Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Friday, 15 June 2012

Với những sinh viên ít tiền hay người lao động nghèo thì một tô hủ tiếu thêm cục xương có dính ít thịt giá 8.000-10.000 đồng cũng đủ cho một bữa no.

Nếu ai đã từng ở Sài Gòn và hay thức đêm chắc chắn sẽ không thể quên được những âm thanh “lóc cóc lóc cóc…” quen thuộc vào lúc nửa đêm hay gần về sáng. Thứ âm thanh đó cứ len lỏi trong từng con hẻm nhỏ, những ngóc ngách của các khu phố. Theo sau đó là những tiếng xe đạp lạch cạch của người bán hủ tiếu gõ.

Âm thanh của xe hủ tiếu được vang lên từ hai thanh gỗ hoặc kim loại đập vào nhau. Tiếng gõ hủ tiếu rất riêng, không lẫn với những tiếng xèng xẹt…xèng xẹt…” của những người bán phục linh, sương sáo, hay tiếng “lét két…lét két…” của những chàng trai làm nghề tẩm quất.

Bấy lâu, không ít người cứ bảo món ăn này xuất xứ từ đất nước Chùa Tháp láng giềng vì thường nghe "hủ tíu Nam Vang". Kỳ thực, vậy mà... chẳng phải vậy! Cái tên hủ tíu/hủ tiếu, vốn bắt nguồn dựa trên nền của món ăn mà người Tiều (Triều Châu) gọi là cổ chéo (hủ tiếu), nghĩa gốc: bánh sợi. Sợi bánh hủ tiếu thường được sấy khô, lúc chuẩn bị ăn mới chần nước sôi và chần mỡ hành phi cho mềm, thơm, bùi, béo. Và cũng tương tự phở cực kỳ phổ biến ở Bắc Bộ, món hủ tiếu ngoại lai dần được Việt hóa theo bao cung cách khác nhau để trở thành đặc sản quen thuộc "đậm đà tính dân tộc" trên dải đất cong cong hình chữ S.

Đa số những người ăn hủ tiếu là giải quyết cơn đói bụng tạm thời trong lúc gấp hoặc những người đi chơi, đi làm về khuya tìm chút gì lót dạ cho dễ ngủ khi những hàng quán khác đã dọn hết. Ít ai lại chọn hủ tiếu gõ làm bữa ăn chính. Nó trở thành một thói quen ăn đêm của nhiều người vì vừa đơn giản, vừa vừa bình dân lại phù hợp với mọi túi tiền

Vào những năm đầu thế kỷ 21, giá một tô hủ tiếu gõ chỉ 2.000 đồng, sau này vì giá cả mọi thứ đều lên thì hủ tiếu gõ cũng tăng lên 5.000 đồng. Cho đến thời điểm hiện tại, thì giá của nó cũng vẫn thuộc diện bình dân nhất. Một tô đủ chất  có thêm cục xương có dính ít thịt mà chúng ta vẫn hay gọi là xí quách thì giá sẽ là 8.000 -10.000đ. Với những sinh viên ít tiền hay những người lao động nghèo thời bão giá thì đó cũng là đủ cho một bữa no.

Đã có thời tôi trọ cạnh một gia đình làm nghề bán hủ tiếu gõ quê ở Quảng Ngãi. Cuộc sống của họ cũng đều đều như tiếng gõ rao của xe hủ tiếu. Một cái bàn nhỏ, dăm ba chiếc ghế con đặt trên vỉa hè, mấy chồng bát đũa Trung Quốc… Công việc của họ ngày nào cũng vậy. 12h vợ chồng chị đẩy quán ra bán ở con hẻm đầu ngõ. 19h thì dọn đến khu chợ rau bán đến quá nửa đêm. Chị vợ thì ngồi một chỗ chuẩn bị món cho khách còn anh chồng chạy khắp ngõ ngách gõ cốc cốc để tiếp thị. Bát hủ tiếu khi đến tay khách luôn đảm bảo nóng hổi.

Anh chồng kể, tính trung bình, mỗi ngày có khi phải đi bộ hàng chục cây số để mời khách. Hồi mới vào thành phố, thỉnh thoảng vẫn bị lạc đường. Có lần, nghe khách gọi hủ tiếu, mừng quá, chỉ biết chạy, tới khi bưng đến thì quên nhà. Tìm mãi, khi bát hủ tiếu lạnh ngắt, đầy cả nước mưa mới gặp được khách. Định bụng bê về đổi bát khác thì vị khách gọi giật lại: cùng cảnh với nhau cả mà, nguội một chút nhưng no là được anh ạ. Đến lúc vị khách ăn xong lấy tiền anh mới nhìn kỹ thì cũng phận “dép rách, áo vá” như mình cả. Cầm đồng tiền mà cứ thấy không dám nhìn thẳng vào mặt nhau.

Cùng họ hàng với hủ tiếu gõ còn có một loại hủ tiếu nữa mà chỉ nghe qua đã đủ để nói lên nhiều điều xoay quanh cái chữ nghèo, đó chính là Hủ tiếu thất nghiệp. Đây là loại hình gắn liền với Dân Nam "bản địa". Chẳng hạn, trong một xóm nghèo của người miền Nam, một gia đình nào đó đang "thất nghiệp" và nhận thấy đầu hẻm đang còn trống bèn bày ra đó vài cái bàn, cái ghế, đặt thùng "nước lèo" ít "phụ tùng" rồi "nổi lửa" bán hủ tiếu "thất nghiệp" với chất lượng và giá cả cũng tương đương với hủ tiếu gõ.

Người bán hủ tiếu thất nghiệp và người ăn hủ tiếu thất nghiệp thường là người cùng xóm quen thân lâu đời, do vậy khi bị "kẹt"chưa có việc làm có thể ra ăn rồi "ký sổ" khi nào đi làm có tiền sẽ "thanh toán." Có lẽ chính vì vậy mà người Nam gọi hủ tiếu đầu hẻm là hủ tiếu "thất nghiệp”. Suy cho cùng thì dù có gọi tên nó như thế nào, hủ tiếu gõ hay hủ tiếu thất nghiệp thì đó cũng là thứ thuộc về: những góc khuất trong lòng thành phố.

Du lịch, GO! - Theo Vân Thiên (Nguoiduatin), internet
Bà chủ quán độ gần 50 tuổi với cái giọng đặc sệt xứ Quảng còn cho biết: Không chỉ có cháo lòng mà hầu hết mọi thứ ở nơi đây đều khá bình dân, bởi những Tây ở đây phần lớn cũng thuộc diện “Tây bình dân” với sở thích là... “tiêu tiền lẻ”.

Nếu như Hà Nội nổi tiếng với nhiều con phố gắn liền với “văn hóa hàng quán” của Đồng bằng Bắc bộ như: Hàng Gà, hàng Mành, hàng Chiếu... thì phố Sài Gòn lại được nhiều người nhắc đến với những cái tên gắn liền với từng dân tộc nghe qua thấy ngồ ngộ như: phố Tàu, phố Miên, phố Hàn... mà nổi tiếng nhất có lẽ phải kể đến “phố Tây balô”.

Dù không chính thức nhưng cái tên này từ lâu đã trở thành một từ rất quen thuộc đối với dân Sài Gòn. Thậm chí tạp chí hướng dẫn du lịch có uy tín trên thế giới là Lovely Planet (hành tinh đẹp) cũng đã đưa con phố này vào danh sách hướng dẫn cho khách quốc tế đến TP.Hồ Chí Minh.

Với vị trí nằm ngay giữa trung tâm Q1-TP.HCM, “Phố Tây” được “phân lô” trong khu tứ giác: Phạm Ngũ Lão - Đề Thám - Bùi Viện - Đỗ Quang Đẩu. Bên cạnh những tòa nhà cao tầng sang trọng và những đường phố rộng rãi, tấp nập xe cộ qua lại, khu phố Tây Phạm Ngũ Lão lại tỏ ra bình dân và khiêm tốn với những dãy phố, con hẻm hẹp và dài đặc trưng của đất Sài Gòn.

Lần lại lịch sử của khu phố này qua một số tài liệu còn lưu lại thì được biết, “phố Tây” hình thành vào khoảng năm 1986, khi có một vài nhóm du khách Pháp, Nhật, Mỹ tình cờ cùng tập trung về lưu trú tại đây. Lý do họ chọn khu này có lẽ vì gần chợ Bến Thành, lại ở trung tâm thành phố nên việc đi lại dễ dàng tiện lợi.

Trong ký ức của nhiều người thì ngày đó, những con đường, ngõ hẻm trong phố khá yên tĩnh. Dọc theo đường Phạm Ngũ Lão là nhà ga xe lửa (nay là công viên 29/3), cỏ mọc xanh um như một cánh đồng nằm ngay trong lòng thành phố. Hàng quán thì lèo tèo vài tiệm phở và quán bún bò bình dân.

Khách Tây đổ về ngày một nhiều, khu phố này cũng dần biến đổi để thích nghi với nhu cầu của một vùng “chuyên biệt” cho Tây. Đủ các dịch vụ du lịch, từ cho thuê xe máy, xe đạp đến làm đẹp, ăn uống... cho đến cả “móc túi”, “gái mại dâm” cũng dần nở rộ.  Chỉ cần bước chân ra khỏi khách sạn là có thể bắt gặp tất cả.

Đặc biệt từ năm 1993, khi được nhắc đến trong tập sách du lịch Lonely Planet (nổi tiếng trên 150 quốc gia), nhiều nhóm khách “du lịch bụi” từ Nhật, Pháp, Úc, Anh, Tây Ban Nha... đã đưa nó vào “điểm hẹn” của họ khi đến Sài Gòn. Các vị khách này thường đeo ba lô hành lý đi lòng vòng tìm chỗ nghỉ ngơi, ăn uống, thấy vậy người dân ở đây bèn gọi là “Tây ba lô”. Tên phố ra đời từ đó.

5h30 chiều, tôi ghé vào bar Cyclo trên đường Phạm Ngũ Lão. Giá cả ở đây cũng phù hợp với một số du khách không dư dả nhiều về tiền bạc. Đến khoảng 7h tối, khi bên ngoài đèn đường bắt đầu bật sáng, thì trong bar, nhạc cũng bắt đầu chát chúa. Nhiều đôi trai Tây gái ngoại, cả trai Tây gái Việt dìu dắt nhau nhún nhảy, tiếng bước chân lẫn vào những tiếng cười nói, những tràng tiếng anh “bồi” hoặc những câu tiếng Việt lơ lớ.

Sau gần hai giờ đồng hồ thử làm “Tây balô” trong bar tôi mò ra ngoài tìm một tô cháo lòng. Giữa khu phố có tên khá sang trọng này, chỉ phải trả 15.000 đồng cho một tô cháo là một cái giá khá bất ngờ với nhiều người.

Bà chủ quán độ gần 50 tuổi với cái giọng đặc sệt xứ Quảng còn cho biết: Không chỉ có cháo lòng mà hầu hết mọi thứ ở nơi đây đều khá bình dân, bởi những Tây ở đây phần lớn cũng thuộc diện “Tây bình dân” với sở thích là... “tiêu tiền lẻ”. Họ đến nước mình du dịch theo hình thức du lịch tự túc, không thông qua các công ty du lịch. Tiền thì lấy từ nguồn trợ cấp thất nghiệp của chính phủ nên việc tiêu pha cũng khá dè xẻn.

Đánh mắt sang ông Tây râu tóc vàng hoe đang xì xụp húp cháo cạnh tôi bà cười cười bảo: “Ông” này tên là Philip, tuần trước vừa mới đặt chân đến đây thì bị một ả cave vờ ngọt nhạt ôm eo, sờ soạng rồi móc túi cho bằng sạch.

May mà còn sót lại tí tiền trong ba lô không là “móm”... Bà chủ quán đang còn hào hứng kể thì Philip đã húp xong tô cháo, đứng dậy xòe ra 15.000 đồng gấp sẵn. “Ông Tây” nhìn tôi nhoẻn miệng cười rồi xách ba lô đi ra lề đường vẫy một chiếc xe. Tôi không nhìn theo nữa nhưng cũng biết đó không phải là một chiếc taxi bởi có một cái giọng lơ lớ vang lên: “Xe ô ơm... xe ô ơm.”

Vậy nhưng khu phố tại phường Phạm Ngũ Lão, nơi thu hút khách du lịch nước ngoài đi du lịch theo kiểu tự túc – với bình quân mỗi ngày đón khoảng 1.900 lượt khách, đem về nguồn thu hơn 8.000 tỉ đồng mỗi năm! Đây là nguồn thông tin từ bản Hoạch định phát triển phố du lịch Phạm Ngũ Lão trong giai đoạn 2010 – 2020 do trường Đại học Kinh tế TPHCM và UBND quận 1 thực hiện.

Du lịch, GO! - Theo Phạm Khoa (Tạp chí Người Đưa Tin, Thesaigontimes)
UBND tỉnh Lào Cai vừa phê duyệt đề án quy hoạch chung xây dựng đô thị du lịch Sa Pa đến năm 2030. Đề án này có một điểm “nhạy cảm” là sẽ thiết kế và xây dựng một cáp treo dài 6,2km từ ngoại vi thị trấn Sa Pa lên đỉnh Phanxipăng - nóc nhà Đông Dương.

Từng có những tranh cãi gay gắt về việc xây cáp treo lên các di tích, thắng cảnh như Yên Tử, chùa Hương, Tây Thiên... hay các điểm du lịch như Nha Trang, Bà Nà. GS Trần Quốc Vượng từng tuyên bố: muốn xây cáp treo thì phải bước qua xác tôi. Nhưng cuối cùng, tất cả cáp treo đều đã được xây và đưa vào phục vụ du khách. Sau Yên Tử là cáp treo Bà Nà, chùa Hương, Nha Trang và mới đây là cáp treo Tây Thiên (Vĩnh Phúc)...

Dự kiến, cáp treo lên Phanxipăng sẽ dài khoảng 6,2km có điểm đầu tại tổ 11 (thuộc thị trấn Sa Pa), vượt qua thung lũng Mường Hoa kết nối với các điểm du lịch mới và lên đỉnh Phanxipăng ở cao độ 2.900-3.000m. Điểm cao nhất của Phanxipăng hiện nay được xác định cao 3.143m.

Có nhiều luồng dư luận khác nhau quanh đề án này, Tuổi Trẻ đã gặp gỡ và lấy ý kiến của các bên quan tâm để rộng đường dư luận.

* Ông Trần Hữu Sơn (giám đốc Sở Văn hóa - thể thao và du lịch Lào Cai):

Tôi không đồng ý.

Tỉnh đã phê duyệt đề án nhưng tôi với tư cách là một nhà nghiên cứu thì không đồng ý. Chủ trương có nhiều tác hại như thế khó thực hiện được.

Cả nước mới có một Phanxipăng, đấy là niềm tự hào khi chinh phục được nóc nhà Việt Nam. Đó là mơ ước cả đời của rất nhiều người, lên đỉnh núi để kỷ niệm ngày cưới. Thậm chí có cả người khuyết tật cũng leo lên Phanxipăng. Đấy là cảm giác được chinh phục. Cả nước chỉ có một đỉnh núi như thế thôi. Phanxipăng là nóc nhà của Việt Nam, nóc nhà cũng chỉ chứa được chừng ấy người thôi, phải để người ta leo lên chứ.

Bây giờ làm cáp treo, ùn ùn kéo lên càng nhiều càng tốt để thu tiền cho doanh nghiệp. Người ta giẫm đạp lên đấy thì còn gì là đỉnh Phanxipăng. Chỗ ấy đa dạng sinh học như thế, đến 10 loại cây đặc hữu của Sa Pa, trên thế giới không có, nếu làm cột cáp treo mà cây bị giẫm lên thì thôi rồi...

Cả một nền văn hóa của người dân tộc thiểu số, người ta đi từ từ, người ta leo núi, người ta chinh phục... ứng xử với núi suốt nghìn năm nay như thế. Giờ tự dưng “ông” cứ ào ào lên như thế. Về văn hóa không được, về môi trường không được. Về lợi nhuận trước mắt có thể có rất nhiều tiền, nhưng về lâu dài là phá hoại cả thế hệ sau.

Đa dạng sinh học sẽ bị phá vỡ. Hàng loạt người lên thì chẳng còn gì nữa. Phải nhớ rằng tài nguyên đất của Sa Pa cực kỳ quý giá, nhiều cây thuốc quý, loại đặc hữu chỉ có thể trồng trên đất Sa Pa. Nếu cứ khai thác bừa bãi như dưới xuôi thì chết. Quỹ đất là tài nguyên không thể tái sinh được.

Người Sa Pa phải nghiên cứu lại và đi theo cách của người Sa Pa để làm du lịch. Du lịch bền vững là gì, là thế hệ này không làm hại đến thế hệ sau. Muốn thế phải đảm bảo hai yếu tố: giữ gìn bản sắc văn hóa và đảm bảo môi trường. Bất cứ mô hình nào ở Sa Pa mà áp dụng như ở dưới xuôi, như ở nước khác nguyên xi thì chắc chắn thất bại. Chỉ có những gì được Lào Cai hóa, Sa Pa hóa mới có thể thành công.

Một ngày nào đó, khi bạn đến Sa Pa không nhìn thấy người dân tộc mặc đồ dân tộc nữa, mà chỉ mặc quần áo người Kinh thì khi đó Sa Pa đã chết.

* KTS Nguyễn Luận (nguyên phó chủ tịch Hội Kiến trúc sư VN):

Không nên làm cáp treo tới đỉnh.

Tôi đã đọc bản đề án quy hoạch Sa Pa và quan điểm của tôi là nên nhìn sự việc một cách bình tĩnh, trên tổng thể chứ không nên quá giật mình vì khái niệm “cáp treo”.

Trong bản quy hoạch tổng thể mới của Sa Pa này, tôi thấy các nhà quy hoạch đã rút được kinh nghiệm từ những dự án quy hoạch khác, cố gắng tránh những tác động đến khu dân cư tập trung nhất của thị trấn Sa Pa và mở ra những khu vực khác ở phía tây.

Về hạng mục cáp treo, trong dự án chỉ có mấy dòng ngắn ngủi, trong bản đồ quy hoạch chỉ vẽ một đường thẳng cắt ngang thung lũng Mường Hoa nên có thể còn nhiều điều cần phải bàn bạc, góp ý. Tuy nhiên về chủ trương, tôi đồng ý với việc làm cáp treo lên Phanxipăng. Làm cáp treo lên các khu du lịch nổi tiếng trên núi cao là xu hướng phổ biến trên thế giới, và chúng ta có quyền áp dụng những phương tiện khoa học kỹ thuật tiên tiến để phục vụ phát triển du lịch, đồng thời phát triển kinh tế - xã hội.

Vấn đề nhiều người lo lắng là cáp treo có phá vỡ môi trường, cảnh quan, có tác động đến hệ sinh thái của đỉnh núi và vườn quốc gia Hoàng Liên Sơn hay không thì tôi cho rằng đó là vấn đề của quá trình thi công và của các nhà quản lý du lịch. Thi công được giám sát nghiêm ngặt đúng thiết kế, quản lý tốt lượng khách lên xuống, với những yêu cầu ngặt nghèo về bảo vệ môi trường... thì sẽ không có chuyện gì xảy ra đâu.

Về mặt tâm linh, tôi cũng nghe ý kiến cho rằng không nên đặt công trình xây dựng nào trên nóc nhà Đông Dương cả. Nhưng thực tế trên các triền núi này không có một công trình kiến trúc tôn giáo nào như Yên Tử hay chùa Hương, nên việc để cáp treo chạy trên cao không gây cảm giác bất kính hay phản cảm.

Tuy nhiên, nếu bản quy hoạch chi tiết chưa được duyệt, tôi xin góp ý là cáp treo không nên làm lên đến đỉnh Phanxipăng. Đỉnh núi hẹp, không nên và không thể đặt một công trình có kết cấu đồ sộ. Tương tự như Yên Tử hay khu trượt tuyết trên núi Alps, trên Phanxipăng chỉ nên làm cáp treo đến một độ cao nhất định, khoảng hơn 2.000m, để giúp những người yếu sức khỏe vẫn có thể lên đến được một độ cao nhất định để chiêm ngưỡng vẻ đẹp của dãy núi Hoàng Liên Sơn.

Còn lại, từ nhà ga này lên đến đỉnh núi vẫn phải là quãng đường thử thách, đồng thời cũng là phần thưởng xứng đáng cho những ai có khát khao, ý chí và nghị lực. Cáp treo sẽ mở ra nhiều lựa chọn hơn cho du khách.

* Ông Phùng Văn Khải (nhà thiết kế tour, nguyên giám đốc Hapro Tour):

Quan trọng là sử dụng cáp treo như thế nào.

Tôi chuyên làm tour cho khách châu Âu vào Việt Nam và tôi đã leo Phanxipăng không ít lần, hầu như năm nào tôi cũng leo. Tôi thấy đường mòn lên Phanxipăng giờ đầy rác thải đô thị (chai nước, túi nhựa, vỏ đồ hộp). Với người làm tour, ăn thua là ở ý thức chứ không chỉ ở phương tiện. Tôi tán thành nếu có công ty nào đó hay địa phương đứng ra xây dựng cáp treo lên Phanxipăng. Tôi cho rằng trên cáp treo người ta sẽ khó xả rác hay bẻ cây, đốt lá... như khi leo bằng đường bộ.

Tuy nhiên, với tư cách một người làm tour và một người leo núi (bán chuyên nghiệp), tôi có một lời khuyên và cũng là lời đề nghị với các nhà quy hoạch là không nên thiết kế cáp treo lên đến đỉnh Phanxipăng. Nên làm kiểu base camp - các trại nghỉ trên đường leo Everest. Chỉ cho cáp lên đến một độ cao nhất định, xây dựng các đài, trạm quan sát ở đó với đầy đủ dịch vụ du lịch gọn, vệ sinh, tuyệt đối tuân thủ các quy định chặt chẽ về môi trường...

Chặng đường còn lại phải dành cho các nhà leo núi thật sự có tình yêu thiên nhiên, có khát vọng chiến thắng bản thân và chinh phục những đỉnh cao. Đỉnh cao bao giờ cũng chỉ dành cho số ít người có nghị lực và phẩm chất đặc biệt hơn.

* KTS Hoàng Thúc Hào (giảng viên khoa kiến trúc Đại học Xây dựng Hà Nội, người đã đoạt hàng loạt giải thưởng kiến trúc quốc tế và hiện đang xây dựng nhà cộng đồng cho bà con xã Tả Phìn, Sa Pa):

Cần thận trọng, quan tâm đến đặc thù văn hóa.

Quan điểm của tôi là không nên đưa cáp treo lên thẳng đỉnh Phanxipăng. Bản thân việc khó chinh phục và tiếp cận đỉnh cũng là một điểm hấp dẫn của đỉnh núi này. Không nên làm mất tính văn hóa, tính hấp dẫn, thách thức của nó. Đó là chưa kể đến ở bất cứ vùng đất du lịch nào cũng lưu giữ những giá trị lịch sử và văn hóa lâu đời. Tiếp cận và giải quyết vấn đề này thế nào cũng là một điều phải cực kỳ lưu tâm chứ không nên chủ quan.

Tôi thật sự không thích lắm với ý tưởng làm cáp treo ở khu vực này, dù ở mọi quy hoạch hiện nay đều phải chấp nhận tính đương đại của nó. Nếu lên đến đỉnh thì kết cấu các trụ, bám sẽ ảnh hưởng đến núi rừng, thảm thực vật, tác động đến đời sống sinh vật trong khu vực này.

Với quy hoạch này, tôi nghĩ phải hết sức thận trọng và quan tâm đến đặc thù văn hóa của vùng đất. Các góc lệch, tuyến cáp treo đi qua đều phải tính toán rất kỹ. Thậm chí phải tính toán đến chất liệu, màu sắc của cả hệ thống để có thể hài hòa vào cảnh quan.

Du lịch, GO! - Theo Thu Hà, Hà Hương (TTO)

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống