhỏ ven đường tuyệt đẹp tung bọt trắng xoá níu khách lạ phương vào chụp hình, nghỉ chân.

Rồi những khúc đường ngoằn ngoèo, những khúc cua nguy hiểm với “núi một bên và vực một bên”. Khi ngoảnh nhìn lại, cung đường phía sau cong cong, uốn lượn như con rắn khổng lồ đang trườn mình qua những quả đồi đầy cỏ cây hoa lá và suối rừng.

Cung đường đến La Dạ – xã nghèo nhất Bình Thuận càng đẹp hơn khi được điểm tô bởi những chùm lan rừng đủ màu đang độ khoe sắc. Thi thoảng, ven cung đường còn có những cây khô với hình thù kỳ dị tuyệt đẹp. Vượt qua vài con dốc nhỏ của đôi đoạn đường gập ghềnh, nhiều ổ voi (chắc do xe chở gỗ lậu cày nát), lữ khách sẽ đến với xã La Dạ.

Bà con dân tộc người mang gùi, người đội nón, người quàng khăn, tay dắt díu những đứa con rảo bước trên những con đường nhỏ. Có người không biết nói tiếng Việt, có người thì không biết cả tên họ của mình. Nơi đây, khí hậu khô cằn, thiếu nước triền miên nên cây cối, đất đai đều bị bạc màu, trồng cây gì, nuôi con gì cũng đều khó khăn.

Vậy nhưng dù đồng bào dân tộc K’Ho còn nghèo nhưng cuộc sống của người dân nơi đây dần được cải thiện. Những chú heo mọi, đàn bò của đồng bào tung tăng gặm cỏ  ven đường trông rất vui mắt. Rừng La Dạ trong (một phần của rừng phòng hộ Hàm Thuận – Đa Mi) được đồng bào nơi đây xem là rừng thiêng. Theo sự vận động của Nhà nước, thanh niên đồng bào dân tộc nơi đây đã xung phong làm kiểm lâm, bảo vệ rừng già La Dạ của mình.

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ SGTT, Tintuc Thieunien, internet

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống