Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Monday, 21 May 2012

Voi vua, cọp đen, vườn lạ, núi thiêng và tất cả vẫn ẩn trong làn mây bí mật trên dãy Trường Sơn vời vợi...

< Già làng Hồ Vàng và những chiếc mâm đồng được lấy từ hang Long Nhin.

Già làng Hồ Vàng năm nay đã sống qua 100 mùa rẫy, ngồi trong ngôi nhà sàn giữa Làng Hoong xã Hướng Linh (Hướng Hóa, Quảng Trị), chậm chạp nhả từng ngọn khói trắng trong chiếc tầu thuốc lá đến vẹo cả một bên miệng, do thói quen ăn thuốc của người Vân Kiều, rồi chỉ tay lên đỉnh Voi Mẹp dè chừng nói: "Núi của vua đấy, người lạ không được tự tiện lên đâu!".

Người Vân Kiều thuộc 2 xã Hướng Linh và Hướng Sơn đã mấy đời nay tự mình lưu giữ những bí mật mà họ cho rằng trên con đường Cần vương của vua Hàm Nghi đi qua, đã để lại. Đó là những câu chuyện lạ lùng nơi vùng rừng linh thiêng này, với những điều lạ như: Voi vua, cọp đen, vườn lạ, núi thiêng và tất cả vẫn ẩn trong làn mây bí mật trên dãy Trường Sơn vời vợi.

Vườn lạ trên núi

Câu chuyện về núi vua tôi đã được nghe những người già truyền lại, rằng có một vị vua trên đường đi kháng chiến, đã đi qua vùng này. Ngược trở lại dòng lịch sử chống Pháp của vua quan nhà Nguyễn, có đoạn viết về vua Hàm Nghi như sau: Nửa đêm 7/7 năm Ất Tị (1885) Tôn Thất Thuyết ra lệnh tấn công bất ngờ vào đồn Mang Cá và tòa Khâm sứ Pháp. Quân Nam đánh rất hăng hái, song vũ khí quá thô sơ và giao liên non kém nên chỉ mấy giờ sau bị thất bại. Kinh thành Huế thất thủ. Tôn Thất Thuyết hạ lệnh tập hợp tàn quân chực sẵn ở cửa Chương Đức, vào cung đưa vua và tam cung chạy khỏi Hoàng thành xa giá ra Quảng Trị. Đạo Ngự có hơn ngàn người, phần đông là các đại thần, ông hoàng bà chúa, già có, trẻ có, đi kiệu, đi ngựa và đi bộ...

< Chủ tịch xã Pạ Tuyến, phía sau là đỉnh Voi Mẹp.

Già làng Hồ Vàng kể, chuyện lịch sử ngày xưa như thế nào người Vân Kiều không tường tận hết, nhưng hồi nhỏ khi vừa mới biết đi rừng, lúc đó chỉ khoảng 12 tuổi ông đã được ông nội dẫn đi. Suốt một ngày đường trèo qua 3 dãy núi, mới đến được một vườn quả gồm cam, quýt, ổi, còn có cả một vườn chè nữa. Vườn cây lẫn trong mây mù, cây nào, cây đó quả sai lúc lỉu, mọng nước. Lúc đó, ông vẫn còn nhớ định lẹ tay bứt ăn cho hết khát, thì bị ông nội ngăn lại, "muốn ăn thì phải lạy trời, lạy đất xin vua chứ, đừng có mà tự tiện là không về được đâu".

Điều già làng kể về những loại quả từ vườn cây, được dân làng gọi là vườn quả của vua trên đỉnh núi Voi Mẹp đó, đã được anh Hồ Hà, một thợ săn lão luyện xác nhận. Sự xuất hiện của một vườn cây trái lạ trên lưng chừng núi Voi Mẹp, làm rất nhiều người tò mò, trong đó có cả thầy giáo Nguyễn Văn Thanh, Phó Hiệu trưởng Trường THCS Hướng Linh. Thầy Thanh kể, đã từng đi theo những người săn thú mất 3 ngày để đến được vườn cây ăn trái lạ. Tất cả những cây cam, quýt mọc ở trên núi đều to một cách lạ thường, có thể xếp vào loại cổ thụ. Tới bây giờ, tất cả cây đó vẫn xanh tốt, cho trái ngọt đều đều.

Hang núi bí ẩn

< Trưởng bản Hồ Rầm trong rừng Miếu linh thiêng.

Voi Mẹp là đỉnh núi cao nhất trong vùng, có tầm khống chế quan sát toàn bộ khu vực đồng bằng và núi rừng 3 tỉnh: Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế. Không chỉ là nơi có vị trí chiến lược, bên trong lòng núi còn có rất nhiều những hang động thuận tiện cho việc trú ẩn, trong đó có hang Long Nhin. Hang nằm dưới 3 nhánh của thác Chín Hin. Cửa hang quanh năm được dòng nước phủ kín, nếu không phải là người thông thổ địa hình thì không thể nào tìm được nối vào.

Anh Hồ Hà dẫn đường cho chúng tôi vào hang bằng cách chui qua một thác nước lớn, vào tới bên trong thì toàn bộ lòng hang vô cùng bằng phẳng,  giống như đang đứng trong một hầm đường bộ do con người đào. Khu vực này có thể làm chỗ ăn nghỉ cho khoảng 200 người cùng một lúc.

 Được biết, hang này đã bỏ hoang từ sau chống Mỹ, bây giờ thỉnh thoảng cánh thợ săn mới ập vào bắt thú. Già làng Hồ Vàng kể thêm: Hồi còn trẻ, ông và đám thanh niên bạo gan trong làng nhiều lần đến cửa hang nhưng không thể vào được, bởi bên trong lúc nào cũng có sự canh phòng cẩn mật của hai ông già lạ mặt. Họ mặc quần áo giống nhau, để tóc dài đến thắt lưng, vũ trang giáo dài... Theo đồn đoán của dân làng lúc đó, họ là những người lính trong đoàn chạy giặc của vua Hàm Nghi, được nhà vua cắt cử ở lại canh giữ hang, bảo vệ một số đồ quý.

< Rừng Miếu linh thiêng trên đỉnh Voi Mẹp.

Bẵng đi một thời gian, khi dân làng chạy càn Pháp vào hang thì thấy 2 bộ xương khô; trong hang có rất nhiều đồ lạ mắt. Già làng Hồ Vàng không còn nhớ những thứ đó là gì nữa. Già chỉ nhớ nhất là có rất nhiều mâm đồng với đủ kích cỡ, có cái bé như một chiếc đĩa, có cái lại to như chiếc nia mà đồng bào dùng để phơi thóc. Cho tới bây giờ, hầu như những chiếc mâm tìm thấy ở bên trong hang núi đã bị thất lạc. Nhưng tại nhà già làng Hồ Vàng vẫn còn giữ được 10 chiếc, chúng đều có hình dáng, kích thước rất lạ. Chiếc to nhất có đường kính 1,2m, nặng  khoảng 15kg. Có chiếc lại nhỏ như cái cơi đựng ấm chén. Theo ông Hồ Rầm, con trai già làng, thì những chiếc mâm này đã được trả giá hàng trăm triệu đồng nhưng gia đình kiên quyết không bán.

Cọp lạ và voi vua

Ông Pạ Tuyến, 61 tuổi, Chủ tịch UBND xã Hướng Linh, cũng là người nhiều phen mắt thấy tai nghe những chuyện của vùng rừng núi này, nói: "Vùng này lạ lắm, có những chuyện cứ như hoang đường ấy, nhưng tôi cam đoan nó có thật. Chính tôi và hàng trăm người dân trong xã đều đã chứng kiến, sợ như mất vía mỗi lần chạm mặt chúa sơn lâm. Theo như tôi được biết, vùng này khoảng 20 năm nay, cứ mỗi năm đều thấy một con cọp có màu lông đen tuyền  xuất hiện...".

Ông Tuyến đã đụng hắc hổ này 2 lần. Lần đầu đụng “ngài” vào tháng 3 năm 1995. Lúc đó, ông Tuyến còn làm cán bộ phụ trách thương binh xã hội của xã Hướng Linh. Ông cùng ông Đang (hiện là Chủ tịch Mặt trận tổ quốc xã) đi bộ vào thôn Hoong phát tiền chính sách. Trời đã quá trưa, trên con đường mòn vào thôn chỉ có 2 ông cùng với một túi tiền. Đi qua con suối đầu thôn, vừa mới ló đầu lên khỏi dốc, 2 ông đã nhìn thấy một con cọp to như con trâu, lừng lững đứng chặn giữa đường. Khoảng cách giữa 2 người và con cọp lạ chỉ 4m.

Ông Tuyến vốn là một tay thiện xạ từ hồi chống Mỹ, hôm đó lại khoác theo một khẩu AK với nguyên một băng đạn. Nhưng vì sự xuất hiện quá bất ngờ của con cọp lạ, gần ngay trước mắt, nên chỉ biết đứng như trời trồng. Nhớ lại cảm giác lúc đó, vị Chủ tịch xã nói: "Hôm đó, cả tôi và đồng chí Đang như bị mất hồn, không nhúc nhích được. Cả hai đều đứng im chờ tai hoạ. Nhưng không hiểu vì sao ngài cọp chỉ nhìn hai chúng tôi liếm mép vài cái rồi lững thững bỏ đi. Phải mất vài ngày sau chúng tôi mới bình tĩnh được để tiếp tục làm việc bình thường".

Còn ông Nguyễn Văn Tuân, nguyên Hiệu trưởng Trường THCS Hướng Linh, nay là Phó Chủ tịch Liên đoàn Lao động huyện Hướng Hóa, thừa nhận: Mỗi lần có cọp đen xuống núi, cả trường không có lấy một mống học sinh. Đợi cho yên ắng, các thầy cô giáo phải mất ít nhất 2 tuần lội bộ dọc rừng để động viên  học sinh trở lại trường.

Ông Tuân nhớ lại, thời điểm đó, nhà nhà đóng cửa im ỉm từ sáng đến tối. Trâu bò khắp xã cũng được lùa vào chuồng, canh giữ cẩn mật, còn trẻ con thì không dám ló mặt ra khỏi nhà. Qua theo dõi nhiều năm của đồng bào Vân Kiều, bao giờ con cọp đen này cũng xuất hiện ở rừng Vàng, sau đó sang rừng Miếu, đi vòng qua thôn Hoong, rồi lên đỉnh Voi Mẹp thì mất hút. Tuy đều đặn xuất hiện và được người dân mô tả là có hình dáng rất lớn, nhưng tuyệt nhiên không một lần ông cọp lạ này lại bắt người hay trâu bò.

Cũng tại vùng rừng núi này, theo ông Tuyến, trước kia còn xuất hiện một con voi mà nhiều người cho rằng là voi của vua Hàm Nghi còn sót lại. Vì trên cổ voi còn mang một chiếc chuông lớn. Nhưng năm 1973, con voi này đã bị những kẻ lạ mặt bắn hạ, ngay dưới chân đỉnh Voi Mẹp thuộc địa phận huyện Gio Linh. Khi nghe tin voi bị bắn, ông Tuyến dẫn dân quân đuổi đến nơi thì bộ ngà đã bị cướp, con voi vẫn còn chiếc chuông đeo ở cổ, dân quân đã thu về nhưng bây giờ không biết thất lạc  nơi nào.

Rừng thiêng

Cho tới bây giờ, những người già sống đến bách niên tại Làng Hoong hầu như không biết bên trong khu rừng Miếu ngay cạnh làng mình có những gì? Vì đây là một khu rừng thiêng, không phải ai cũng được đặt chân tới. Hiện người được phép duy nhất ra vào bên trong khu rừng này là Trưởng bản Hồ Rầm.

Trên đường dẫn tôi đến khu vực Miếu mà dân làng vẫn thường dùng làm nơi cúng thần rừng, trong những ngày đại lễ, ông nói: "Khu rừng này ngay cạnh làng mình, nhưng dân làng không bao giờ dám tự ý đi vào. Mọi lá cây, ngọn cỏ, muông thú bên trong cũng không bị xâm phạm. Trời sinh như thế nào thì rừng Miếu vẫn nguyên trạng như vậy".

Không những rừng Miếu được người Vân Kiều coi là rừng thiêng, mà đi cùng với đó là một lễ cúng được đồng bào cho là vô cùng quan trọng. Cứ 3 năm một lần, lễ vật bằng một đôi trâu mộng, một con đen một con trắng, cúng kéo dài 2 ngày. Đêm trước khi diễn ra lễ chính, tất cả dân làng Hoong phải có mặt tại khu Miếu làm lán đốt lửa ngủ ở đó 1 đêm. Họ buộc 2 con trâu lại để thầy cúng niệm chú mời thần rừng, thần miếu về nhận lễ, rồi che chở cho làng.

Khi mọi nghi lễ cúng hoàn thành, đôi trâu này được đem ra giết thịt để tất cả dân làng cùng ăn. Tôi hỏi già làng Hồ Vàng, sao lại phải cúng rừng tốn kém thế? Già làng cho biết, nếu không cúng thì làng sẽ bị hao người, gia súc chết. Vì đây là rừng thiêng!

Du lịch, GO! - Theo GiadinhNet, internet
Từ Hà Nội đi theo đường số 5, đến phố Nối, rẽ theo đường 39A qua những cánh đồng ngô lúa, những rặng nhãn um tùm là đến Phố Hiến - Hưng Yên, thương cảng một thời "Thứ nhất Kinh Kì, thứ nhì phố Hiến".

< Một góc phố Hiến.

Nổi tiếng từ thế kỉ thứ 13 với vị trí là một thương cảng quốc tế. Thế kỷ 15 trở đi những tàu buôn của Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Anh, Pháp đã cập bến Phố Hiến.Phố Hiến một thời nắm vị trí quan trọng trong việc thông thương buôn bán với các vùng cho đến khi dòng sông Hồng ngày càng lùi xa, khiến phố Hiến mất dần vị thế về thương cảng Hải Phòng cách đó 50km. Phù sa của sông Hồng bồi đắp đã tạo nên những cánh đồng tốt tươi màu mỡ cho mảnh đất giàu truyền thống lịch sử và văn hóa này.

< Đền Trần.

Phố Hiến cách Hà Nội 50km. Để đến với miền quên trù phú này có hai con đường. Một là chạy thẳng đường quốc lộ 5 đi Hải Phòng và hai là chạy theo con đê dọc sông Hồng về phía Bát Tràng.

< Trong sân đền Trần.

Con đường đê nghiêng nghiêng này sẽ dẫn bạn đi qua rất nhiều cảnh đẹp của tỉnh Hưng Yên. Bạn có thể rẽ vào Bát Tràng mua đồ sứ, dạo bước qua đền Chử Đồng Tử - Tiên Dung, ghé thăm Văn Giang với rất nhiều vườn quất đang mùa ra hoa kết trái thơm nức, vượt qua những cánh đồng ngô đang trổ hoa khắp triền đê, men theo con sông Hồng cuộn đỏ phù sa, trước khi đặt chân vào đất phố Hiến.

< Cây nhãn tổ.

Phố Hiến ngày nay còn gìn giữ được một quần thể kiến trúc cổ gồm 60 di tích lịch sử, 100 bia ký và nhiều đền chùa. Tiêu biểu là Đền Hiến, Chùa Hiến - hiện vẫn còn nguyên vẹn. Cây nhãn tổ có từ thế kỷ thứ 16 đến nay vẫn xum xuê cành lá, đó cũng là đặc sản nổi tiếng của đất Hưng Yên - nhãn lồng.

< Chùa Hiến.

Vào mùa nhãn, cả vùng quê yên ả rộn ràng trong tiếng chim hót, tiếng nhà nhà thu hoạch, tiếng phiên chợ nhộn nhịp người mua kẻ bán. Nhãn lồng Hưng Yên cùi dày, vỏ mỏng, hạt nhỏ, ăn ngọt mát như chè đường nức tiếng gần xa.

< Chùa Chuông.

Đến Phố Hiến, không thể không đến thăm chùa Chuông. Ngôi chùa có lịch sử lâu đời và cảnh quan thanh tĩnh. Chùa Chuông không có lễ hội riêng, nhưng vào ngày 30 Tết hàng năm, lễ đón Giao Thừa ở chùa Chuông thật sự như ngày hội.

< Lầu khánh chùa Chuông.

Chùa Chuông có tên chữ là "Kim Chung tự". Tương truyền vào một năm đại hồng thủy, có một quả chuông vàng trên một chiếc bè trôi vào bãi sông thuộc địa phận thôn Nhân Dục.

< Hoa súng trong chùa.

Các nơi đua nhau kéo chuông về địa phương mình nhưng không được. Chỉ có những bô lão thôn Nhân Dục mới kéo được chuông. Dân làng cho là trời phật giúp đỡ bèn góp công của dựng chùa, xây lầu treo chuông. Mỗi lần đánh chuông, tiếng vang xa hàng vạn dặm. Do vậy chùa còn có tên gọi là Kim Chung Tự (chùa chuông vàng).

< Một ngôi đền nhỏ ven đê.

Hiện nay ở chùa Chuông còn lưu giữ được một số hạng mục kiến trúc và hiện vật có giá trị như: một chiếc cầu đá và cây hương đá có cùng niên hiệu Chính Hoà năm thứ 23 (1702); một bia đá lớn cao 1,65 m, rộng 1,10 m dựng năm Vĩnh Thịnh thứ 7 (1717) có tiêu đề "Kim chung thạch tự bi ký", mặt trước miêu tả cảnh đẹp của Phố Hiến, mặt sau đề "Nhân Dục cổ tích truyền" ghi tên nhũng người có công tu sửa lại chùa, trong đó có một số người Hoa; cuối cùng là một khánh đá dài 1,46 m cao 0,66 m và một chuông đồng cao 1,28 m.

Không còn giữ được nhiều nét của một thương cảng sầm uất, phố Hiến giờ đây yên ả bên dòng sông Hồng, trải dài theo những triền đê. Rong chơi Phố Hiến một chiều đông, bắt gặp đôi chút bóng dáng cổ kính ngày nào qua một vài nếp nhà còn giữ lại được vẻ đẹp xưa. Những cây nhãn thâm trầm chuyển mình chờ nắng xuân để đơm trái, phiên chợ trung tâm với những món hàng quê bình dị, bữa cơm trưa với món chả gà trứ danh đất Hưng Yên. Một chiều ghé thăm Phố Hiến, sau chặng đường dài trên những triền đê lộng gió, thư thả và êm đềm với miền quê trù phú để lại trở về với Kinh Kỳ ồn ã.

"Thứ nhất Kinh kỳ, thứ nhì phố Hiến"

Du lịch, GO! - Theo Travel, internet
Dân tộc La Ha còn được gọi với một số tên khác nhau như: La Ha, Klá, Phlạo, Xá Cha, Xá Bung, Xá Khao, Xá Táu Nhạ, Xá Poọng, Xá Uống, Bủ Hà, Pụa. Theo kết quả điều tra dân số năm 1999, tổng số người La Ha tại Việt Nam khoảng 5.686 người sinh sống ở huyện Mường La (Sơn La) và Than Uyên (Lai Châu). Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Ka Ðai, (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).

Chuyện xưa kể rằng, người La Ha có một quyển sách xem ngày tháng nhưng bị một con trâu vô tình ăn mất. Từ đó, công việc và cuộc sống của họ gặp nhiều khó khăn do không còn biết phân biệt ngày tốt, xấu. Người La Ha liền mổ con trâu kia để lấy lại quyển sách, nhưng không thấy nên đã quyết định lấy chiếc xương sườn của nó để khắc lịch.

Ngược theo sông Nậm Mu, chúng tôi vào xã Tà Mít (Than Uyên – Lai Châu ) đi tìm “báu vật La Ha” độc nhất vô nhị ven trời Tây Bắc.

Ông thầy mo còn phép tính lạ 

Dãy Hoàng Liên Sơn vắt ngang Tây Bắc đầy rẫy những cung đường huyền bí. Người ta đồn rằng người La Ha ở bản Sài Lương (xã Tà Mít, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu) nằm trên dãy Hoàng Liên Sơn có bộ lịch bằng xương trâu nhưng những thổ dân vùng Hoàng Liên Sơn cũng chỉ mới nghe nói chứ chưa ai thấy dù chỉ một lần. Trước năm 2000, muốn vào Tà Mít khám phá thủ phủ của người La Ha thì chỉ còn cách dùng thuyền độc mộc vượt con đường độc đạo ghềnh sóng nước Nậm Mu dài hơn 40 km.

Hôm chúng tôi vào tới bản Pắc Muôn, bản cửa ngõ của xã Tà Mít hỏi thăm thì dân bản dẫn đến nhà thầy mo Hoàng Văn Ín. Ông Ín tiếc nuối kể rằng: Trước khi bố ông (cũng làm thầy mo) qua đời, ông chưa kịp học cách xem lịch thì bố ông đã mang bộ lịch ấy làm đồ tùy táng.

Chúng tôi tiếp tục vuợt gần 10 cây số đường rừng, vào bản Sài Lương, nơi người dân La Ha cho biết còn bộ lịch cuối cùng và cũng còn sót lại thầy mo Hoàng Văn Păn, là người cuối cùng biết xem lịch. Theo các già làng nguời La Ha, nguời xem đuợc bộ lịch sừng trâu xưa nay chỉ đếm trên đầu ngón tay mà thường là các thầy cúng của bản, ngay cả những nguời ở bản từ khi sinh ra cho tới bây giờ cũng chỉ nghe bảo có bộ lịch như thế chứ chưa thấy bao giờ.

Đến bản Sài Lương cũng phải chờ đợi trong thấp thỏm suốt 3 ngày ròng vị “pháp sư” Hoàng Văn Păn mới từ nương trên rừng sâu về. Biết khách đường xa đến tìm mình chỉ vì bộ lịch, ông bảo: “Tao tặng cho cán bộ văn hóa rồi. Dạy mãi mà mấy đứa con có học được đâu, rồi chết đi nữa thì không có người dùng, người biết xem nên đưa cho cán bộ cầm về nghiên cứu thêm”.

Chiếc lịch xương sườn trâu có trong cộng đồng người La Ha từ khi nào ông Păn cũng không biết. Chỉ biết ông được  bác ruột  truyền lại, tính đến nay nó đã gắn bó với ông hơn 30 năm. Dù đi bất kì đâu, khi lên nương hay đi làm lễ cúng trong bản ông cũng mang theo nó.

Bộ lịch là chiếc xương sườn trâu, chiều dài 30 phân, rộng hai phân, cong theo hình chiếc lá, trên lịch ghi những kí hiệu cụ thể để đoán định ngày xấu tốt, ngày cưới hỏi, làm nhà… Hiện giờ tuy không còn lịch sườn trâu, nhưng ông Păn vẫn nhớ từng đốt khắc trên bộ lịch. Cả bộ lịch có mười đốt, mỗi đốt 3 vạch tuơng ứng với 30 ngày trong tháng. Theo ông Păn thì, ngày tốt trên bộ lịch ghi là ngày con Rồng, vào ngày này có thể gieo lúa, làm nhà cưới vợ….

Ngoài bộ lịch sườn trâu thì thầy cúng Hoàng Văn Păn còn có bộ thẻ bói 30 chiếc đũa. Bọn tôi hỏi xem, ông bảo: “Khi dân bản cần hoặc trong bản có sự việc trọng đại thì ông mới dùng."  Năn nỉ mãi ông thầy mo khó tính mới chịu làm phép bói với 30 chiếc đũa để được mục sở thị. Nhìn những chiếc đũa cứ thoăn thoắt nhảy múa trên tay ông thầy mo cho tới khi có những chiếc đũa bị rơi xuống cũng chính là quẻ tương ứng với những điều tốt, điềm xấu của người được xem.

Văn hóa La Ha đang bị mai một 

Mãi đến những năm 70 của thế kỷ 20 người La Ha mới chọn cho mình vùng đất ở thượng nguồn sông Tà Mít để làm chốn định cư. Theo ông Chẻo Văn Diết, cán bộ Ban định canh, định cư của tỉnh Lai Châu từ những năm 70 cho biết: Khi ông được cử vào Tà Mít để vận động người La Ha định canh, định cư và trồng lúa nước thì người La Ha được nhân dân các dân tộc ở Tây Bắc gọi là người Xá Lá Vàng (Xá Lá Vàng theo tiếng Thái có nghĩa là dân tộc du canh, du cư, dựng nhà ở bằng lá rừng cho đến khi lá vàng đi thì lại di cư sang vùng khác và dựng nhà mới). Cũng theo các thư tịch cổ và truyền thuyết vùng Tây Bắc thì người La Ha xuất hiện ở vùng Tây Bắc Việt Nam khá sớm, vào khoảng vào thế kỷ X.

Ngày nay, trong các nghi thức cúng bản, cúng mường của người Thái ở Mường Than còn có tục giết  trâu trắng để tưởng nhớ đến thủ lĩnh người La Ha là Ăm Poi đã có công khai phá cánh đồng Mường Than.

Trong chuyến hành trình đi qua 7 bản của người La Ha ở thượng nguồn sông Nậm Mu xã Tà Mít đều được nghe các già bản kể về các phong tục lạ của người La Ha như: Lễ cúng bản, cúng rừng thiêng, lễ ăn cơm mới, các bài dân ca, nhạc vũ…. nhưng ngày nay đã không còn nữa. Ông Hoàng Văn Sen, một thầy cúng trong bản Sài Lương, cùng người cháu của mình dẫn chúng tôi vào tận khu rừng cấm. Những lối mòn lên rừng rất nhiều, nhưng rất ít củi mục. Ông bảo: “Dân bản không đuợc chặt cây lớn trong rừng, chỉ đuợc lấy củi mục, khi những cành khô gãy rời thân cây”.  Những cành củi mục trong khu rừng đuợc coi là “lộc” mà các vị thần người La Ha ban phát… Lâu rồi dân bản không tổ chức cúng rừng cấm nữa và bây giờ những người lạ như chúng tôi cũng có thể đặt chân vào.

Trong cuộc gặp gỡ lịch sử của người La Ha ở Tà Mít (Than Uyên – Lai Châu) và người La Ha ở Mường La (Sơn La) tại Bảo tàng dân tộc học Việt Nam ở Hà Nội vào tháng 7/2005 với chủ đề "Chúng tôi là người La Ha", họ đã trình diễn các nét văn hóa độc đáo như thêu thùa dệt vải, đan lát, xem lịch xương trâu…. Nhưng qua sự điền dã của chúng tôi ở Tà Mít  vào tháng 10/2008 thì những nét văn hóa ấy giờ chỉ còn trong ký ức của người già và không xuất hiện thường xuyên trong sinh hoạt của người La Ha nữa.

Lần theo vết dấu bộ lịch thì chúng tôi được biết: Hiện nay lịch sườn trâu hiện đang trong kho bảo quản của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam . Mọi thông tin về chiếc lịch này hiện nay chỉ được thể hiện rất ít ỏi bằng những dòng số kí hiệu do Bảo tàng ghi lại để đánh dấu mẫu vật khi lưu trữ. Muốn hỏi thêm thông tin thì chị Nguyễn Thị Sang, phòng Bảo quản của Bảo tàng cho biết: “Do không có hồ sơ lưu, nên hiện vật hiện nay vẫn không có thông tin gì”.

Chúng tôi rời Tà Mít mà những bí ẩn về cách chế tác cũng như cách sử dụng bộ lịch xương trâu của người La Ha vẫn còn chưa được giải mã. Thiết nghĩ, lịch xương trâu là một viên ngọc quý trong kho tàng văn hóa các dân tộc Việt Nam, vì thế nó cần phải được quan tâm gìn giữ cho người La Ha hôm nay và mai sau.

Trai La Ha muốn cưới được vợ phải ở rể

Theo tục lệ, con trai La Ha bây giờ muốn chính thức cưới được vợ vẫn phải đi ở rể, nhưng chỉ theo hình thức vài tuần đến vài tháng chứ không lâu như trước.

“Bản thân ta ngày xưa phải ở rể đúng 12 năm mới được phép đón vợ về nhận tổ tiên, nhập dòng họ...” - nâng chén rượu ngô sóng sánh, già Lò Hương, 86 tuổi ở bản Huổi Liếng, xã Nậm Păm (huyện Mường La, tỉnh Sơn La) kể về tục dựng vợ gả chồng đã có ở nơi đây tự ngàn đời...

Quan niệm của người La Ha rất khắt khe về hình thức hôn nhân một vợ, một chồng, đàn ông không được phép đa thê, khi đã thành gia thất rồi thì "cái bụng chỉ nhớ đến vợ, không có quyền ưng một người phụ nữ nào khác". Có lẽ chính xuất phát từ cái "lý La Ha" ấy mà tập tục buộc đàn ông phải ở rể nhiều năm trước đám cưới chính được đặt ra. Trong bản, khi sơn nam, sơn nữ đến tuổi cập kê, họ được tự do tìm hiểu nhau, cha mẹ và những người lớn cả hai bên không can thiệp dưới bất cứ hình thức nào.

Công đoạn chinh phục xong xuôi, chàng trai về báo với cha mẹ mình để chọn ngày, cử người sang nhà gái dạm hỏi ("cơi poóng"). Lễ hỏi của người La Ha không cầu kỳ nhưng bắt buộc phải có hai thứ đó là một khoản tiền lễ gọi là "nang khả pom" (giá đầu người) để trả ơn bố mẹ vợ đã có công sinh ra, nuôi lớn cô gái và một mâm trầu. Nhà gái ưng thuận sẽ cử người có uy tín trong họ tộc ra tận đầu cổng để đón thông, dẫn vào giữa nhà làm lễ nhận trầu đồng thời đưa áo của cô gái cho bên nhà trai về xem bói. Sau lễ dạm hỏi 5 ngày, nếu nhà gái không trả lại trầu cho nhà trai có nghĩa là họ đồng ý và 10 ngày kế tiếp, người con trai sẽ đội lễ đến để bắt đầu ở rể làm công cho bố mẹ vợ.

Luật tục quy định rằng, khi ở rể chàng trai phải làm tất cả những gì nhà vợ giao và chỉ nghỉ khi vợ cho phép, bù lại anh ta sẽ được làm lễ cho phép chung chăn, chung gối để đêm đêm được ngủ cùng vợ dù chưa làm lễ cưới chính thức.

Thời gian ở rể không hạn định, có thể là 4 năm, 8 năm, cũng có gia đình là 10 năm hoặc 12 năm, chỉ khi nào bố mẹ vợ động lòng cho phép cưới, chàng rể mới về nhà mình báo tin để chuẩn bị làm lễ "thu mạ phu" (đám cưới chính), xin phép đón cả vợ và con về ở nhà mình. Sau lễ cưới chính thức, cô dâu được đón về nhà chồng, đổi họ theo họ chồng và không được quay về ở với bố mẹ đẻ nữa, dù chồng có chẳng may qua đời.

Du lịch, GO! - Theo VNP, Tindulich, internet

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống