Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Sunday, 1 July 2012

Quảng Bình được nhiều du khách biết đến bởi các danh lam thắng cảnh và những bờ biển đẹp làm say đắm lòng người, đặc biệt nơi đây còn có nhiều món ăn khiến ai đã từng được thưởng thức đều nhớ mãi không quên...

Nhiều khách du lịch trong và ngoài nước đến Quảng Bình tham quan và  thưởng thức những món ăn đặc sản đều có chung nhận xét, hải sản ở Đồng Hới rất phong phú và tươi ngon.
Đúng vậy, thiên nhiên biển trời đã ưu đãi dành tặng cho vùng đất này những miếng ngon, vật lạ với đầy đủ các loại hải sản ở nước ngọt, nước lợ và nước mặn. Bên cạnh đó, những con mực, con tôm, con cá...dưới bàn tay khéo léo của người dân Quảng Bình đã được chế biến thành những sản phẩm ẩm thực ngon thượng hạng. Có lẽ vì vậy, du khách dù đã nếm đủ sơn hào hải vị các vùng miền, vẫn cho rằng món ăn ở đây có hương vị đậm đà riêng.

Đến thị xã Hoa Hồng, khi màn chiều vừa buông xuống, du khách ghé vào đâu đó trong những quán nằm trên dãy kè biển Nhật Lệ là đã có thể cảm nhận và thưởng thức nhiều món biển đầy hấp dẫn. Chỉ với một bếp than nhỏ và cách nấu không rườm rà qua nhiều công đoạn, du khách nhanh chóng được nhâm nhi đủ các loại hải sản như: cá, tôm, sò, nghêu, ốc...theo hai cách là nướng và hấp tùy theo yêu cầu. Đây được coi là cách ẩm thực độc đáo của người dân vùng biển “ăn sóng nói gió” bởi hải sản dù đã nấu chín nhưng vẫn giữ được nguyên mùi vị đặc thù tươi rói, khi ăn thì béo và ngọt sắc.

Trong đó, món sò huyết, hàu, chép chép khi hấp lên thì hăm hắp nước và ngọt lịm; cá mú, cá hanh, cá chim nướng thì tươi ngon và béo ngậy, còn mực thì ngọt và giòn... Đáng nói hơn, thú ẩm thực nơi đây còn gắn liền với không gian và cảnh sắc yên bình của biển Nhật Lệ. Trong không gian của biển trời mênh mông, sông nước hữu tình và gió trời lồng lộng, du khách vừa thưởng thức món ăn dân dã vừa ngắm cảnh hoàng hôn từ từ buông xuống.

Đặc biệt, du khách còn được giới thiệu một trong những món hải sản tươi ngon, bổ dưỡng và được coi là độc chiêu, đó chính là đẻn biển. Có thể nói, món ăn này đã trở thành niềm tự hào của người dân xứ sở và chúng tôi tin rằng, khi thưởng thức đẻn biển, ngay bản thân người bản địa cũng sẽ thấy tự hào với những đặc sản lạ và ngon đến bất ngờ. Tuy được chế biến dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng món đẻn ở thành phố Đồng Hới được nhiều người biết đến nhất là tiết đẻn pha rượu trắng và ram đẻn.

Hãy một lần nhấm nháp hương vị của rượu tiết đẻn thì bạn sẽ cảm thấy cái vị ấm nồng và hơi chát hòa lẫn tạo nên cảm giác rất khó quên. Ngoài rượu đẻn thì ram cũng là một món cực ngon. Vị đặc trưng của ram đẻn nơi đây thật khó để diễn tả hết bằng lời. Với cách làm thật đơn giản, những con đẻn được làm sạch sẽ, băm thật nhuyễn rồi cho gia vị vào trộn đều, sau đó cuốn lá lốt thành từng chiếc ram nhỏ và cho lên chảo rán đều. Khi ấy, du khách sẽ cảm nhận được một mùi thơm bốc lên thật cuốn hút. Một đĩa ram đẻn nóng hổi thơm ngon sẽ khiến du khách bốn phương muốn ở mãi không về...

Ẩm thực Quảng Bình còn phong phú và đa dạng với nhiều món bánh như: bánh bèo, bánh lọc, bánh xèo, bánh đúc, bánh khoái...mà khi du khách thưởng thức đều thấy món nào cùng ngon, cũng khoái và nhớ mãi không quên. Bánh xèo gạo lứt Quảng Hòa là một món ăn có tiếng và được nhiều du khách du lịch tìm mua để thưởng thức.

Bánh được làm từ gạo đỏ, qua nhiều công đoạn chế biến thủ công cho thành thứ nước bột gạo, rồi dùng khuôn tráng bánh và cho thành sản phẩm. Bánh xèo ăn ngon nhất là lúc vừa tráng xong, tráng tới đâu ăn tới đó và ăn kèm với mộng giá, rau sống, bánh đa và nước chấm.

Còn nếu lạc chân về con đường Lê Thành Đồng (Đồng Hới), du khách khó có thể cầm lòng bỏ lỡ cơ hội thưởng thức từng chiếc bánh mới nấu nóng hổi với tên gọi bánh bột lọc. Món bánh bột lọc tôm sông được làm từ hai nguyên liệu chính là bột sắn và tôm.

Sau khi qua nhiều giai đoạn xay, lọc và nhào khá công phu, người làm bánh sẽ có một thứ bột trắng tinh, thơm và dẻo. Đem vắt mỏng bột sắn thành từng miếng vừa miệng ăn, rồi bỏ vào trong mỗi miếng là một con tôm sông đã được rim kỹ cùng vài sợi nấm tai mèo thái mỏng và dùng lá chuối sứ gói bánh chặt lại. Công đoạn cuối cùng là hấp bánh lên cho đến khi bánh chín chuyển sang màu đục trong suốt thì bắt đầu đưa ra khỏi nồi...

Kể về những món ăn dân dã và đặc sản Quảng Bình thì còn rất nhiều, song cũng như bao vùng đất khác, ngoài những món ẩm thực được dùng tại chỗ thì Quảng Bình còn có những sản phẩm ẩm thực phục vụ cho khách du lịch làm quà cho người thân, bạn bè và gia đình. Trong đó, hầu hết các sản phẩm ẩm thực phục vụ du lịch đều gắn liền với những làng nghề nổi tiếng được hình thành và phát triển cùng với đời sống sinh hoạt của cộng đồng dân cư trong lịch sử như: bánh tráng Tân An, xã Quảng Thanh (Quảng Trạch), hải sản khô xã Bảo Ninh, ruốc Hải Thành (Đồng Hới), nước mắm Đức Trạch (Bố Trạch), khoai deo Hải Ninh, rượu Võ Xá (Quảng Ninh)...

Điều đáng nói, các sản phẩm của các làng nghề không chỉ đơn thuần có giá trị sử dụng và phục vụ cho hoạt động du lịch mà ở đó còn kết tinh các giá trị văn hóa truyền thống đang được người dân Quảng Bình lưu giữ và nâng niu.

Du lịch, GO! - Theo Ngọc Lưu (Quảng Bình Online), ảnh sưu tầm

Saturday, 30 June 2012

Đi du lịch nhưng không mang theo điện thoại, không được nhận sự trợ giúp của người thân và... không mang theo tiền! Kiểu du lịch “3 không” này đang được nhiều bạn trẻ “kết” để thử thách chính mình.

Một ngày giữa tháng 6, nghe lời rủ rê có chút khiêu khích từ đứa bạn: “Đi thử cho bớt chất công tử!”, tôi thoáng ngần ngừ rồi tặc lưỡi:”Ừ, thì đi...!”.

Chật vật kiếm tiền...

8g30 sáng chủ nhật 24-6. Tại điểm tập kết là trạm xe buýt ngã tư Điện Biên Phủ - Võ Thị Sáu, chúng tôi gửi lại đồ đạc cho một người bạn (không tham gia chuyến đi), chỉ giữ lại chứng minh nhân dân với 90.000 đồng/người - đủ để đón xe ra Vũng Tàu. Từ đó trở đi, mọi chi phí sẽ phải tự thân vận động.
9g, cả nhóm bốn người đã ngồi trên xe khách chuyến bến xe miền Đông - Vũng Tàu. Lần đầu đi du lịch kiểu này, bạn Đặng Nguyễn Đỗ Quyên (dược sĩ) không giấu được vẻ lo lắng: “Chẳng biết có trụ nổi tới cuối chương trình không vì chẳng còn gì trong tay cả”.

Lục khắp người, bạn Huỳnh Thị Kim Phụng lôi ra bịch khăn giấy nhỏ, gợi ý: “Hay là xếp hoa giấy đem bán”.

Nghe loáng thoáng câu chuyện của mọi người, bác Nguyễn Hàng Châu (hành khách ngồi cạnh Phụng) lắc đầu... Vậy mà nửa tiếng sau, bác Châu đã bị Phụng thuyết phục mua “mở hàng” một bông hồng giấy với giá 50.000 đồng...

11g30. Khu vực bãi sau Vũng Tàu đầy nắng rát. Cả nhóm ngồi cặm cụi gấp hạc từ những chiếc vé xe khách xin được, mồ hôi nhễ nhại. Hạc giấy, hoa hồng giấy sẽ bán với giá 20.000 đồng/cái. Biết là giá cao, nhưng đó là cách duy nhất để chúng tôi kiếm đủ tiền ăn trưa và mua vé xe về TP.HCM.

Phần lớn khách du lịch đang quây quần ăn, ai cũng nhíu mày khi chúng tôi sà vào mời mua hàng. Mất hơn một tiếng thuyết phục, giải thích mục đích chuyến đi, cả nhóm vẫn chưa bán thêm được thứ gì trong khi bụng đã đói meo. Tới gần 14g, chúng tôi mới bán được thêm vài món.

Lấy tiền mua đồ ăn trưa thì tiền đâu về lại TP? Cả nhóm quyết định... đi xin. Một anh phục vụ ở nhà hàng TT (đường Thùy Vân) sau khi nghe chúng tôi trình bày, đã đem trà đá và một ít bánh kẹo ra cho. Một anh bán kem dạo đứng gần đó cũng góp thêm vài que kem nhỏ.

< Bạn Huỳnh Thị Kim Phụng (thứ hai từ phải) thuyết phục một du khách mua hoa hồng bằng giấy ở bãi biển Vũng Tàu trưa 24-6.

16g. Số tiền thu về chưa tới 200.000 đồng. Không đủ tiền đón xe khách về TP, chúng tôi chọn cách đón xe buýt dù.
20g. Ngồi trên xe, thấy những tòa nhà cao tầng ở TP dần hiện ra, cả nhóm thở phào nhẹ nhõm...

Mất và được

Phải cố gắng hạ cái tôi xuống, phải tập cười, kiên nhẫn thuyết phục trước sự hoài nghi từ người đối diện, phải nỗ lực trong cái đói để tìm cách tồn tại... Đó là những gì chúng tôi thu hoạch được từ chuyến đi ngắn ngủi trong ngày.
Trên xe buýt, cẩn thận đếm từng đồng tiền lẻ, Quyên nói: “Bình thường hứng lên là đi shopping mà không thấy tiếc tiền. Có vào hoàn cảnh này mới biết quý tiền bạc”.

Lý Huệ Thủy (25 tuổi), một bạn trẻ từng đi du lịch “3 không”, cho biết: “Sau chuyến đi tôi thấy bớt lo lắng, ám ảnh về việc sống thiếu tiền, công nghệ”.

“Người tham gia du lịch “3 không” cần học một số kỹ năng để có thể trò chuyện, thuyết phục người mua mà không khiến họ cảm thấy bị làm phiền hoặc mua vì thương hại” - Hoàng Anh Quân, người thực hiện thành công hai lần du lịch “3 không”, chia sẻ. Quân cũng rất bất ngờ khi nhận ra trong xã hội hiện nay, người nghèo lại dễ mở lòng giúp đỡ những ai gặp khó khăn hơn là người giàu. “Tôi thấy hối hận khi luôn xem thường người nghèo và hay nghi ngờ, tính toán với bạn bè” - Quân nói.

Còn anh bạn người Pháp Thibault Mavel (21 tuổi, sinh viên ngành nhân sự Trường IGS, Pháp) đúc kết: “Tôi tham gia kiểu du lịch này để cải thiện sự thiếu tự tin. Cảm giác chiến thắng được chính mình thật tuyệt”.

Thử thách cần cho người trẻ

Du lịch “3 không” được khởi phát từ khóa học “Làm chủ bản thân và giải tỏa stress” của giảng viên Nguyễn Đức Quý (Công ty Prosales) từ tháng 5-2011, sau đó dần được phổ biến trong giới sinh viên một số trường như ĐH Ngoại thương, ĐH Kinh tế TP.HCM...

Chia sẻ về mô hình du lịch trên, ông Quý cho biết: “Ở Mỹ có một số chương trình huấn luyện kỹ năng sống đòi hỏi học viên đến một địa điểm bất kỳ, không được mang theo tiền. Học viên có nhiệm vụ khám phá nơi đó và tìm cách trở về an toàn. Tôi tìm hiểu và thiết kế lại chương trình với đòi hỏi cao hơn: học viên không được mang theo tiền, các thiết bị điện tử hay nhờ người thân trợ giúp”. Ông Quý đã áp dụng mô hình trên dưới dạng bài kiểm tra cuối khóa nhằm giúp học viên tự đánh giá, nhìn nhận bản thân.

Theo ông Quý và nhiều bạn trẻ từng đi du lịch “3 không”, điều quan trọng nhất thu hoạch được từ những chuyến đi đầy thiếu thốn chính là người đi học được cách lắng nghe, nâng cao khả năng giao tiếp, quản lý cảm xúc và làm chủ bản thân.

Du lịch, GO! - Theo C.NHẬT - K.THÁI (TTO), internet
Tổ chức Kỷ lục Việt Nam chính thức công bố chín kỷ lục Việt Nam trong lĩnh vực biển và hải đảo nhân tuần lễ Biển & Hải đảo Việt Nam diễn ra từ ngày 5 -8/6/2012 tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

< Bãi biển Trà Cổ.

1. Bãi biển Trà Cổ - Bãi biển dài nhất

Bãi biển Trà Cổ thuộc tỉnh Quảng Ninh nằm ở cực đông bắc của Tổ quốc, nơi giáp ranh giữa Việt Nam và Trung Quốc. Bãi biển Trà Cổ là bãi biển dài nhất Việt Nam với chiều dài 17 km, diện tích khoảng 170 ha cong hình vành khuyên, trải từ Mũi Gót phía bắc đến Mũi Ngọc ở phía nam.

Bãi biển Trà Cổ được đánh giá là một trong những bãi biển đẹp nhất Việt Nam. Quanh bãi biển Trà Cổ có các địa danh du lịch như Nhà thờ Trà Cổ, Đình Trà Cổ. Lễ hội Đình Trà Cổ từ 30/5 – 6/6 hàng năm. Đây là một hoạt động văn hóa thu hút khách du lịch.

2. Vịnh Hạ Long - Vịnh có nhiều đảo nhỏ nhất

Vịnh Hạ Long thuộc tỉnh Quảng Ninh (Việt Nam), nằm ở bờ Tây vịnh Bắc bộ. Với diện tích rộng 1.553 km² bao gồm 1.169 hòn đảo lớn, nhỏ, trong đó 95% là các đảo đá vôi cùng với những giá trị về cảnh quan; giá trị đa dạng sinh học; giá trị địa chất địa mạo và giá trị lịch sử, văn hóa, vịnh Hạ Long đã được công nhận là di tích danh thắng cấp quốc gia và di sản thế giới.

Năm 1962, vịnh Hạ Long được Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa Thể thao & Du lịch) Việt Nam xếp hạng di tích danh thắng cấp quốc gia (Di sản quốc gia Việt Nam). Ngày 17/12/1994 Hội nghị lần thứ 18 của Ủy ban Di sản Thế giới họp tại Phuket (Thái Lan) đã công nhận vịnh Hạ Long vào danh mục Di sản Thiên nhiên Thế giới với giá trị ngoại hạng toàn cầu về mặt thẩm mĩ (tiêu chí VII) theo tiêu chuẩn của Công ước Quốc tế về Bảo vệ Di sản Tự nhiên & Văn hóa của thế giới.

Ngày 2/12/2000 Hội nghị lần thứ 24 của Hội đồng Di sản Thế giới họp tại thành phố Cairns, Queensland, Australia, đã công nhận vịnh Hạ Long là di sản thế giới lần thứ hai theo tiêu chuẩn (VIII) về giá trị địa chất địa mạo. Tổ chức kỳ quan thiên nhiên của thế giới mới (New Open World Corporation) đã vận động bình chọn các kỳ quan thiên nhiên thế giới mới và Vịnh Hạ Long đã vượt qua 21 ứng cử viên sáng giá khác để trở thành một trong bảy kỳ quan thiên nhiên mới của thế giới.

3. Tam Giang - Cầu Hai - Đầm phá lớn nhất

Tam Giang - Cầu Hai (thuộc địa phận tỉnh Thừa Thiên - Huế) là hệ đầm phá lớn nhất và tiêu biểu nhất của Việt Nam, với diện tích mặt nước rộng 21.600 héc ta, chiếm 48,2% tổng số diện tích mặt nước các đầm phá ven bờ Việt Nam. Về quy mô, Tam Giang - Cầu Hai là đầm phá lớn nhất ở Đông Nam Á và thuộc loại lớn trên thế giới.

Hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai dài 68 km, rộng nhất là 8 km, hẹp nhất là 0,6 km, có độ sâu trung bình 1,5 - 2m và được chia thành ba phần: phía bắc là phá Tam Giang, ở giữa là An Truyền và Thủy Tú và phía nam là đầm cầu Hai. Vực nước có thể tích trung bình 300 triệu m3, khi có mưa lũ lên đến trên 400 triệu m3. Vực nước đầm phá thống với biển qua hai cửa Tư Hiền (phía nam) và Thuận An (phía bắc). Hai phía đầm phá phát triển các thềm, bãi cao 2-4 m cấu tạo bằng cát, bột cát. Hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai có khoảng 900 loài sinh vật, đặc biệt có bảy loài cỏ biển, bảy loài thực vật ngập mặn, 230 loài cá và 73 loài chim nước.

4. Quần đảo Cát Bà - Quần đảo có nhiều đảo nhất

Quần đảo Cát Bà bao gồm 367 hòn đảo lớn, nhỏ, nằm ở phía nam Vịnh Hạ Long và ngoài khơi Thành phố Hải Phòng và tỉnh Quảng Ninh. Quần đảo có tọa độ từ 20°42’ đến 20°54’ độ vĩ Bắc và từ 106°52’ đến 107°07’ độ kinh Đông thuộc ngoài khơi vùng biển Quảng Ninh - Hải Phòng. Quần đảo cách trung tâm Thành phố Hải Phòng 30 km và cách Thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 25 km. Đảo lớn nhất của quần đảo là đảo Cát Bà (còn gọi là đảo Ngọc), là hòn đảo lớn nhất trong tổng số 1969 đảo của Vịnh Hạ Long.

Quần đảo Cát Bà có đa dạng sinh học cao. Tại đây có hệ sinh thái vùng triều (150 loài động vật đáy, 24 loài rong biển), hệ sinh thái đáy mềm và thủy vực nước bao quanh (207 loài thực vật phù du, 75 loài động vật phù du, 142 loài động vật đáy mềm, 124 loài cá biển), hệ sinh thái rạn san hô (81 loài san hô cứng), hệ sinh thái các hồ nước mặn (66 loài động thực vật).

5. Quần đảo Trường Sa - Quần đảo xa bờ nhất

Quần đảo Trường Sa của Việt Nam nằm giữa biển Đông về phía Đông Nam nước ta, phía Bắc là quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, phía Đông giáp biển Philippines, phía Nam giáp biển Malaysia, Brunei và Indonesia. Quần đảo Trường Sa gồm trên 100 hòn đảo nhỏ và bãi san hô với diện tích vùng biển rộng khoảng 410.000 km², nằm từ vĩ độ 6°00’00”N - 12°00’00”N và kinh độ 111°00’00”E - 117°00’00”E.

Diện tích toàn bộ phần đất nổi của quần đảo khoảng 3 km², được chia làm tám cụm là Song Tử, Loại Ta, Thị Tứ, Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa, Thám Hiểm, Bình Nguyên. Đảo cao nhất là Song Tử Tây (khoảng 4 - 6 m), đảo lớn nhất là đảo Ba Bình (0,44 km²), sau đó là đảo Nam Yết (0,06 km²). Khoảng cách giữa các đảo cũng khác nhau, gần nhất từ đảo Song Tử Đông đến Song Tử Tây khoảng 1,5 hải lý, xa nhất từ Song Tử Tây (phía Bắc) đến An Bang (phía Nam) khoảng 280 hải lý.

Quần đảo Trường Sa án ngữ đường hàng hải quốc tế nối liền Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương và Đại Tây Dương, giữa châu Âu, châu Phi, Trung Cận Đông với Trung Quốc, Nhật Bản, giữa các nước Đông Nam Á và Đông Bắc Á, một tuyến đường huyết mạch có lưu lượng tàu thuyền tấp nập vào hàng thứ hai trên thế giới (chỉ sau Địa Trung Hải). Trung bình mỗi ngày có từ 250 đến 300 tàu biển các loại đi qua Biển Đông.

6. Cụm đảo Hòn Khoai - Cụm đảo gần xích đạo nhất

Cụm đảo Hòn Khoai thuộc xã Tân Ân, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau, gồm năm đảo nhỏ và rất nhỏ: Hòn Khoai (4,96 km²), hòn Sao (0,7 km²), hòn Gò (0,03 km²), hòn Đồi Mồi (0,03 km²) và hòn Đá Lẻ (0,005 km²). Cụm đảo có tọa độ từ 8°22’46” đến 8°27’30” độ vĩ Bắc và từ 104°48’30” đến 104°52’30” độ kinh Đông.

Hòn Đá Lẻ thuộc cụm đảo Hòn Khoai, cách bờ biển Cà Mau 21m được lấy làm điểm chuẩn của đường cơ sở (điểm A2, tọa độ 8°22’8” độ vĩ Bắc và 104°52’4” độ kinh Đông) dùng để tính chiều rộng lãnh hải của lục địa Việt Nam (Tuyên bố ngày 12 tháng 11 năm 1982 của Chính phủ nước Cộng hòa xa hổi chủ nghĩa Việt Nam). Trên đảo Hòn Khoai có khu tưởng niệm cuộc khởi nghĩa Hòn Khoai do nhà giáo Phan Ngọc Hiển lãnh đạo ngày 13/12/1940 trong cao trào Khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940.

7. Đảo Phú Quốc - Hòn đảo lớn nhất

Đảo Phú Quốc là hòn đảo lớn nhất trong số 38 đảo của huyện đảo Phú Quốc. Đảo Phú Quốc còn là hòn đảo lớn nhất trong hệ thống hải đảo của Việt Nam với diện tích 561km2 nằm ở tọa độ 10°00’ - 10°27’ vĩ độ Bắc và 103°49’ - 104°05’ kinh độ Đông. Đảo Phú Quốc nằm trấn giữ ở phía đông bắc Vịnh Thái Lan, ở biên giới Tây Nam của Tổ quốc, thuộc vùng nước lịch sử Việt Nam - Campuchia. Đảo cách Rạch Giá 116km, cách Hà Tiên 45km, cách bờ biển Campuchia 12,5km. Đảo có dạng hình tam giác, chiều theo phương Bắc - Nam dài 50km, chiều theo phương Đông - Tây dài 27km ở phần Bắc đảo, đảo thót hẹp dần về phía Nam.

Tài nguyên phi sinh vật có cát thủy tinh, cát xây dựng, kaolin, đá xây dựng, đá ong, tài nguyên đất đai (đất cát, đất mặn sú vẹt, đất phù sa chua glây, đất phù sa ít được bồi, đất feralit vàng xám và vàng đỏ, đất sialit-feralit xám, đất feralit xói mòn trơ sỏi đá), nước mặt (mỗi năm đảo nhận được 1.600 triệu m³ nước mưa), nước ngầm (ước tính khoảng 198,4 triệu m³).

8. Khu bảo tồn biển Nam Yết - Khu bảo tồn biển Việt Nam lớn nhất

Khu bảo tồn biển Nam Yết được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 742/QĐ-TTg ngày 26/5/2010 về việc phê duyệt Quy hoạch hệ thống khu bảo tồn biển Việt Nam đến năm 2020. Theo đó Khu Bảo tồn biển Nam Yết thuộc huyện Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa, ở tọa độ 10011’00” vĩ độ Bắc và 114021’42” kinh độ Đông. Khu bảo tồn biển Nam Yết có tổng diện tích là 35.000 ha, trong đó diện tích biển là 20.000 ha và toàn bộ diện tích đảo rạn san hô Nam Yết 15.000 ha.

Khu bảo tồn biển đảo Nam Yết nằm ở phía nam cụm đảo Nam Yết, cách thành phố Nha Trang khoảng 450 km về phía Đông Nam. Đảo dạng thuôn dài theo hướng Đông - Tây, chiều dài nhất khoảng 850m, rộng nhất chỉ 170m, diện tích đảo nổi khoảng 10,4ha. Mặt đảo bằng phẳng, cao 3,5-3,8m so với mặt biển.

9. Huyện đảo Lý Sơn - Huyện đảo có mật độ dân số cao nhất

Huyện đảo Lý Sơn là huyện đảo tiền tiêu nằm ở ngoài khơi vùng biển tỉnh Quảng Ngãi, cách thành phố Quảng Ngãi 45km về phía đông bắc, cách cảng nước sâu Dung Quất 36km về phía đông. Huyện đảo bao gồm đảo Lý Sơn (hay Cù Lao Ré hoặc đảo lớn, tọa độ từ 15°22’02” đến 15°23’24” độ vĩ Bắc và 109°05’13” đến 109°09’00”), cù lao Bờ Bãi (hay đảo Bé, tọa độ 15°25’42” độ vĩ Bắc và 109°05’13” độ kinh Đông) và hòn Mù Cu.

Huyện đảo Lý Sơn có tổng diện tích đất là 9,97km², dân số là 18.223 người (năm 2009). Mật độ dân số của huyện là 1.888 người/km², đây là huyện đảo có mật độ dân số cao nhất trong 12 huyện đảo của Việt Nam. Mật độ này thậm chí còn cao hơn cả các huyện của các tỉnh đồng bằng sông Hồng, nơi có mật độ dân số cao nhất cả nước. Huyện đảo Lý Sơn có ba xã là An Vĩnh, An Hải, và An Bình. Hành và tỏi là hai cây sản xuất chính của nông nghiệp Lý Sơn từ nhiều thập trở lại đây. Cây tỏi và cây ré được coi là đặc trưng của huyện đảo và Lý Sơn được gọi là "vương quốc tỏi”.

Du lịch, GO! - Theo Thanh Thảo (VFEJ), ảnh internet

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống