Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Wednesday, 25 July 2012



Đối với người Marốc, thành phố Fès thời trung cổ cũng giống như thành phố Athens của Châu Âu vậy. Nằm ở một vị trí chiến lược, nút thắt giữa các quốc gia Bắc Phi và Nam Âu, Fès là mắt xích quan trọng trong hệ thống thương mại giữa vùng sa mạc Sahara rộng lớn phía nam và Châu Âu phía Bắc. Nhờ thế, nền kinh tế của Fès phát triển thịnh vượng trong vòng hai thế kỷ và trở thành trung tâm tôn giáo cũng như nghệ thuật của Bắc Phi.


Lịch sử của Fès gắn liền với lịch sử phát triển của Hồi giáo. Khi nào có điều kiện, tôi sẽ viết một bài giải thích khái quát quá trình truyền bá của tôn giáo này. Còn tạm thời, ta hãy quay về thế kỷ VII, nguồn gốc của nước Marốc và của Fès. Thời điểm ấy, một hậu duệ của Mohamed (Mohamed tương đương kiểu chúa jesus của đạo thiên chúa) trốn chạy khỏi sự truy đuổi của Irắc, chạy qua Ai Cập rồi rong ruổi suôt Bắc Phi cho đến khi đặt chân đến đất nước Marốc. Tại đây, vị hậu duệ này được những bộ tộc du mục địa phương giúp đỡ và bầu ông ta làm vua nước Marốc. Thành phố Fès được sinh ra như là thủ đô đầu tiên của Marốc. Cũng giống như Việt Nam, các triều đại vua chúa của Marốc đổi thủ đô nhiều lần và Fès là một trong bốn cố đô mà vua Marốc tại vị xưa kia.


Cũng như các du khách đến đây, tôi bắt đầu cuộc khám phá Fès từ khu phố cổ, người Marốc gọi là Medina. Khu vực này khiến tôi liên tưởng đến khu phố cổ của Hà Nội vì có nhiều điểm tương đồng. Hà Nội có 36 phố phường thì ở đây có các khu phố nhỏ phân theo ngành nghề và sản phẩm thủ công : nghề mộc, nghề điêu khắc trên gỗ, nghề rèn sắt, nghề trạm khắc trên đồng, kim hoàn, dệt lụa…Hầu hết  các sản phẩm đều được tạo ra trong những lò sản xuất bé tí hin với những công cụ cũ kỹ.




Khu chuyên làm vải. Tại đây, người ta sử dụng các loại phẩm để nhuộm cho vải
Một điểm nổi bật nhất của Fès mà tôi thấy được, đó là sự nổi trội về nét kiến trúc của các trường học kinh coran, người Marốc gọi là Medersa. Cấu trúc của các công trình kiến trúc này khá đồng bộ, thường có một sảnh to làm bộ sườn chính rồi xung quanh sảnh này được bao kín bởi 4 bề mặt là những ngôi nhà hai tầng.
Nếu như đạo Phật chúng ta có nhiều cùa chiền thì một thành phố Marốc cũng sở hữu nhiều nhà thờ Hồi giáo. Bản thân Fès trước kia là kinh đô Hồi giáo của cả nước Ma rốc và miền tây Châu Phi. Do đó, không có gì ngạc nhiên khi thành phố này có hơn 10 nhà thờ và nổi tiếng nhất là nhà thờ hồi giáo Al Qarawiyyin kiêm luôn là trường đại học nghiên cứu đạo Hồi. Đây được coi như trường đại học Hồi giáo cổ nhất thế giới (xây vào năm 857), thậm chí còn trước cả đại học Oxford.

Các mái ngói màu xanh lá cây là đặc trưng của lối kiến trúc Hồi giáo Marốc. Nhìn từ trên cao, nó đôi khi làm tôi liên tưởng đến mái ngói kiểu Châu Á ở Trung Quốc hay hàn Quốc
Giữa sảnh một nhà thờ hồi giáo bao giờ cũng có một tháp nước để người sùng đạo rửa ráy trước khi cầu nguyện
trên bề mặt tường, các nét trạm khắc trên đá rất tinh tế. Như các bạn thấy, kiểu hoa hoét rất phổ biến trong nghệ thuật ả rập.

Bao bọc xung quanh khu phố cổ Fès là một hệ thống tường thành và có khoảng 9 cổng vào. Đặc thù của các cổng này là có kích cỡ rất to và được xây bằng đất sét nung pha với rơm và bằng gạch nung. Cổng vào thì có hình giống vó ngựa mà hội tội nhân hay đứng ở tòa án hình sự.

 
Vào thời gian đầu, hệ thống tường thành bao bọc có chức năng phòng thủ cho khu phố cổ nên được xây dựng rất kiên cố. Nhưng vào thế kỷ 16 khi mà súng thần công phát triển lên cũng như với việc thành phố Fès phát triển ra rộng hơn, các tường thành và cổng vào này không còn chức năng phòng thủ nữa. Vì thế, các cổng vào được bổ sung thêm các họa tiết kiến trúc sành điệu hơn, với mục đích khoa trương thế mạnh nghệ thuật của Fès.


Sau khi qua ngưỡng cửa của các cổng thành này, dòng người địa phương tràn về các ngả khác nhau hướng đến các khu chợ giời, người Marốc gọi là souk.


 Lạc vào những khu chợ này, ta có cảm giác như lạc vào mê cung những nẻo đường nhỏ với các gian hàng bán đủ các loại tạp phẩm. Cấu trúc của chúng hầu như không có gì thay đổi từ thế kỷ XII. Chính tại các souk này mà tôi thấy có gì đó rất giống khu phố cổ Hà Nội, rất sầm uất về thương mại. Mỗi souk tương đương với một trong 36 phố cổ của mình.  Họ có souk El Nejjarine chuyên bán đồ gỗ, El Attarin chuyên bán các loại gia vị, El Seffarine, chuyên đồ đồng, Ain Allou chuyên đồ da thuộc…   


Chính vì hệ thống chằng chịt các nẻo đường như mê cung này mà du khách rất dễ bị lạc. Nhưng lạ thay việc chủ động để bị lạc chính là trải nghiệm đáng giá nhất khi ta viếng thăm các khu chợ souk. Ở đây, việc dùng bản đồ chẳng có lợi ích gì hết vì thứ nhất đường phố ngoằn ngoèo khó vẽ,thứ hai tên các đường đều ghi bằng tiếng ảrập. Vì thế, cách tốt nhất là nên quan sát cử chỉ hành đông cũng như hướng đi của dòng người đặc biệt là các nhóm khách du lịch. Thật vậy, khách du lịch gì thì cũng giống mình thôi, họ cũng sẽ bị lạc như mình. Nhưng họ đôi khi là các nhóm khách đi theo tour nên sẽ được trợ giúp bởi một hướng dẫn viên địa phương. Đến một lúc nào đó, kiểu gì thì họ cũng sẽ đi về hướng các cổng thành để thoát khỏi khu phố cổ. Và khi đã thoát khỏi khu phố cổ thì mọi chuyện trở lên dễ dàng hơn vì các con đường mới đều dưới dạng đại lộ thẳng. Đó là phương pháp thứ nhất.

Phương pháp thứ hai, chiêu bài mà tôi sử dụng nhiều hơn, đó là trực tiếp hỏi đường người địa phương. Và chính trong một lần bắt chuyện với một người bán đồ xà phòng thơm mà tôi đã có được một kỷ niệm đáng nhớ. Ngoài tiếng ảrập, người Ma rốc nói tiếng Pháp như tiếng mẹ đẻ vì họ được học song ngữ ngay từ bé . Một du khách người Châu Á đến Fès và nói tiếng Pháp không phải là chuyện thường ngày và tất nhiền sự hiên diện của tôi thu hút sự chú ý của hầu hết người dân địa phương. Tôi cũng chỉ hỏi đường ông bán xà phòng có tên là Mohamed (tên này thì phổ biến phải biết cũng giống như họ Nguyễn nhà mình). Ông ta hỏi tôi câu hỏi  mà tôi đã dự đoán trước


- « Il y a des groupes japonais mais c’est la première fois que je croise un Vietnamien dans ma vie. » (đã từng có các nhóm du khách Nhật Bản đến đây nhưng đây là lần đầu tiên trong đời tôi gặp một người Việt Nam)

- « Tu sais, mon oncle était légionnaire pendant la guerre d’Indochine » (cậu biết không, bác tôi xưa kia là lính lê dương trong quân đội Pháp trong cuộc chiến tranh Đông Dương ở Việt Nam)

Tôi thực sự ngạc nhiên khi được biết rằng có khoảng 6000 lính Marốc tham gia cuộc chiến năm 1954 ở miền Bắc và một số lính trong số đó đã chuyển sang ủng hộ quân đội Việt Minh chống lại giặc Pháp. Ngay sau chuyến viếng thăm Marốc đó, tôi đã tìm hiểu sâu thêm và được biết một số lính Marốc đã ở lại Việt Nam trong vòng vài chục năm, lấy vợ Việt Nam và phải vất vả lắm họ mới trở về quê hương, với sự giúp đỡ của bác Hồ. Để cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của người Việt, những người lính này đã tham gia vào việc xây lên một chiếc cổng theo lối kiến trúc Marốc ngay tại Ba Vì, nay vẫn tồn tại và bị rong rêu bám đầy.  Chiếc cổng đó như để chứng mình tình hữu nghị cùa lính lê dương Marốc đối với sự tốt bụng của người Việt. Có thế mới biết sử sách nước ta còn thiếu hụt như thế nào. Một người con của quê hương như tôi buộc phải tìm hiểu sử sách bằng tiếng nước ngoài, viết bằng người nước ngoài để hiểu rõ hơn lịch sử của chính nước mình !



Thôi, nói lịch sử hơi nhiều, giờ mình lại quay lại các khu chợ giời souk. Tại đây, phương tiện gắn máy không được phép hoạt động. Cũng phải thôi, nhìn những dòng người đông như thể đang mua vé vào xem trận chung kết Champions League, tôi thiết nghĩ một cong đường rộng có hơn một mét mà để một chiếc xe thồ đi qua thì không biết đến bao giờ mới thoát được ách tắc giao thông. Không có tiếng động cơ chạy không có nghĩa là nơi đây không ồn ào sôi động. Hãy cứ thử nghĩ đến những cuộc mặc cả nóng bỏng giữa kẻ mua người bán là biết liền. Tại đây, tôi nghĩ thứ gây ách tắc giao thông nhiều nhất là…con lừa. Đây là phương tiện chở hàng phổ biến nhất của người dân địa phương .


Như những người đi buôn sừng sỏ, người dân địa phương phân biệt rất rõ đâu là những vị khách du lịch ngây thơ dễ bị dắt mũi để chào mời họ. Và với một ngoại hình đậm chất Châu Á như tôi thì việc được họ « mời » vào xem hàng chẳng có gì là lạ. Biết rằng khi bước qua ngưỡng cửa của những cửa hàng trưng bày thảm, đồ vàng bạc thì sẽ khó có thể tránh khỏi những lời chào hàng ngọt như mật. Nhưng tôi coi đó như một dịp để ngắm nghía thỏa thích những đồ vật được trạm khắc rất tinh xảo. Cho dù biết rằng khi ra khỏi một cửa hàng bát đĩa bạc, tôi đã bị người ta « chăn » mất 20$ nhưng đó hoàn toàn là tự nguyện của tôi. Bạn hãy tưởng tượng thành phố Fès vào dịp hạ điểm du lịch thì người ta lấy đâu ra khách mà chăn. Thêm nữa, 20$ có thể là khá to đối với tôi, nhưng là rất rất to với những gia đình ở đây.


Để quản lý một cách quy củ hơn hệ thống thương mại của các khu chợ souk, người ta cho xây các fondouks, tạm dịch là trụ sở hiệp hội chuyên về một ngành nghề nào đó. Cấu trúc của các fondouk này khá đồng bộ, luôn có một sảnh rộng nằm ngày chính giữa. Xung quanh là các hành lang với các gian phòng dùng để làm nơi ở cho các thương gia và kho chứa hàng.

Tuesday, 24 July 2012

Không biết tự bao giờ, húng Láng đã góp mặt trong những tinh hoa của đất Hà Thành bởi hương vị thơm ngon nổi tiếng.

Rau húng Láng hay còn gọi là rau thơm, có vị thơm dịu mát là một đặc sản của làng Láng, thường xuất hiện trong bữa cơm bình dân hay cỗ bàn của người Hà Nội. Chính vì thế mà ngay từ xa xưa, húng Láng đã được ngợi ca hết lời cùng những đặc sản khác của Hà Thành:

Dưa La, húng Láng, ngổ Đầm
Cá rô đầm Sét, sâm cầm hồ Tây
Thật vậy, rau húng Láng được trồng ở chính đất Láng có một mùi vị riêng độc đáo mà nơi khác không thể sánh bằng.

Bởi húng làng Láng lá dày, có mùi thơm dịu mát, thoang thoảng, vị không cay còn húng Láng trồng nơi khác có lá mỏng hơn, ăn rất nhạt lại không thơm và có mùi hơi hắc…
Rau húng Láng nổi tiếng của làng Láng

Để cảm nhận được hương vị của húng Láng, người ăn phải ăn từ từ, nhấm nháp từng chút… Tuy nhiên, để phân biệt được rau húng trồng ở làng Láng với rau húng trồng ở nơi khác thì phải người sành ăn mới biết còn những người trẻ không phân biệt được bởi quan niệm rau nào chẳng là rau.

Húng Láng thích hợp với rất nhiều món xào, nấu hoặc ăn sống cùng những loại rau khác. Với các món xào, nấu, rau húng Láng trở thành thứ gia vị gợi mùi hương cho món ăn đó. Chỉ cần thiếu thứ gia vị này, món ăn sẽ mất vị ngon riêng biệt và không dậy mùi thơm: món phở mà thiếu rau húng Láng thì sẽ chẳng còn hương thơm hấp dẫn người ăn hay với mì tôm, chỉ cần cho thêm vài cọng rau vào, mì tôm trở nên vô cùng ngon miệng.

Rau húng Láng thường được ăn kèm cùng một số loại rau sống khác: xà lách, rau mùi, rau bạc hà, kinh giới… Món rau sống này thường được ăn kèm với bún chả, nem, cá nấu, cá luộc….

Với người Hà Nội, húng Láng chính là một đặc sản thân quen trong mỗi bữa ăn hàng ngày của họ. Và trong những ngày hè nóng nực này, rau húng Láng thường góp mặt cùng món bún riêu cua, canh cua, phở sáng, bún đậu mắm tôm hay cá sốt cà chua…

Thế nên, mỗi khi tết đến xuân về, người làng Láng lại nô nức chào đón những vị khách thân quen của mình tới mua những bó rau thơm lừng danh của làng Láng.

Du lịch, GO! - Theo Hồng Mây (báo Lao Động), internet
Trên hai con ngựa sắt, tôi cùng với hai chiến hữu bắt đầu hành trình xuyên dãy Trường Sơn huyền thoại. Cảm giác hào hứng thích thú nhanh chóng qua đi khi mà bầu trời xanh ngát bắt đầu chuyển màu xám xịt. Cơn mưa đang kéo đến...

Tôi rất ghét những cơn mưa, trong suy nghĩ của tôi những cơn mưa đại diện cho sự thất bại, buồn chán và là những cái gì đáng ghét . Còn trời nắng thì ngược lại, tôi luôn muốn được sống trong những ngày nắng. Nhưng có một hành trình đã thay đổi suy nghĩ của tôi… Tôi gọi đó là cuộc hành trình đi về nơi những cơn mưa tới.

Trên hai con ngựa sắt, tôi cùng với hai chiến hữu bắt đầu hành trình xuyên dãy Trường Sơn huyền thoại. Cảm giác hào hứng thích thú nhanh chóng qua đi khi mà bầu trời xanh ngát bắt đầu chuyển màu xám xịt. Cơn mưa đang kéo đến.

Bực mình pha chút thất vọng vì chúng tôi mới được tận hưởng cảnh đẹp của dãy Trường Sơn chưa được bao lâu. Chúng tôi dừng lại, tôi hỏi các thành viên trong đoàn có nên đi tiếp hay không?

Một người nói: không nên đi trong trời mưa, không xem được cảnh đẹp gì lại nguy hiểm và khiến mọi hành lý, quần áo sẽ ướt hết, sẽ rất khó chịu. Tốt nhất nên kiếm một chỗ nào đó trú chân và đợi cơn mưa đi qua.

- Nhưng như thế thì một ngày của chúng ta sẽ trôi qua trong nơi trú chân, thế thì chán lắm, tôi nói.

Chiến hữu thứ 2 nói: Chán gì mà chán, thiếu gì trò chơi, ngồi oánh bài, nghe nhạc, nhắn tin gọi điện cho người yêu, đầy việc để làm. Giờ lao vào mưa gió để làm cái gì!

Tôi ngần ngừ suy nghĩ. Tôi không nghĩ mình thích đi trong mưa, tôi đã nói ngay từ đầu là tôi rất ghét mưa, nhưng ngồi một chỗ trong khi cuộc hành trình mới bắt đầu thật lãng phí thời gian.

Nhìn lên bầu trời xám xịt tôi nghĩ: kiểu trời này chắc phải mưa cả ngày quá, thế thì ngồi đây cũng không ổn, chi bằng cố đi thêm một một đoạn rồi kiếm nơi nghỉ qua đêm luôn là tốt nhất.

Tôi giục hai chiến hữu thay quần áo ngắn và bọc đồ cẩn thận để đi trong trời mưa. Hai chiến hữu có vẻ không thích ý tưởng này lắm nhưng vì tôi là trưởng đoàn nên dù có phàn nàn hai chiến hữu cũng vẫn hoàn thành công việc trước lúc mưa tới.

Mưa tới. Chúng tôi lên xe tiếp tục cuộc hành trình. Lạnh, gió, quần áo ngấm nước mưa, khó chịu, tôi bắt đầu nghĩ có khi nên dừng lại, tôi thấy đi trong cơn mưa thật là một quyết định điên rồ. Trong đầu tôi chỉ nghĩ đến cảnh ngồi trong một nơi khô ráo chơi bài, nghe nhạc, và gặm một quả ổi, giờ đó là thiên đường.

Đầu nghĩ đến những cảnh đó, nhưng không hiểu sao tay tôi vẫn kéo ga. Có thể là vì là trưởng đoàn, tôi không muốn dừng lại để nhận mình sai, để rồi nghe những lời phàn nàn của hai thành viên. Tôi cứ kéo ga...

Nhưng cơn mưa của dãy Trường Sơn huyền thoại dường như không muốn bị tôi khuất phục, mưa càng ngày càng to. Tôi bị khuất phục rồi. Tôi chịu rồi. Tôi dừng xe. Tôi muốn tìm chỗ trú mưa mặc dù bây giờ tôi đã ướt gần hết. Nhưng làm gì có chỗ nào có thể trú chân giữa đại ngàn này? Không có. Chúng tôi đành đi tiếp chỉ với nhiệm vụ tìm một khu dân cư hoặc một chiếc lều nào đó có thể đứng trú.

Thực sự chán nản khi nhận ra nhiệm vụ nhỏ nhoi đó giờ cũng có vẻ bất khả thi. Mệt. Có thể cơ thể không mệt nhưng tinh thần chúng tôi thực sự đã mệt, rất mệt.

Tôi ngước lên để những giọt mưa lao vào mặt, tôi làm thế chỉ với mục đích khích thích tinh thần. Như một phép mầu, tôi giật mình, không phải vì nước mưa mà vì phía trước có màu xanh. Màu xanh của bầu trời. Màu xanh biểu tượng cho điều gì tôi không nhớ, nhưng giờ đây tôi chỉ biết rằng màu xanh biểu tượng cho bầu trời không có mưa. Tôi chỉ cho hai chiến hữu khoảng trời đó. Chúng tôi không nói gì, lập tức tăng tốc phi nhanh.

Chúng tôi cứ phi, mưa nhỏ dần. Mưa tạnh. Bầu trời trong xanh như lúc bắt đầu cuộc hành trình, chỉ khác là chúng tôi bị ướt hết, nhưng chúng tôi vui mừng như được tặng một món quà. Chúng tôi cười. Không ai trách tôi vì tôi đã quyết định đi trong cơn mưa cả. Tận hưởng bầu trời trong xanh. Ăn uống thay quần áo xong chúng tôi tiếp tục lên đường. Chúng tôi hát. Tôi cảm giác như mình đang đi trên thiên đường, những cung đường tuyệt đẹp hiện ra.

Không!!!

Phía trước lại xuất hiện những đám mây xám. Mưa lại sắp tới. Không. Chúng tôi sắp đi đến cơn mưa thì đúng hơn. Tôi quay lại nhìn hai chiến hữu với ý dò hỏi có nên đi tiếp hay tìm chỗ trú. Hai chiến hữu tỏ ý để tôi quyết định.

Tôi hơi ngần ngừ, tôi ghét trời mưa, nhắc lại lần nữa là tôi rất ghét. Nhưng đã qua được cơn mưa vừa rồi giờ tôi nghĩ không có lý do gì phải ngại cơn mưa này. Tôi quyết định đi tiếp. Với tâm lý không thoải mái lắm nhưng cuối cùng chúng tôi đã đi qua cơn mưa thứ hai này.

Nhưng có một điều lạ, khi qua được cơn mưa này, chúng tôi không vui mừng như trước nữa, mặc dù vẫn thấy thoải mái. Chúng tôi tiếp tục phi.

Ồ, phía xa trời lại xám xịt, sắp mưa!

Chúng tôi chẳng nói với nhau câu nào, cứ thế phi thẳng về phía trước. Trời mưa. Lần đầu tiên chúng tôi nói chuyện với nhau khi đi trong trời mưa. Tôi thỉnh thoảng còn thưởng thức được vị ngọt của những giọt nước mưa tinh khiết.

Tôi giờ cảm thấy cơn mưa cũng đâu có gì ghê gớm để mình phải ghét nó thế!
Chợt nhận ra một điều rằng thất bại, buồn bã… không ai muốn điều đó giống như không ai muốn cơn mưa trong cuộc hành trình của mình. Nhưng nó cứ đến, và khi nó đến chúng ta sẽ phải lựa chọn:

- Một là tìm nơi trú ẩn để nó qua đi rồi tiếp tục cuộc hành trình, nhưng như vậy hành trình sẽ ngắn lại và phụ thuộc hoàn toàn vào cơn mưa đó.

- Hai là đi qua nó, chấp nhận nó như là một phần của cuộc hành trình, và đến khi chúng gặp cơn mưa thứ ba, thứ tư… chúng ta có thể sẽ thấy cơn mưa không đáng ghét và đáng sợ như ta nghĩ.

Nếu chúng ta có một ước mơ, hãy theo đuổi nó, dù phía trước là những khó khăn chông gai, hãy cứ đi. Hãy xuyên qua những cơn mưa! Nó không đáng sợ như ta nghĩ. Có thể rất nhiều người có ước mơ nhưng họ lại chọn phương án an toàn: chờ cơn mưa đi qua.

Không ai có thể nói lựa chọn nào là tốt hơn. Nhưng có một điều chắc chắn rằng: chúng ta, loài người không phải là những chú heo chỉ cần ăn ngon và một cái chuồng đẹp.
Và với tôi cái làm nên giá trị của một con người không phải là những gì họ có, mà là những gì họ trải nghiệm!

Du lịch, GO! - Theo Vũ Quang Phúc (VnExpress), ảnh internet

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống