Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Thursday, 28 June 2012

12 trong số 15 món đặc sản Việt Nam đang được đề cử kỷ lục Châu Á dễ dàng tìm thấy tại Hà Nội. Mời bạn cùng dạo một vòng tìm quán ngon dưới đây:

15 món đặc sản Việt Nam đang được tổ chức kỷ lục Việt Nam đề cử để thành các món ăn đạt kỷ lục Châu Á. Đó là: phở, bún chả, chả cá Lã Vọng, bún thang của Hà Nội, bánh đa cua Hải Phòng, cơm cháy Ninh Bình, miến lươn Nghệ An, bún bò Huế, mì Quảng, phở khô Gia Lai, bánh canh Tràng Bảng, bánh khọt Vũng Tàu, gỏi cuốn và cơm tấm Sài Gòn, bánh cóng Sóc Trăng.

Tuy nhiên, nếu bạn ở Hà Nội hoặc có dịp tới Thủ đô, bạn có thể được thưởng thức 12 trong số 15 món kể trên ở những quán dưới đây, đảm bảo bạn sẽ không hối tiếc...

1. Phở bò Hà Nội

Phở là món ăn truyền thống của người Việt, cũng có thể xem là một trong những món ăn đặc trưng nhất cho ẩm thực Việt Nam. Trong đó, nổi tiếng nhất là phở bò Hà Nội.

Phở bò Hà Nội mang hương vị đặc trưng riêng. Vị ngọt lừ nhưng không phải của đường mà của nước xương, của những lát hành tây xắt mỏng. Ăn phở bò Hà Nội phải tinh tế lắm mới cảm nhận được hết cái vị của thảo quả, của sá sùng... cứ quyện đều quyến rũ

2. Bún chả Hà Nội

Giống như phở, bún chả cũng là một trong những món đặc trưng của người Hà Nội. Bún chả có mặt ở khắp các nẻo phố, xóm chợ, thậm chí là trong các ngõ sâu hun hút. Với một phong cách ẩm thực không cầu kỳ, kiểu cách, bún chả trở thành món ăn đặc sắc mà dù ai đi xa cũng nhớ về hương vị quê nhà.

Bún chả thường có có cùng một lúc hai loại chả: Chả viên và chả miếng. Chả viên được làm từ thịt nạc vai lợn băm thật nhuyễn nặn viên, ướp trộn với muối, tiêu, nước mắm trên 35 độ đạm,đường, hành khô băm thật nhuyễn, dầu thực vật hoặc mỡ nước.

3. Bún thang Hà Nội


Trong các món ăn của người Hà Nội, món bún thang tồn tại như một thứ không thể thiếu và không thể trộn lẫn, một hương vị ẩm thực thanh tao như chính bản tính nhẹ nhàng lịch lãm của người Tràng An.

Làm bún thang là một quá trình cầu kỳ, từ phần chuẩn bị đến nấu. Ước tính phải cần đến 20 nguyên liệu mới đủ để làm bún thang như: Rau răm, mùi tàu, trứng gà ráng mỏng, lườn gà xé, giò lụa thái sợi rải đều trên nền bún trắng. Bún phải là loại bún sợi nhỏ, trên rắc tôm bông. Nước dùng phải là loại nước trong, nóng chan vừa bát.

Ăn bún thang kèm gia vị như giấm, ớt, tỏi, hạt tiêu hoặc thêm chút mắm tôm. Sẽ vô cùng thiếu sót nếu viết về bún thang Hà Nội mà không nhắc đến phần đặc biệt nhất của nó: tinh dầu cà cuống. Chỉ cần một chút đầu tăm điểm vào bát bún thang sẽ dậy mùi thơm đặc biệt. Một bát bún thang đầy đủ sẽ không thể thiếu củ cải ngâm, hay còn được biết dưới cái tên gốc Tàu là ca-la-thầu.


4. Chả cá Lã Vọng


Đến du lịch Hà Nội, Chả cá Lã Vọng là tên đặc sản, món ngon Hà Nội đầu tiên bạn nên tìm thưởng thức. Đây là món cá tẩm ướp, nướng trên than rồi rán lại trong chảo mỡ, do gia đình họ Đoàn tại số nhà 14 phố Chả Cá (trước đây là phố Hàng Sơn) trong khu phố cổ giữ bí quyết kinh doanh và đặt tên cho nó như trên.

Patricia Schultz đã đưa món Chả cá Lã Vọng vào cuốn "1.000 nơi nên biết trước khi chết" (1000 Places to See Before You Die).
Cuối năm 2003, hãng tin Mỹ MSNBC đã rút gọn lại và đặt nhà hàng Chả cá Lã Vọng Hà Nội ở vị trí thứ 5 trong 10 nơi nên biết trước khi chết cùng với 9 địa danh, lễ hội nổi tiếng khác trên thế giới.
Món này tương đối nhiều dầu mỡ động vật nên không tốt cho những người có vấn đề về tim mạch.


5. Bánh đa cua Hải Phòng

Bánh đa cua là món quà ngon, bổ dưỡng của người dân miền biển. Dù du nhập vào Hà Nội không lâu nhưng bánh đa cua Hải Phòng đã làm phong phú thêm văn hoá ẩm thực của Hà thành và được đông đảo thực khách yêu mến bởi hương vị đặc trưng, mà lại tốt cho sức khoẻ vì chứa nhiều hàm lượng Canxi và chất Sắt.

Bát bánh đa cua sậm màu nâu đất, sợi bánh mỏng, mềm, dai, giòn, nước dùng thơm ngọt, đậm vị cua và nước xương, chả lá lốt thơm phức, rau cần, rau muống tươi giòn, dậy mùi hành phi cùng các loại tôm, mọc, chả cá tươi ngon là những gì bạn có thể tìm thấy về tại cửa hàng bánh đa cua An Biên trên con phố Triệu Việt Vương.

6. Cơm cháy Ninh Bình

Cơm cháy Ninh Bình là một trong những món ăn đặc sản ẩm thực nổi tiếng của Ninh Bình, hiện nó đang được Tổ chức kỷ lục Việt Nam Vietkings chọn vào danh sách đề cử 15 món ngon nhận kỷ lục châu Á và nhanh chóng được du nhập vào xứ Hà Thành.

Miếng cơm cháy vàng ươm, vừa giòn vừa ngon, ăn khi còn nóng bỏng tay chấm kèm với nước sốt dê nóng hổi thì kêu xèo xèo, bốc khói, tỏa ra mùi thơm ngào ngạt quyến rũ là một đặc sản nổi tiếng của đất Ninh Bình. Tại Hà Nội, bạn có thể thưởng thức món ăn này tại các nhà hàng dê núi trên đường Đại Cồ Việt.

7. Bún bò Huế


Món bún từ cố đô ngày càng phổ biến trên đất Hà Thành. Bún bò Huế có hương vị rất riêng với nước dùng làm từ xương bò hầm chín, có thêm mắm ruốc và chả lợn hay chả bò quyện nhuyễn. Thịt bò thăn hoặc bò bắp, được thái mỏng, nhúng vào nước dùng đang sôi trước khi cho vào bát ( gọi là thịt bò tái), hoặc luộc chín từ trước đó. Bún bò Huế được ăn kèm với rau sống gồm hoa chuối thái mỏng, rau sống các loại, giá đỗ...

Thịt bò thăn hoặc bò bắp, được thái mỏng, nhúng vào nước dùng đang sôi trước khi cho vào bát (gọi là thịt bò tái), hoặc luộc chín từ trước đó.
Bún bò Huế được ăn kèm với rau sống gồm hoa chuối thái mỏng, rau sống các loại, giá đỗ... Tại Hà Nội, ngày càng nhiều quán bún bò Huế xuất hiện, đáp ứng nhu cầu của người dân


8. Mỳ Quảng


Nếu bạn là một người con xứ Quảng sống ở Hà Nội, xa quê, muốn tìm niềm an ủi là được thưởng thức món ăn của quê hương nơi đất khách thì hơi khó. Cộng đồng người Quảng ở đất Hà thành không nhiều như ở Thành phố Hồ Chí Minh nên rất khó để tìm ra một quán ăn Quảng.

Mỳ Quảng là một món ăn hợp khẩu vị của nhiều người với những nét rất đặc trưng: đẹp mắt, ngon miệng, hấp dẫn, bình dị. Tô mỳ ngọt vị nước lèo, thơm của rau sống, hành, ngổ, bùi bùi ngậy ngậy của lạc rang giòn, đậm đà miếng thịt được tẩm ướp kỹ. Vì thế không khó để giải thích vì sao từ Bắc vào Nam, mỳ Quảng lại được ưa chuộng đến vậy.

Quán mỳ Quảng ở Hà Nội khi trước nằm ngay ngã tư Láng - Láng Hạ, từ khi nhà hàng ăn nhanh KFC được xây dựng thì quán đã chuyển đến vị trí mới, trên đường Nguyễn Khang cách đó vài trăm mét. Quán vẫn thế, không lớn, rất giản dị, người phục vụ chân chất nói tiếng Quảng Nam - Đà Nẵng, còn khách hàng thì dường như đều là những người quen cũ.


10. Phở khô Gia Lai


Khác hoàn toàn với những loại phở thông thường, phở khô rất đặc biệt, sợi nhỏ, săn, hơi dai, nhờ vậy mà khi trộn đều lên dễ thấm gia vị mà không bị nát. Phở khô hay còn gọi là phở "hai tô” là một món ăn rất đặc trưng của vùng đất Tây Nguyên nói chung và người Gia Lai nói riêng.

Phở "hai tô" gồm một tô phở khô và một bát nước dùng có thịt bò trong nước. Phở khô rất đặc biệt, khác hoàn toàn với những loại phở thông thường, sợi phở nhỏ, săn và hơi dai, nhờ vậy mà khi trộn đều lên rất dễ thấm gia vị mà không bị nát.


Vị béo của bánh, bùi của lạc, mặn mòi khó tả của nước tương cùng nước súp trong vắt là những gì bạn có thể cảm thấy khi thưởng thức món ăn của miền đất đỏ Tây Nguyên tại quán phở khô trên phố Kim Hoa (gần hầm Kim Liên).

11. Cơm tấm Sài Gòn

Cơm tấm Sài Gòn là món ăn đặc sản của miền Nam Việt Nam. Gạo tấm là kết tinh của hạt gạo. Phần mầm gạo chứa đầy dinh dưỡng này chính là phần quan trọng làm nên vị dẻo thơm đặc trưng của từng loại gạo khác nhau, tạo thành thứ cơm đặc trưng của Việt Nam - cơm tấm.

Cơm tấm là sự kết hợp hài hòa giữa những hạt cơm trắng nhỏ, miếng sườn nướng cháy cạnh, bì thơm giòn hay trứng chưng béo mềm, trứng ốp la béo ngậy. Ăn cơm tấm phải có nước mắm ngọt chấm kèm. Món ngon Sài thành này được bán tại nhiều phố của Hà Nội như Giảng Võ, Tràng Thi, Trần Hưng Đạo, Lý Thái Tổ.

12. Miến lươn Nghệ An

Người thì cho là súp, kẻ khác lại cho là miến. Nhưng miến lươn vẫn là một trong những món ăn rất phổ biến tại Hà Nội.

Theo đó, có rất nhiều hàng quán đề biển miến lươn Nghệ An mọc lên, thu hút được một lượng lớn khách hàng đến với quán bởi trong suy nghĩ của nhiều người, lươn Nghệ An là thứ lươn béo, chắc, ngọt thịt nổi tiếng cả nước.

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ Afamily và rất nhiều nguồn khác
Từ thị trấn Tĩnh Gia (nằm trên Quốc lộ 1A) bạn có thể đi một giờ “xe ôm” hoặc xe đò ra tận xã đảo Nghi Sơn mà trên bản đồ địa lý Việt Nam ghi là cù lao Bãi Biện hay Biện Sơn.

Hòn đảo này (có lẽ là bán đảo thì đúng hơn) như một cánh tay khổng lồ chìa ra biển, ôm gọn trong lòng nó một vụng nước với độ sâu thích hợp làm nơi cho tàu thuyền ẩn náu mỗi khi bão gió.

Nghi Sơn cách Sầm Sơn 40km đường biển, cùng nằm trên một vỹ độ nhưng khí hậu mùa hè trong lành mát mẻ hơn nhiều. Có thể bạn vừa trải qua một chặng đường xe cộ vất vả nhưng đến Nghi Sơn, đứng trên đỉnh đảo có độ cao trên 100 mét so với mặt nước biển, bạn sẽ thấy những giọt nước li ti như màn sương mỏng đang phả vào mơn man da thịt, gây ra cảm giác sảng khoái.

Ở Nghi Sơn, bạn có thể lên núi Ngọc, thăm khu thành cổ như thành Đồn, thành Hươu, thành Ngọc. Trong khu thành cổ này, người ta đã phát hiện ra những mũi tên đồng, những mảnh gốm vỡ có tuổi thọ từ rất xưa. Dưới chân núi Ngọc, hãy còn giếng Ngọc, ghi dấu ấn một thiên bi tình sử thời Âu Lạc.

Tương truyền khi An Dương Vương cùng con gái bị Triệu Đà đuổi đến đây, được thần Kim Quy hiện lên mách bảo, ông đã quay lại chém Mỵ Châu rồi rẽ nước đi ra biển. Trọng Thuỷ đến giếng Ngọc biết rõ sự tình, bèn nhảy xuống giếng tự tử. Máu Mỵ Châu hoà vào nước biển, trai biển nào ăn được biến thành ngọc trai. Ngọc trai mò được ở vùng biển này, chỉ có rửa nước giếng Ngọc mới trong sáng. Thành Ngọc vẫn còn lại vòm cổng và hai khẩu súng thần công đặt ở đây từ vương triều Nguyễn do một viên chánh lãnh binh và một toán lính tráng trông coi.

Ngoài ra, ở đây còn có đền thờ Trần Quý Phi (còn gọi đền Vua Bà hay đền Rắn). Trần Quý Phi là vợ Long Vương. Bà là nhân thần, bảo hộ, che chở cho ngư dân trên cù lao Bãi Biện vượt sống gió trùng khơi, mang về những khoang cá đầy, tạo dựng cuộc sống bình yên giữa mênh mang trời biển luôn luôn ẩn chứa những tai hoạ.

Năm 1789, Nguyễn Huệ lấy Biện Sơn làm căn cứ hải quân hợp cùng các đạo quân trên bộ thần tốc kéo ra Thăng long. Lúc cất quân nhà Vua đã đến đền thờ Trần Quý Phi khẩn cầu mong được phù hộ. Đại thắng quân Thanh, nhà vua đã quay lại tạ thần. Hoàng đế Khải Định sắc phong bà làm Thượng đẳng thần tối linh. Ngày 22 tháng 4 âm lịch hàng năm, nhân dân trong vùng tổ chức lễ hội để tưởng nhớ công lao Trần Quý Phi.



Về với xã đảo Nghi Sơn hôm nay, ta dễ dàng thấy được những đổi thay trong cuộc sống của người dân nơi đây. Hầu hết các con đường trong xã đã được bê tông hóa, những ngôi nhà cao tầng mọc lên san sát, những con tàu nối đuôi nhau ra vào bến tấp nập, không khí sinh hoạt, buôn bán trên biển, dưới thuyền thật náo nhiệt.

Xã đảo tách biệt với các xã lân cận, nhân dân từ bao đời nay có nghề truyền thống khai thác đánh bắt và nuôi trồng hải sản, vì vậy kinh tế biển được Nghi Sơn xác định là mũi nhọn. Đảng bộ, chính quyền xã đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để nhân dân được vay vốn  từ các chương trình, dự án, ngân hàng đầu tư đóng mới và cải hoán tàu thuyền, trang bị thêm ngư lưới cụ để vươn  khơi. Bán đảo có nhiều phong cảnh đẹp nhưng du lịch vẫn chỉ là tiềm năng chưa được phát huy.

Du lịch, GO! - Theo Tinthanhhoa và nhiều nguồn khác
Bức tượng trong tư thế ngồi trên ngai, tay cầm văn tự bỗng dưng đứng lên nhẹ nhàng, khoan thai, rồi lại từ từ ngồi xuống.

Bức tượng đứng lên, ngồi xuống

Bảo Hà là ngôi miếu thuộc ba thôn: Bảo Động, Hà Cầu và Mai An của xã Đồng Minh huyện Vĩnh Bảo, TP Hải Phòng, miếu còn có tên là Tam xã thượng đẳng từ. Du khách thập phương sẽ không khỏi ngạc nhiên khi đến thăm ngôi miếu cổ này bởi một pho tượng kỳ lạ có thể ngồi xuống đứng lên như người thật.

Không giống như các pho tượng tại nhiều đền đài, miếu mạo, bức tượng thờ Đức Linh Lang Đại vương ở miếu Bảo Hà trong tư thế ngồi trên ngai, tay cầm văn tự có thể chuyển động, bỗng dưng đứng lên một cách nhẹ nhàng, khoan thai, rồi lại từ từ ngồi xuống.

< Bức tượng Đức Linh Lang Đại vương là một sự sáng tạo độc đáo của những người thợ tạc tượng làng Bảo Hà. Bí mật về sự chuyển động của bức tượng nằm ở cánh cửa ngay điện thờ.

Theo thần phả, Linh Lang là con vua Lý Thánh Tông sinh nhằm ngày 13, tháng Chạp, năm Giáp Thìn (1064), được đặt tên là Hoằng Chân, mẹ là cung phi thứ 9, quê ở Bồng Lai, Đan Phượng, trấn Sơn Tây (nay thuộc Hà Nội). Linh Lang được sinh ra tại làng ở Trị Chợ, Thủ Lệ (quận Ba Đình ngày nay).

Khi giặc Tống xâm lược nước ta, hoàng tử đã cầm quân chống giặc. Trong một đợt hành quân, ngài đã tới trang Linh Động (làng Bảo Hà ngày nay) dựng đồn binh, luyện tập binh sĩ, tuyển mộ quân. Khi ngài mất, dân làng xây miếu thờ ngay trên nền đồn binh xưa.

Các triều đại sau như Cảnh Thịnh (1796), Tự Đức, Duy Tân và Khải Định đều phong sắc cho ngài là thượng đẳng thần, còn dân làng tôn ngài là thành hoàng và tạc tượng thờ.


< Ngôi miếu cổ Bảo Hà là nơi hội tụ tinh hoa văn hóa làng nghề chạm khắc truyền thống.

Tượng Linh Lang Đại vương trong hậu cung của Tam xã thượng đẳng từ là một bức tượng độc đáo, hiếm gặp trong số những bức tượng hiện có ở Việt Nam. Cụ Nguyễn Văn Nghĩa – Trưởng Ban quản lý di tích miếu Bảo Hà cho biết “Miếu Bảo Hà có không gian kiến trúc không lớn nhưng ở đây, dân làng còn lưu giữ được nhiều di tích quý tiêu biểu cho nghệ thuật điêu khắc qua nhiều thế hệ của người Linh Động, Hà Cầu xưa.

Bức tượng gần 700 tuổi này là sự sáng tạo “độc nhất vô nhị” của tổ tiên, là sự kết hợp tài tình giữa nghệ thuật tạc tượng và nghệ thuật múa rối. Những nghệ nhân xưa đã sử dụng cách chuyển động trong múa rối để “thổi hồn” vào bức tượng để trở nên kỳ lạ, huyền bí. Người dân ở vùng này coi đây là một báu vật, biểu tượng của một ngôi làng truyền thống”.


< Tượng thờ Tổ nghề tạc tượng làng Bảo Hà Nguyễn Công Huệ.

Bí mật về sự chuyển động của bức tượng Đức Linh Lang Đại vương nằm ở cánh cửa ngay điện thờ, khi mở dần cánh cửa thì bức tượng dần đứng lên nhưng khi khép lại thì bức tượng lại trở về tư thế ngồi ban đầu. Sự chuyển động của bức tượng đã khiến cho những người đến đây trầm trồ khen ngợi về sự tài hoa của người thợ làng Bảo Hà và làm cho ngôi miếu này trở nên linh thiêng.

Đàn voi được tạc từ... 7 hạt gạo nếp

Nhắc đến làng Bảo Hà xã Đồng Minh là nhắc đến một địa danh nổi tiếng ở đất Hải Phòng về nghề truyền thống như tạc tượng, múa rối. Múa rối nay đã trở thành bộ môn nghệ thuật độc đáo.

Người có công sáng lập truyền dạy nghề cho dân làng Đồng Minh – Vĩnh Bảo đó chính là cụ Nguyễn Công Huệ. Tương truyền, khi giặc Minh đô hộ nước ta, cụ Nguyễn Công Huệ cùng một số thanh niên trai tráng bị bắt đi phục dịch và bị đưa sang Quan Xưởng ở Trung Quốc làm việc. Trong thời gian đó, cụ đã chú tâm học nghề chạm khắc, sơn mài và châm cứu.


< Nghề tạc tượng truyền thống vẫn được duy trì cho đến ngày nay.

Đến đời Lê Nhân Tông (1443- 1459), cụ Huệ trở về và dạy nghề tạc tượng cho dân làng. Mọi người suy tôn cụ là Tổ nghề tạc tượng và được phối thờ tại miếu Bảo Hà. Tượng Nguyễn Công Huệ được bày ở vị trí cao nhất trên bàn thờ tả gian của nhà tiền đường.

Một trong những học trò nổi tiếng của cụ Nguyễn Công Huệ là người thợ tạc tượng tài ba tên Tô Phú Vượng. Nhân dân trong làng có truyền tụng giai thoại “7 hạt gạo nếp tạc thành đàn voi” để ca ngợi sự tài hoa trong đôi tay người thợ tạc tượng Bảo Hà.

Cụ Vượng rất vui mừng khi được vua Lê Cảnh Hưng vời vào cung tạc ngai vàng. Sau khi tạc xong một kiệt tác, cụ đã ngồi thử ngai vàng. Bị thái giám phát hiện, cụ khép tội “khi quân phạm thượng”, phải ngồi trong ngục chờ ngày xử trảm.


< Một nghệ nhân múa rối bên cạnh chú Tễu.

Cụ Vượng ngồi trong ngục mấy hôm cảm thấy “ngứa nghề” không chịu nổi. Nhìn những cọng rơm nếp còn sót một vài hạt thóc, bằng bàn tay khéo léo và trí tưởng tượng tuyệt vời của mình, một đàn voi 7 con với các tư thế khác nhau đã ra đời từ 7 hạt gạo nếp. Chuyện này truyền đến tai nhà vua, cảm phục tài của cụ, vua Lê đã quyết định tha bổng và phong cụ tước “Kỳ tài hầu” cho về quê mở mang, lưu truyền nghề nghiệp.

Nghề tạc tượng và múa rối là nghề truyền thống biểu hiện sinh động cho tinh thần đoàn kết trong cộng đồng cư dân trồng lúa nước, là điển hình của một làng quê yêu nghệ thuật của huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Rất nhiều những bức tượng đẹp trong các chùa như chùa Mía, chùa Thầy tương truyền là do những người thợ tài ba làng Bảo Hà sáng tạo ra.

Được Nhà nước công nhận là Di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1991, miếu Bảo Hà được coi là nơi hội tụ tinh hoa văn hóa làng nghề. Ngôi miếu do chính bàn tay của những người thợ tài hoa thế kỷ XIII chạm trổ hoa văn tinh xảo, đẽo tạc những bức tượng đẹp lưu giữ cho tới muôn đời sau đã trở thành một địa điểm thăm quan thú vị trong tuyến du lịch du khảo đồng quê của Hải Phòng.


Du lịch, GO! - Theo Ngọc Khánh (GDVN)

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống