Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Sunday, 24 June 2012

Đầu bài viết xin tạm gác lại chuyện tranh cãi giữa hai địa điểm: mũi Điện (mũi Đại Lãnh) của Phú Yên và mũi Đôi của Khánh Hòa - nơi được cho là điểm cực Đông của Việt Nam (bạn xem thêm phần cuối bài).

< Biển trời thơ mộng trên cung đường đến Mũi Điện.

Nhiều nhóm đã đến tận cả hai điểm và "chấm" bằng máy định vị vệ tinh GPS để so sánh (Thời buổi công nghệ cao, họ không cãi nhau bằng cảm tính hay bản đồ nữa), và đa phần đều nhận định rằng Mũi Đôi là điểm cực Đông... mặc dù vẫn có nhóm khẳng định điều ngược lại.
Ra điểm cực Đông mũi Đôi trong Du lịch, GO! đã có khá nhiều bài, bạn có thể xem bằng cách search cụm từ "Cực Đông". Bài viết về Mũi Điện, mũi Đại Lãnh cũng đã có như dạng "chinh phục" mốc cực Đông thì... chưa. Bài viết này sẽ tường thuật về hành trình ra mũi Điện với tư cách chinh phục "cực Đông" (cho dù nơi đây có là cực hay gần... cực thì vẫn là một cuộc chinh phục) - bạn xem nhé.

Hành trình chinh phục điểm cực Đông

< Một góc của khu nhà của những người lính và ngọn hải đăng.

Xa rời cái nắng khô khan của thành phố, bên bạn sẽ là những cơn gió biển mát mẻ, làn nước trong xanh quyến rũ và trải nghiệm cảm giác là người đã chinh phục điểm cực Đông trên đất liền Việt Nam.

Có lẽ địa danh Mũi Điện (Mũi Đại Lãnh) đã quá quen thuộc với những người con xứ Nẫu và những người yêu thích du lịch cả nước. Quãng đường khoảng 35km từ trung tâm thành phố Tuy Hòa không thể gọi là xa, nhưng một số người có thể e ngại khi trời hè “nắng cháy da đầu” như thế này. Và đó thật sự là một cảm giác khác biệt khi bước lên xe và đặt chân xuống nơi đây. 


< Bãi Môn nhìn từ hải đăng Mũi Điện (Mũi Đại Lãnh).

Xa rời cái nắng khô khan của thành phố, bên bạn sẽ là những cơn gió biển mát mẻ, làn nước trong xanh quyến rũ, sự thân thiện từ ngôi nhà mà chúng ta gửi xe. Nơi đây còn có ngọn hải đăng sừng sững để trải tầm mắt tới chân trời, những người lính giữ hải đăng luôn vui vẻ, nhiệt tình. Bạn còn có thể trở thành người đã chinh phục điểm cực Đông trên đất liền Việt Nam.

Đường đi

Để đến Mũi Điện (Mũi Đại Lãnh) từ thành phố Tuy Hòa, chúng ta có 2 tuyến đường để đi. Thứ nhất là đoạn đường theo Quốc lộ 1A, lên Đèo Cả, sau đó quẹo trái theo đường vào cảng Vũng Rô, đi qua khu dân cư, rồi theo đường lớn đi đến Mũi Điện, hoặc nếu bạn du lịch từ các tỉnh từ hướng Nam đi ra thì trên Đèo Cả, đi theo bảng chỉ dẫn vào cảng, khoảng cách từ Đèo Cả đến Mũi Điện khoảng 10km.

Tuyến thứ hai là tuyến con đường ven biển, Phước Tân – Bãi Ngà. Ở cung đường này, xe 29 chỗ trở xuống có thể đi được. Hiện nay, tỉnh đang xây dựng tuyến lớn cho xe chở khách lớn hơn, vì đây là một trong những cung đường du lịch trọng điểm của tỉnh.

Đây là tuyến mình khuyên các bạn nên đi, vì khoảng cách tương đương với tuyến thứ nhất nhưng cảm giác đi an toàn hơn (không có nhiều xe lớn như khi đi Quốc lộ), đặt biệt là cung đường này có khá nhiều cảnh đẹp, vừa đi đường bạn vừa ngắm cảnh. Khi xây cung đường này, bên thiết kế đã tạo những điểm dừng chân và ứng với đó là khung cảnh thiên nhiên khá tuyệt, bạn có thể dừng lại bên đường lưu lại những tấm ảnh về thiên nhiên tươi đẹp.

Cung đường này có chất lượng khá tốt, giúp bạn đến nơi với cảm giác thoải mái chứ không uể oải vì bị dằn, xóc. Và khi nhìn thấy ngọn hải đăng xa xa, đứng như thách thức gió biển quanh năm, bạn đang tiến gần đến đích.

Từ đường chính có một con đường đi xuống, bạn hãy theo lối đó để tiến vào nơi gửi xe. Ở đây cũng là nơi các bạn có thể đặt cô chú chủ quán làm cơm để sau khi tham quan hải đăng hoặc vui đùa với làn nước biển trong xanh, bạn có thể có bữa cơm ngon miệng. Hoặc để đúng nghĩa là một buổi dã ngoại, hãy tiến về phía Bãi Môn, chọn những nơi gần các tảng đá lớn để dựng trại. Những tảng đá lớn này sẽ giúp ích cho bạn rất nhiều khi mặt trời lên cao. Điều quan trọng là bạn hãy mang thật nhiều nước, nó sẽ giúp ích cho bạn và cả nhóm rất nhiều.

Chinh phục điểm cực Đông

Hiện nay, con đường lên hải đăng Mũi Điện đã được hoàn thành nên việc lên hải đăng trở nên dễ dàng hơn. Phí vào tham quan hiện giờ là 10.000 đồng/người. Bạn có thể bắt đầu tìm hiểu về ngọn hải đăng khi nhờ những người lính ở đây giới thiệu, hoặc tự do lên hải đăng và khám phá những cảnh đẹp nhìn từ trên cao.

< Trên đường đi xuống, cảnh thiên nhiên với núi đá xám trắng, bờ biển và bầu trời xanh làm cho bạn vơi đi nhiều cảm giác mệt mỏi.

Đến Mũi Điện mà chưa hòa mình vào làn nước trong xanh, mát lạnh tại Bãi Môn quả là một điều thiếu sót. Bãi cát mịn trải dài, nước biển khá nông, bờ lại thoải dần. Quả thật là một bãi tắm lí tưởng. Bạn lo ngại rằng việc tắm biển xong thì sẽ hơi khó chịu bởi nước mặn? Đừng lo, thiên nhiên đã ưu đãi cho nơi đây có một dòng suối chảy thẳng ra biển. Và bạn có thể tắm sơ lại nước ngọt trên con suối này.
Từ vị trí đứng từ ngọn hải đăng, bạn đã có thể thấy được điểm đánh dấu mốc điểm cực Đông trên đất liền Việt Nam.

Con đường từ ngọn hải đăng đi xuống điểm đánh dấu hơi khó đi vì những tảng đá lớn, cứng. Đây là lối mòn do nhiều người đi trước tạo nên, nhưng có lẽ vì thế cũng tạocho  người tham quan cảm giác như mình đang đi chinh phục, vì họ cũng phải cúi thấp người, leo lên rồi đi xuống.

Và khi đến nơi, hãy vào những chòi nghỉ mát, tận hưởng những làn gió mát đang thổi qua người. Có lẽ nhiều người nhìn lại quãng đường đã đi và thầm khâm phục mình vì đã vượt qua đoạn đường khó kia. Vừa ngắm cảnh thiên nhiên hùng vĩ, nói chuyện thư giãn với bạn bè, nhấp một ít nước cho đỡ cơn khát, bạn sẽ lấy lại sức nhanh chóng và sẵn sàng cho mọi người biết rằng: “Tôi đã đến điểm cực Đông trên đất liền nước Việt rồi!”.

Tự hào lắm chứ khi là những người đã đặt chân đến điểm cực Đông trên dải đất hình chữ S thân thương. Nếu có cơ hội, bạn hãy liên hệ với các người lính giữ ngọn đèn biển để được trải nghiệm cảm giác qua đêm tại miền đất biển, thấy “mắt biển” chiếu về phía xa hướng dẫn cho tàu bè, nghe gió và sóng biển rì rào. Và hãy nhớ là đặt báo thức để dậy sớm. Có lẽ bạn không muốn bỏ lỡ những ánh bình minh đầu tiên của đất nước Việt đâu!

Khi ngoài biển khơi đã xuất hiện đường chân trời phân chia hai nửa: nửa dưới là màu xanh thẫm của biển và sắc đỏ của mặt trời. Quang cảnh thật tuyệt vời! Sắc đỏ càng lúc càng lên cao, tỏa rộng, chủ nhân của ánh sáng ấy xuất hiện. 1/10, 2/5, 1/2… và rồi thật tròn, mặt trời tỏa ánh nắng của mình đi khắp nơi.

Một đường lấp lánh ánh bạc nối từ đường chân trời đến những vách đá quanh năm sóng vỗ. Đứng trước cảnh thiên nhiên như thế, chúng ta càng cảm thấy tự hào hơn về nơi chúng ta đang đứng, không chỉ là nơi đón ánh nắng sớm nhất của nước Việt mà còn là cả Đông Dương và Đông Nam Á lục địa.Và yêu sao đất nước Việt Nam với những cảnh đẹp hùng vĩ, nên thơ.

Chinh phục ngọn hải đăng, điểm cực Đông, thỏa sức vẫy vùng trong làn nước biển tai Bãi Môn, cùng có những giây phút đáng nhớ với bạn bè... Có lẽ với một số bạn như vậy là đủ, có thể lên đường về lại thành phố Tuy Hòa để nghỉ ngơi, nhưng thay vì đi về lại đường cũ, bạn hãy tiếp tục đi tiếp trên con đường lớn để đến với Vũng Rô, địa danh nổi tiếng với chiến tích Tàu không số và cảnh đẹp khi nhìn ngắm vịnh.

Tranh thủ được thời gian, các bạn có thể tham quan nơi tưởng niệm về những chiến tích của những con tàu không số, được nghe kể và khâm phục tinh thần của các bậc cha anh ngày xưa đã không tiếc thân mình góp phần giải phóng đất nước.

Đi theo con đường hướng về cảng Vũng Rô, bạn sẽ thấy được đường giao cắt để đi lên lại Quốc lộ 1A, nằm trên Đèo Cả, ngược về hướng Bắc để trở về thành phố Tuy Hòa. Trên đoạn đường này, màu biển xanh mát sẽ được thay thế bằng màu xanh của cỏ cây, đồi núi, màu xanh của mạ non mới được gieo trên các cánh đồng trải dài sẽ giúp bạn thư thái trên quãng đường trở về.

Một ngày trôi qua với nhiều cảm giác thú vị, hòa mình vào thiên nhiên, sự thỏa mãn khi chinh phục tầm cao của ngọn hải đăng hay xa một chút là cột đánh dấu điểm cực Đông trên đất liền, hiểu thêm về lịch sử về vùng đất anh hùng hay những khoảnh khắc khó quên với người thân, bạn bè… Đó sẽ là một ngày nghỉ đáng nhớ với bạn và mọi người và giúp bạn có tinh thần cho những ngày hoạt động sắp tới để khám phá, chinh phục những mục tiêu mới!

Đi tìm điểm cực đông trên đất liền tổ quốc

Một chút kỹ thuật để “gia vị” vào một chuyến thăm thú hai vùng biển đẹp tuyệt của đất nước, Vũng Rô và vịnh Văn Phong. Mũi Điện, mũi Đôi, hai “ứng viên” cho chức danh cực đông, nơi “đón ánh bình minh đầu tiên trên đất liền tổ quốc”, xứng đáng cho một hành trình khám phá và thưởng ngoạn…

Eo biển xanh mũi Điện

Khác với các “địa cực” còn lại, điểm cực đông là sự tranh cãi của rất nhiều tài liệu về mũi Điện (mũi Đại Lãnh) của Phú Yên và mũi Đôi của Khánh Hòa. Cách tốt nhất, cũng tương đối đơn giản, là đến cả hai địa điểm kể trên, dùng máy định vị vệ tinh GPS để “chấm” tọa độ, so sánh.

< Ánh bình minh đầu tiên.

Một chút háo hức làm quên đi những mệt mỏi của chuyến tàu đêm Sài Gòn - Nha Trang. Sáng sớm, sau màn điểm tâm bún sứa đặc sản, cả đoàn khởi hành đi mũi Đại Lãnh. Nhóm “chấm điểm” tọa độ cực đông lần đầu tiên này bao gồm các nhân viên, lãnh đạo công ty Vietmark và phóng viên một số báo đài của TP.HCM.

Vũng Rô, vùng biển mà biết bao du khách khi đi ngang qua đèo Cả đều không cầm lòng để không chồm qua cửa kính xe thưởng ngoạn. Con đường vòng theo mé biển với những làng chài lam lũ. Xe dừng lại ở một ngã ba, cả đoàn lục tục kéo xuống đi vào những đồi cát. Một con suối nước ngọt dẫn đường vào mé biển.

< Mốc tọa độ tại Mũi Điện.

Biển Bãi Môn bất chợt xuất hiện ngay trước mặt. Nước trong vắt, xanh như ngọc bích, sóng lăn tăn vờn trên bãi cát. Đứng trên những bậc tam cấp đã hoang phế của con đường dẫn lên ngọn hải đăng Đại Lãnh mà nhìn xuống, Bãi Môn đẹp như một “eo biển xanh”. Cảnh trí xung quanh từ tầm nhìn hải đăng đủ sức tranh vương tranh bá với bất kỳ thắng cảnh biển nào của đất nước.

Mũi Đại Lãnh hay mũi Điện, mũi Khe Gà, thuộc xã Hòa Tâm, huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên. Tên quốc tế là mũi Varella, theo tên của vị kỹ sư người Pháp xây dựng hải đăng nơi đây. Sau một cây số rưỡi mướt mồ hôi leo lên đỉnh, cả đoàn tập hợp lại tại mốc tọa độ cơ sở biển của hải đăng và đo tọa độ. Chiếc GPS hiệu Garmin của anh Trương Hoàng Phương, giám đốc tiếp thị Vietmark, mang theo cho ra tọa độ là E 109027'704 kinh độ, N 12053’682 vĩ độ.

Trạm trưởng hải đăng Nguyễn Ngọc Thắng khẳng định mũi Điện chính là điểm cực đông đất liền tổ quốc. Nhiều tài liệu thời gian gần đây nghiêng về nhận định của anh Thắng. Anh Phương cũng cho biết là Saigontourist đang dự định xây dựng một khu du lịch ở khu vực này để du khách có thể ngắm những tia nắng bình minh đầu tiên…

Bất ngờ mũi Đôi

Lộ trình từ Đầm Môn ra mũi Đôi được khéo léo chia làm hai chặng, một là lội bộ băng qua “sa mạc”, hai là đi tàu theo ven biển. Địa hình đồi cát của vịnh Văn Phong không đơn điệu chút nào. Có những con suối, những trảng cỏ, ốc đảo xanh, có cả mai rừng lấm chấm hoa và tiếng hót trong vắt của những chú chim sơn ca…

Bốn cây số rưỡi lội bộ trên cát, qua hai con dốc cao như một quả núi. Khi những chai nước mang theo vừa cạn thì cả đoàn cũng vừa tới bãi Na. Con tàu của công ty du lịch Văn Phong mang cả đoàn đến bãi Rạn, một bãi biển mà san hô lan đến tận bờ. Một đêm mà bãi Rạn hoang sơ mất đi vẻ “trinh nguyên” khi có một đoàn khách đầu tiên lửa trại vui chơi ca hát thâu đêm để chờ ánh bình minh lên. Ngay khi vừa mới đến bãi Rạn, anh Phương đã lấy máy GPS và bấm thử tọa độ. “Có lẽ sẽ có bất ngờ ngày mai”, anh nói.

Một đêm khó quên đối với mọi người trong đoàn. Cái “gia đình Robinson” ấy người thì dựng lều, kẻ đi kiếm củi, người làm gà, làm cá, người nấu cơm, nướng mồi… Ánh lửa bập bùng soi rọi một bữa cơm dã chiến, những chén rượu đế xoay vòng cùng những màn văn nghệ văn gừng đầy ngẫu hứng…

Sáng sớm, sau “nghi lễ” chụp ảnh quay phim cảnh đón ánh bình minh được “dự kiến” là đầu tiên của đất liền đất nước, cả đoàn lặn lội men theo các vách đá đến mũi Đôi gần đấy để “tái xác định”. Những vách đá cheo leo, vất vả và nguy hiểm cho người leo đến mức có người phải hối hận vì đã lỡ đi theo đoàn.

Lúc 8g sáng ngày 25-5-2008, tại một tảng đá bằng phẳng cách cái mỏm nhọn như sừng tê giác của mũi Đôi vài chục mét, chiếc GPS của anh Phương chấm ra tọa độ là E 109027’899’’ kinh độ, N 12038’941’’ vĩ độ. Cực đông đây rồi, là mũi Đôi của xã Vạn Thạnh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa! Đây cũng là sự khẳng định của người Pháp trước đây, thời chưa có máy GPS. Cả sách giáo khoa của ta cũng khẳng định điểm “rìa đông bán đảo hòn Gốm” này là điểm cực đông chứ không như nhiều tài liệu gần đây đã đề cập.

Lại bàn về điểm cực đông

Trong 4 điểm cực trên đất liền của nước ta, ngoài điểm cực bắc và cực tây đã "yên bề gia thế" thì điểm cực đông và cực nam vẫn chưa rõ ràng. Điểm cực nam cứ vài năm lại bị thay đổi do bồi lấp, thế nên các “chuyên gia” GPS liên tục phải cập nhật các kỷ lục về tọa độ của điểm cực này. Điểm cực đông thì vẫn là đề tài tranh cãi trên các diễn đàn du lịch, hai địa danh được xem xét là Mũi Điện ở Phú Yên và Mũi Đôi ở Khánh Hòa.

Hôm trước, bác Huynh có đăng lại một bài trên Tuổi Trẻ về việc xác định điểm cực đông thông qua tọa độ lấy được bằng GPS. Tuy nhiên, theo em, cơ sở xác định của bài này chưa thật thuyết phục, bởi vì các lý do sau:

- Vị trí lấy tọa độ: ở Mũi Điện, rõ ràng vị trí tại mốc toạ độ biển chưa phải là điểm ngoài cùng phía đông của mũi, còn tại Mũi Đôi thì theo tác giả bài báo, vị trí lấy tọa độ còn cách vị trí xa nhất mấy chục mét.
- Mốc tính toán tọa độ (datum): nói thật là em chả biết gì về tọa độ với cả GPS, nhưng nghe nhiều người nói có hai mốc tính tọa độ là VN2000 và WGS-84, cùng một điểm nhưng nếu lấy khác mốc thì tọa độ có thể sai lệch vài chục đến trăm mét. Theo diễn biến trên diễn đàn caravanviet thì cả tác giả bài báo và người bấm GPS tên Phương đều đã không phân biệt được hai mốc tính toán này.

Vì điểm lấy tọa độ và mốc tính toán không thống nhất nhau, nên các nhóm khi đo thường cho ra các kết quả không giống nhau. Và trong mỗi chuyến đi, mục tiêu của các “chuyên gia” GPS là cố tới được điểm xa nhất để bấm tọa độ, để về nhà còn "khoe hàng" với anh em chiến hữu.

Trong bài này, em không có ý định lạm bàn về vấn đề phải chọn hệ quy chiếu và điểm bấm tọa độ như thế nào. Mục đích của em là cố gắng xác định điểm cực đông trên đất liền dựa vào thông tin mà các tài liệu chính thống đã dẫn và nguyên tắc để chọn điểm cực trên đất liền, cũng như lý giải nguyên nhân dẫn đến sự tranh cãi cho Mũi Điện, Mũi Đôi và cả Hòn Đôi.

1/ Tài liệu: Trang 84 sách địa lý lớp 8 (tái bản lần 4, NXB Giáo Dục, 2/2008) và trang 13 sách địa lý lớp 12 (NXB Giáo Dục, 7/2008) đều cho điểm cực đông ở xã Vạn Thạnh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa, mà không nói rõ là Mũi Đôi. Từ điển bách khoa toàn thư online cho là ở Mũi Đôi. Tài liệu của người Pháp cho Mũi Đôi là cực đông thì em vẫn chưa được tiếp cận. Ngoài ra em chưa tìm được nguồn tài liệu chính thống nào cho rằng điểm cực Đông là Mũi Điện. Nếu bác nào tìm thấy thì bổ sung giúp em.

2/ Tính chất địa lý: Mũi Điện là doi đất nằm trên đất liền, Mũi Đôi là mũi đá nằm trên bán đảo Hòn Gốm, còn Hòn Đôi là đảo. Tùy thuộc vào thủy triều mà Hòn Đôi cách Mũi Đôi ít nhất 500m, vậy thì Hòn Đôi không thể nào là cực đông như một bài báo đã đăng trên Tuổi Trẻ.

3/ Định nghĩa điểm cực trên đất liền và nguyên tắc xác định điểm cực: đền giờ em vẫn chưa tìm được quy định nào về những điều này (cả của Việt Nam, lẫn nước ngoài). Tuy nhiên theo một “phượt gia”: khi thủy triều lên cao thì Mũi Đôi gần như đứng độc lập với đất liền, chưa hiểu gần như là thế nào, khi ghé đây chắc chắn phải hỏi người dân mới được. Như vậy, nếu cho rằng điểm cực trên đất liền phải là điểm luôn luôn dính với đất liền, khả năng Mũi Đôi là cực đông đã bị lung lay.

4/ Định nghĩa đất liền: Đến giờ em vẫn chưa biết định nghĩa chuyên ngành địa lý của đất liền (mainland) là gì. Khi tìm kiếm trên google với cụm từ “definition of mainland” thì được kết quả: “the main land mass of a country or continent; as distinguished from an island or peninsula” hoặc “the main part of a land mass as opposed to an island” hoặc “a continent or the main part of a continent as distinguished from an offshore island or sometimes from a cape or peninsula”. Vậy nếu định nghĩa đất liền là không bao gồm bán đảo thì điểm cực của đất liền không thể nằm trên bán đảo.

5/ Vẻ đẹp của Mũi Điện: ngoài các nguyên nhân, kể trên, với vẻ đẹp quyến rũ của Mũi Điện đã khiến không biết bao nhiêu du khách say mê mà bỏ phiếu cho mình. Nằm cạnh Bãi Môn đẹp tuyệt, Vũng Rô luôn xanh ngắt, lại sát bên Đèo Cả hùng vĩ, có ngọn hải đăng cổ và là di tích lịch sử, nơi cập bến của những con tàu không số... Mũi Điện luôn là mục tiêu của những “phượt gia” không biết mệt mỏi.

Có nhiều "phượt gia" đã chinh phục 3 cực và 1 đỉnh, thì với mục tiêu cuối cùng họ đã chọn Mũi Điện. Bởi thế mà khi tìm kiếm trên google, trong những kết quả hàng đầu, số người cho Mũi Điện là cực đông còn vượt qua số người cho là Mũi Đôi. Không những du khách mà nhiều phương tiện truyền thông, báo chí cũng cho rằng Mũi Điện là điểm cực đông.

Như vậy, trước khi muốn xác định điểm cực đông thì chúng ta cần phải làm rõ nhiều điều. Và rất cần những người có kiến thức chuyên môn rộng tham gia. Nhưng dù gì đi nữa, hai địa danh trên vẫn là hai nơi mà các “phượt gia” không thể không ghé thăm để được đón những tia nắng sớm bên tiếng sóng vỗ rầm rì.

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ Sài Gòn Tiếp Thị, Infonet, TTO, Nhóm Buiduong và nhiều nguồn ảnh khác

Tôi nghĩ chắc nhiều người nghe danh thành phố cảng mác-xây rồi (tiếng pháp viết là Marseilles). Bác Hồ nhà mình đã đặt chân đến đó đầu tiên sau khi đi tàu từ Việt Nam. Ở đây, tôi không nói đến lịch sử và cũng chẳng nói đến Marseilles nhiều. Nói thật nhé, tôi ở Pháp 8 năm rồi, thăm biết bao nhiêu thành phố nên thực sự vẻ đẹp của Marseilles không thể khiến tôi ở lại đó quá 2 ngày. Marseilles thực ra chỉ là một điểm dừng chân tạm thời để tôi khám phá địa danh thiên nhiên khác, rất nổi tiếng trong con mắt dân du lịch bụi Châu Âu nhưng lại vô danh ở Việt Nam : les calanques. Và tất nhiên, phương châm mà tôi đã đặt ra ngay từ đầu khi thành lập blog này là giới thiệu những vẻ đẹp tiềm ẩn không mấy người Việt Nam biết đến. Tôi không muốn những bài viết của mình lại lặp lại so với các bài viết của các phượt tử trên các diễn đàn (phuot.vn , phuot.net, hoi du lich…).

 Vậy calanques là gì ? Đây là một hiện tượng địa chất xảy ra cách đây hàng triệu năm và tạo ra các thung lũng nhỏ áp sát bờ biển, hai bên sườn thung lũng rất sâu,hẹp và dốc. Về mặt hình dạng bề ngoài thì các calanques này khá giống với fjord của Bắc Âu (xem bài khám phá quần đảo Lofoten).  Điểm đặc trưng của các calanque là bề mặt đá vôi hóa thạch của vách núi, có thâm niên hàng chục triệu năm. 


Các calanques này thực ra không chỉ có ở miền nam nước Pháp mà còn ở rất nhiều quốc gia nằm ven rìa Địa Trung Hải (Ý, Croatia, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Tây Ban Nha, …) nhưng các calanques của Pháp và đặc biệt là gần Marseilles thì được quy hoạch tốt hơn cả và được tạo thành rừng quốc gia với các đường đi trekking được chỉ dẫn hiệu quả. Bản thân tôi cũng đã đi qua nhiều danh lam thiên nhiên quanh địa Trung Hải có vẻ đẹp tương tự như calanque nhưng chỉ có của Pháp là được Unesco công nhận là di sản thế giới, có lẽ vì quy mô chiều dài của nó (hơn 30km)

Dọc theo bờ biển gần Marseilles là hơn 30km calanques nhưng không thể nào đi một mạch trong một ngày được vì có những đoạn rất khó leo trèo và đòi hỏi du khách phải là dạng cứng cựa trong lĩnh vực du lịch mạo hiểm và tất nhiên là phải trâu bò một chút. Thêm nữa, đi trekking một mình ở những vùng như thế này thì đòi hỏi phải biết cách đọc bản đồ trekking và xác định phương hướng tốt. Nếu không có 2 khả năng này thì chắc là ngồi khóc. 

bản đồ trekking khác hẳn bản đồ thành phố với nhiều ký tự chuyên ngành. Nếu bạn không biết đọc bản đồ kiểu này thì đừng nghĩ đến chuyện đi trekking một mình
ngoài ra, bạn cần phải con mắt nhạy bén, phát hiện ra các dấu chỉ dẫn đường đi, thường được đánh dấu bằng sơn trên vách đá hoặc thân cây
 Một điểm khó khăn mà tôi gặp phải, đó là cần phải có ôtô  cá nhân thì mới chủ động trong việc đi lại (tôi không có bằng lái). Phương tiện duy nhất có thể dùng được là xe bus nhưng mà tuyến xe bus đến được calanques thì không nhiều. Chính vì thế, tôi phải phân chia cuộc khám phá calanques ra làm 2 ngày. Mỗi ngày tôi dùng xe bus đến một điểm xuất phát và thăm một khúc đoạn rồi đến chiều quay lại Marseilles để hôm sau lại dùng xe bus đến một điểm khác . Vì calanques rất nổi danh trong con mắt dân Pháp nên họ hay đến đây trekking vào mùa hè và đặc biệt là vào cuối tuần. Chính vì lý do đó, tôi phải chọn đến Marseilles vào cuối tháng 4 và vào trong tuần. Tha hồ mà một mình khám phá calanques ! 

Điểm xuất phát đầu tiên của tôi là thị trấn Cassis cách Marseilles 30km về phía đông và hoàn toàn có thể bắt xe bus để đến đó. Từ thị trấn này, tôi đi dọc theo bờ biển và đến calanques đầu tiên có tên là Port Miou. Đây là điểm calanque duy nhất là người ta có thể dùng xe ô tô đến. Sau điểm này là địa phận của công viên quốc gia và du khách chỉ được phép đi bộ. Oái oăm hơn nữa là ở đây cấm không cho cắm lều ngủ qua đêm trong công viên, thế nên buộc phải thăm calanque trong 1 ngày rồi nhanh chóng quay về đại bản doanh ở Marseilles vào buổi chiều. 


 À quên, cũng phải nói thêm là khu vực công viên quốc gia này hay gặp hỏa hoạn vào mùa hè nên không phải calanque nào cũng được cho phép đặt chân đến. Trước hôm tôi đi lại phải hỏi hội tourist office để xem calanque nào được phép thăm. Mà hỏi hội này là phải bằng tiếng Pháp, đồng chí nào mà một chữ bẻ đôi không biết thì miễn đến đây. 


Sau calanque Port Miou là calanque Port Pin, nơi có một bãi biển nhỏ rất đẹp. Màu nước turquoise trong vắt khiến tôi cảm thấy cần phải cởi bỏ hết đồ nghề trekking và ngâm mình cho mát. Tại sao gọi là Pin ? Bởi vì ở đây lốm đốm các cây thông mọc trên bề mặt đá vôi của calanque.  


Điểm tiếp theo, calanque En Vau, theo tôi, là calanque đẹp nhất trong tất cả nhờ vào vực thẳm rất cao và đây cũng là điểm calanque đòi hỏi thể lực cao nhất. Nếu như có một thiên đường hạ giới thì có lẽ En Vau là một trong số đó. 


Những vực thẳm sâu hoắm như những bức tường vôi trắng khổng lồ ngụp lặn thẳng vào làn nước turquoise trong suốt. Và rồi sau đó, một bãi biển nhỏ trốn sâu trong hẻm vực, đánh dấu điểm dừng chân cuối cùng của tôi trong ngày đầu tiên. 

chiều ngược lại, tôi không đi dọc theo bờ biển nữa mà lại đi sâu hơn vào đất liền, lần theo những nẻo đường núi treo leo
 Sau đó, tôi buộc phải dành thời gian quay lại thị trấn Cassis để còn kịp bắt chuyến xe bus cuối cùng quay trở lại Marseilles. Nhưng thay vì lại phải sử dụng con đường cũ để quay lại, tôi sử dụng những con đường núi đi sâu hơn vào đất liền. 


Chỉ dài có 5km nhưng tôi cũng phải mất hơn 2 tiếng mới quay lại được Cassis, một phần là do đường núi mấp mô phần khác là do trời nóng quá.   

Ngày thứ 2 , tôi lại tiếp tục bắt xe bus để khám phá một khúc khác, lần này thì gần Marseilles hơn. Với tổng chiều dài là 15km đi bộ, tôi phải mất gần 7 tiếng hùng hục thì mới hoàn thành xong nghĩa vụ. 


 Ngày thứ 2 này thực sự tốn nhiều năng lượng hơn hôm đầu vì một số đoạn lên xuống gập ghềnh khá là nguy hiểm và đôi khi phải đòi hỏi dụng cụ leo núi.  Leo lên đỉnh đồi Sugiton là chướng ngại vật đầu tiên, rất vất vả. 

đường lên đỉnh Sugiton có nhiều đoạn quanh co và rất hẹp, chỉ rộng khoảng nửa mét và các bước chân rất trơn đòi hỏi phải rất cẩn thận
Tại những nơi như thế này, thường chỉ có dân yêu du lịch mạo hiểm hoặc là người địa phương. Hôm tôi đi thì có gặp 2 nhóm người Pháp, cũng từ các tỉnh lân cận đến

 Có những chỗ rất hẹp và được trang bị sẵn thang leo và dây xích sắt. Tuy nhiên cũng phải sử dụng găng tay và giầy  đặc biệt cho leo núi. Có lẽ vì nguy hiểm như vậy nên ít người ló mặt ở khu này hơn. 

Chỉ có những ai đủ dũng cảm thì mới thử sức với calanque Sugiton, trong đó có một đồng chí bốn mắt Việt Nam. Nhưng khi lên được đỉnh rồi thì miễn chê. Tại đây, có thể có được cái nhìn toàn cảnh dải calanque quanh co dọc theo bờ biển. 

 Thất tuyệt vời ! Những tảng đá vôi trắng muốt pha lẫn với màu cây thông và màu xanh turquoise của biển. 
Sau calanque Sugiton là calanque Morgiou, có lẽ là lớn nhất trong khu vực. Sườn thung lũng khá là sâu. Thi trấn Morgiou nằm tận dưới đáy thung lũng rất đặc trưng kiểu cách Địa Trung Hải bởi đây đã từng là làng chài cá. 



Saturday, 23 June 2012

Sáng mờ sương, chiếc xe loại UAZ 469 huyền thoại chở chúng tôi xuyên qua những trảng cát lúp xúp bụi cây, những đầm phá nhỏ xen giữa các triền đồi thấp. 

Sau chừng 20 phút chạy từ sân bay Cam Ranh, đã thấy trước mặt một vùng trời nước. Vịnh Cam Ranh tĩnh lặng như nàng tiên nằm ngủ yên lành giữa những triền núi thẳm xanh, dù phía xa kia Biển Đông không ngơi sóng gió.

Đặc trưng địa lý khu vực Đông Nam Á với thềm lục địa ngắn, dốc, biển ăn sâu vào đất liền thể hiện rất rõ nơi vùng đất này. Biển đang mênh mông, khi vào đến đây chợt gặp bán đảo Cam Ranh như cánh tay vươn dài, với núi Ao Hồ thuộc phần nam của dãy núi Đồng Bò sừng sững, cao gần 500m án ngữ, bao bọc lấy một vùng nước rộng bên trong. Dường như thấy rằng chừng ấy cũng chưa đủ chở che, thiên nhiên đã kiến tạo thêm một hòn đảo nằm ở đầu mút bán đảo Cam Ranh – đảo Bình Ba, án ngữ nơi cửa vịnh cùng tên.

Ở phần cuối vịnh Bình Ba về hướng tây bắc, biển đột nhiên thu hẹp lại thành một eo nước nhỏ, hai bên là hai mũi đất cao – Mũi Điện và Mũi Hời. Xuyên qua eo Bé là vịnh Cam Ranh mênh mông, thẳm sâu nhưng tĩnh lặng.

Thiên nhiên đã dành cho Cam Ranh một thế núi biển ngọa hổ tàng long. Thế nên, từ lâu vùng đất hiểm trở này đã được sử dụng vào mục đích quân sự. Sau khi khởi sự công cuộc thực dân tại Đông Dương vào nửa cuối thế kỷ XIX, người Pháp đã chọn Cam Ranh để xây dựng quân cảng. Trong cuộc chiến tranh Nga – Nhật hồi đầu thế kỷ trước, khi quân Nga liên tiếp thất trận ở Thái Bình Dương, Nga hoàng Nicholas II đã lệnh cho Đô đốc Zinovy Rozhestvensky chỉ huy Hạm đội Baltic sang Thái Bình Dương tiếp viện. Đội tàu Baltic đã làm một chuyến hải trình từ Đại Tây Dương xuống cực nam châu Phi rồi vòng lên Ấn Độ Dương. Sau khi vào Biển Đông, vào năm 1905, Đô đốc Rozhestvensky đã chọn Cam Ranh làm nơi đồn trú trong chừng một tháng trời để chuẩn bị cho trận hải chiến tại eo biển Tushima.

Khi bóng dáng những chiến hạm của Nga vừa khuất giữa mịt mù sóng nước Biển Đông cũng là lúc người Pháp ráo riết biến Cam Ranh từ một quân cảng nho nhỏ thành căn cứ quân sự lớn, phục vụ cho các chiến dịch thực dân khắp Đông Nam Á. Kể từ giờ phút đó, Cam Ranh với địa thế đắc địa hiếm hoi bên bờ Biển Đông luôn giữ vai trò là quân cảng quan trọng của Pháp. Sau này, người Mỹ cũng đã xây dựng Cam Ranh thành căn cứ không quân, hải quân lớn nhất khu vực Đông Nam Á. Lúc cao điểm, có tới hơn 30.000 quân Mỹ và đồng minh cùng các đội tàu khu trục, hộ tống, tàu đổ bộ và máy bay tuần tra, tiêm kích, cường kích đóng ở Cam Ranh.

Sau ngày đất nước thống nhất, Cam Ranh dần trở thành một căn cứ quân sự lớn của Liên Xô, làm thế đối trọng với quân Mỹ tại căn cứ Subic ở Philippines. Vào thời điểm năm 1986, có tới hơn 6.000 người Nga bao gồm quân nhân, kỹ sư, công nhân đóng tại Cam Ranh, kèm theo đó là một đội tàu hùng mạnh, với khu trục hạm, tiểu khu trục, tàu hộ tống, tàu ngầm hạt nhân và tàu cao tốc. Tháng 5 năm 2002, quân nhân Nga cuối cùng rời Cam Ranh, chấm dứt thời kỳ hiện diện của các lực lượng quân sự nước ngoài tại quân cảng này. Người Nga rời đi, nhưng Cam Ranh với thế núi chở che biển cả vẫn giữ nguyên giá trị chiến lược đặc biệt của mình.

Đến Cam Ranh lần này, chúng tôi không có ý định tìm hiểu nhiều về lịch sử của quân cảng vốn được mệnh danh là “pháo đài bên bờ Thái Bình Dương”. Chúng tôi đến đây để “yết kiến” hai vị vua Đinh Tiên Hoàng và Lý Thái Tổ.

Tên của hai vị hoàng đế thuộc thời kỳ đầu của kỷ nguyên độc lập dân tộc giờ đây được đặt tên cho hai chiến hạm tối tân nhất của một lực lượng Hải quân đang trên đường hiện đại hóa – hai tàu hộ vệ tên lửa lớp Gepard 3.9.

Khi chiếc UAZ 469 còn ở trên triền dốc xa, chúng tôi đã thấy bóng dáng những chiếc tàu xám trên nền nước ửng hồng buổi bình minh. Có thể dễ dàng nhận ra hai chiến hạm Đinh Tiên Hoàng và Lý Thái Tổ qua vóc dáng đồ sộ, cũng như lớp vỏ thép nhẵn nhụi vốn là đặc trưng của những tàu chiến tàng hình, nằm giữa những chiến hạm nhỏ hơn, thuộc các lớp Molniya, đậu theo đội hình gần đấy.

Tàu Gepard 3.9 được đóng tại Nhà máy Zelenodolsk ở nước Cộng hòa Tatarstan thuộc Nga. Đây là loại tàu chiến hiện đại, có khả năng tàng hình và hỏa lực rất mạnh, với hệ thống vũ khí chống ngầm, chống hạm và phòng không ứng dụng các công nghệ mới nhất. Tàu được thiết kế để chịu các điều kiện đại dương khắc nghiệt nhất và có thể hoạt động liên tục trong nhiều ngày liền. Hiện nay, chỉ mới có Nga – nước sản xuất – và Việt Nam đưa vào biên chế hải quân loại tàu này.

Chiếc Gepard 3.9 đầu tiên chính thức được biên chế vào Lữ đoàn 162 thuộc Bộ Tư lệnh Vùng 4 Hải quân đóng tại Cam Ranh vào tháng 3/2011 và được đặt tên theo người anh hùng đã bình định 12 sứ quân để lên ngôi vua – Đinh Tiên Hoàng. Chiếc thứ hai được biên chế vào cùng đơn vị hồi tháng 8/2011, và mang tên vị vua dời đô Lý Thái Tổ.

Như vai trò của hai vị hoàng đế thuộc thời kỳ đầu của kỷ nguyên độc lập, hai chiến hạm Gepard 3.9 mang tên Đinh Tiên Hoàng và Lý Thái Tổ đóng vai trò tiên phong trong công cuộc hiện đại hóa quốc phòng của Việt Nam, với ưu tiên hướng tới Hải quân và Không quân. Chủ trương này đã được Bộ trưởng Bộ Quốc phòng – Đại tướng Phùng Quang Thanh nêu rõ vào ngày 3/8/2011: “Phương hướng xây dựng quân đội sẽ theo hướng cách mạng, chính quy tinh nhuệ, từng bước hiện đại, trong đó Hải quân, Phòng không – Không quân, Thông tin liên lạc, Tác chiến điện tử… đi thẳng vào hiện đại để bảo vệ đất nước”.

Quân đội sẽ từng bước được hiện đại, riêng Hải quân và Không quân sẽ được hiện đại hóa nhanh chóng. Trong xu hướng đó, sắp tới đây, các chiến hạm Gepard tân tiến hơn, với các tính năng chiến đấu mạnh mẽ hơn, sẽ được bổ sung vào lực lượng Hải quân Việt Nam. Song song đó là các nỗ lực tự chế tạo tàu chiến và tên lửa đã, đang và sắp được triển khai.

Lúc tới thăm quân cảng Cam Ranh, chúng tôi đã tận mắt chứng kiến không khí hối hả trên công trường xây dựng căn cứ cho tàu ngầm lớp Kilo. Sau vài năm nữa, một lữ đoàn tàu ngầm hiện đại sẽ chính thức ra mắt tại đây, như chính tuyên bố của Đại tướng Phùng Quang Thanh vào ngày 3/8/2011: “Trước mắt, trong 5, 6 năm tới, ta sẽ có một lữ đoàn tàu ngầm với 6 tàu hiện đại”.

Trong căn phòng nhỏ nằm giữa thân chiến hạm Lý Thái Tổ, Thượng úy Nguyễn Hải Dương dán mắt vào màn hình radar, bên tai anh, chốc chốc lại vang lên khẩu lệnh của Thuyền phó – Thiếu tá Nguyễn Đình Giảng từ phòng chỉ huy trên cao vọng về: “Mạn phải 30, góc tầm 45, mục tiêu bay vào…”. Trên màn hình xuất hiện tín hiệu chiếc máy bay mục tiêu lúc này đang đảo vòng trên bầu trời vịnh Cam Ranh. Chiếc máy bay lúc ẩn lúc hiện, như cố tìm cách thoát ra khỏi “vùng phủ sóng” của radar, nhưng bất kể thế nào, Dương và tổ chiến đấu của anh vẫn khóa chặt được “con mồi”. Nếu đây là thực tiễn chiến đấu, chàng sĩ quan trẻ chỉ cần nhấn nút phát hỏa là mục tiêu bị hạ.

Nguyễn Hải Dương vốn là học sinh chuyên toán ở Nghệ An. Thế rồi tình yêu biển đã thôi thúc anh gia nhập Hải quân. Sau khi ra trường, anh nhanh chóng trở thành một chuyên gia súng pháo, tên lửa cừ khôi trên các tàu tên lửa. Chuẩn bị cho tiến trình hiện đại hóa Hải quân nhanh chóng, Nguyễn Hải Dương cùng nhiều sĩ quan thuộc thế hệ trên dưới 30 tuổi như anh đã được chọn đào tạo bài bản để tiếp nhận loại tàu chiến hiện đại Gepard 3.9. Từ khi lên tàu mới, Dương như chú đại bàng biển mọc thêm cánh. Những kỹ năng chiến đấu của anh và đồng đội không ngừng được hoàn thiện. Chỉ sau một thời gian ngắn, Dương và đồng đội đã làm chủ được con tàu.

Trong chừng hai tiếng đồng hồ, lực lượng trên hai chiến hạm Lý Thái Tổ và Đinh Tiên Hoàng đã thực hành bài bắn hạ mục tiêu trên không. Mục tiêu là một chiếc tàu lượn bay rất cao, ẩn hiện giữa những quầng mây xám trên biển.

Các vị trí chiến đấu từ chỉ huy tàu, sĩ quan tính hiệu, sĩ quan cao xạ, súng, pháo, radar và tên lửa đã phối hợp với nhau nhuần nhuyễn, dồn tất cả hỏa lực vào mục tiêu. Thuyền phó Nguyễn Đình Giảng cho biết: “Đinh Tiên Hoàng, Lý Thái Tổ thuộc thế hệ tàu chiến hiện đại, có khả năng tác chiến độc lập trên biển rất cao. Chiến thuật được áp dụng với loại tàu này cũng có nhiều khác biệt so với truyền thống.

Thế nên, việc đào tạo cho các sĩ quan chỉ huy là rất quan trọng. Anh em chúng tôi ở đây đều là những sĩ quan từng kinh qua các lớp tàu tên lửa thế hệ trước, giờ được đào tạo rất kỹ càng ở trong và ngoài nước nên làm chủ phương tiện rất nhanh. Sau hai năm đào tạo, giờ đây từ sĩ quan chỉ huy tàu tới sĩ quan các bộ phận đều đã thành thạo các kỹ năng chiến đấu”. Còn Thượng tá Đỗ Quốc Tuấn – Thuyền trưởng tàu Đinh Tiên Hoàng chia sẻ: “Không chỉ tiếp thu các thao tác kỹ thuật để điều khiển tàu từ các chuyên gia Nga, anh em còn dịch thuật tài liệu, nghiên cứu các bài tập chiến thuật mới để hoàn thiện kỹ năng chiến đấu. Trên cơ sở chiến thuật của nước ngoài, chúng tôi kết hợp với chiến thuật của Việt Nam, đặc biệt là từ kinh nghiệm chiến đấu của các thế hệ cha anh, để áp dụng vào loại tàu chiến hiện đại này”.

Rời quân cảng Cam Ranh vào buổi chiều muộn, khi buổi thao luyện vừa kết thúc, chúng tôi cảm nhận được nhiệt tình và quyết tâm của các anh qua từng cái bắt tay chắc nịch. Từ những chiếc “xuồng tên lửa”, giờ đây các anh đã bước lên những chiếc tàu chiến tối tân, đại diện cho một lực lượng Hải quân Việt Nam hiện đại.

Từ chốn cỏ lau, Đinh Bộ Lĩnh đã dấy binh dẹp loạn, lên ngôi hoàng đế, đem thái bình thịnh trị khắp cõi trời nam, đặt nền móng vững chắc cho một quốc gia độc lập. Lý Thái Tổ dời đô từ chốn chật hẹp ra chỗ mênh mông, cũng với quyết tâm tạo nên một chỗ đứng vững chắc, một vị thế đĩnh đạc cho nước nhà trong bối cảnh vừa thoát khỏi sự đô hộ của phương Bắc. Trên tinh thần đó, hai chiến hạm Gepard 3.9 ở quân cảng Cam Ranh, mang hiệu hai vị hoàng đế thuộc thời đầu của kỷ nguyên độc lập dân tộc, là một minh chứng cho quyết tâm không gì lay chuyển được, là biểu trưng cho ý nguyện của toàn dân Việt Nam trong việc bảo vệ vững chắc từng tấc đất, tấc biển mà cha ông ngàn xưa để lại.

Tên vịnh Cam Ranh có nghĩa là “bến nước ngọt”, nằm ở cực Nam của tỉnh Khánh Hòa phía Nam Việt Nam, là đỉnh tột cùng nhô ra nổi bật nhất của đường bờ biển hình vòng cung phía Đông Nam Việt Nam, là vị trí yết hầu chiến lược kiểm soát cả Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Khoảng cách từ vị trí này đến tuyến hàng hải quốc tế ở hai đại dương nói trên chỉ bằng hải trình một tiếng đồng hồ, vì thế Cam Ranh có vị trí chiến lược hết sức đắc địa, từ trước đến nay vẫn luôn là vị trí giành giật tất yếu của các nhà quân sự.
Vịnh Cam Ranh bốn bề được bao bọc bởi một quần thể núi đá cao khoảng 400m, ăn sâu vào đất liền 17km, rộng 6km, diện tích thủy vực rộng hơn 100km 2 .

Độ sâu trong vịnh bình quân từ 16 đến 25m, chỗ sâu nhất đến 32m, là một trong những cảng nước sâu tự nhiên có giá trị nhất thế giới. Trong vịnh có thể đỗ được hàng trăm tàu cỡ lớn hàng vạn tấn, kể cả tàu sân bay.

Nội cảng được phân thành hai khu vực là cảng quân sự và cảng thương mại, trong đó cảng quân sự nằm ở thị trấn Cam Ranh bờ phía đông, sâu 14m, có 6 cầu tàu chính, xưởng đóng tàu có thể sửa chữa các tàu cỡ lớn và đóng tàu cỡ nhỏ, còn có kho chứa dầu, kho đạn dược và kho quân nhu đảm bảo cơ sở vật chất, hệ thống trinh sát điện tử và thông tin cũng tương đối hoàn thiện. Khu ngoại cảng hay còn gọi là đảo Bình Ba, sâu trung bình từ 10 đến 22m, tương đối thuận tiện, có đường sắt và đường bộ liền nhau.

Du lịch, GO! - Theo Châu Minh Linh (Báo Petrotimes), ảnh internet

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống