Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Thursday, 30 August 2012

Du lịch đường thủy vốn là một thế mạnh của vùng sông nước miền Tây. Sự xuất hiện của những chiếc du thuyền cao cấp trên dòng Cửu Long đã tạo nên một nét mới trong đời sống thương hồ của người dân vùng này, đồng thời mang đến một hình thức du lịch khám phá mới mẻ cho du khách.

Theo số liệu thống kê của Hiệp hội Du lịch đồng bằng sông Cửu Long, một trong những nguyên nhân khiến du lịch vùng sông nước này chưa phát triển đúng khả năng là do loại hình du lịch, địa điểm ăn nghỉ còn nghèo nàn, đến mức tìm một khách sạn ba hoặc bốn sao cũng đã rất khó dù ngay tại Cần Thơ (vì chúng chỉ chiếm 2% cơ sở lưu trú của toàn vùng), riêng số khách sạn đạt tiêu chuẩn năm sao chỉ đếm được trên đầu ngón tay.

Trong khi đó, mô hình du lịch nghỉ dưỡng miệt vườn lại chưa đủ những tiện nghi tối thiểu cho du khách nên “đến chơi cho biết” thì có thể, chứ nếu ở lại để tận hưởng đôi ba ngày nơi miệt vườn thì đó là chuyện xa vời. Vì vậy, hầu hết du khách đều trở lại TP.HCM sau vài giờ ngồi thuyền trên sông.

Nói về hệ thống ghe tàu du lịch thì phổ biến nhất trên sông Cửu Long là các tour lênh đênh từ bến Ninh Kiều tới cầu Quang Trung, hoặc xa hơn là xuôi sông Hậu đến vàm Cái Đôi nghe đàn ca tài tử hằng đêm, giá vé 20.000-40.000 đồng/lượt/người. Ngoài ra còn có hệ thống tàu du lịch chuyên chở khách tham quan chợ nổi, thăm cồn Phụng, cồn Thới Sơn… với mức giá 100.000-350.000 đồng/tour. Loại tàu ghe nhỏ được dùng để đưa khách theo tour đường sông “ngắn hạn” nên trên tàu chỉ có vài bộ áo phao dành cho du khách là… đủ!

Sự xuất hiện của những chiếc du thuyền “năm sao” đã mang đến một diện mạo mới cho dòng Cửu Long. Có thâm niên lâu nhất là du thuyền Bassac Cruise (được đặt theo tên dòng sông Hậu ngày xưa), gồm ba chiếc bằng gỗ đen bóng. Tàu Bassac có dáng dấp chiếc ghe bầu của giới thương hồ miền Tây, gồm ba tầng với sáu phòng ngủ đôi.

Dần dà, sự xuất hiện của du thuyền Mekong Eyes, Mekong Feeling, Pandaw Cruiser, La Marguerite, La Cochinchine… đã giúp cho cuộc chơi sông nước thêm phần đa dạng, thậm chí chuyện “ăn - ở” có phần còn hoàn thiện hơn vì số lượng phòng nghỉ đã lên đến vài chục. Các tàu đều có khoang bếp riêng, chất lượng ăn uống cũng thuộc hàng “sao”, trên tàu lênh đênh mà vẫn có thể tìm bất cứ món Tây nào hay một bữa cơm theo đúng phong cách Nam bộ với bông súng cá kho, canh chua cá…

Ngoài ra, tàu còn có phòng đọc sách, chỗ xem phim và tầng thượng để du khách sưởi nắng, hay một boong mở khá đẹp để khách uống nước và ngắm cảnh. Chủ nhân chiếc du thuyền Mekong Eyes từng chia sẻ điều quan trọng để xây dựng thương hiệu cho du thuyền sông nước là ngoài sự tiện nghi và sang trọng, còn phải biết “giao thương quốc tế”, tức là không làm cho du khách thấy mình trở nên lạ lẫm khi ngao du trên sông nước miền Tây.

Ở trên tàu, du khách phải được đáp ứng đầy đủ các nhu cầu cao cấp trong điều kiện trôi bồng bềnh giữa sông, mọi thiết bị trên tàu đều phải đạt sự an toàn tuyệt đối, đặc biệt là hệ thống điện, máy nước nóng, máy lạnh… Ngoài ra, các hoạt động vui chơi giải trí cũng phải đa dạng và sẵn sàng cho nhu cầu khám phá vẻ đẹp địa phương, chẳng hạn có canô, thuyền Kayak hay xe đạp để giúp những khách muốn vào sông lạch nhỏ hay khám phá thôn xóm miệt vườn.

Hầu hết các tàu có thể mở rộng tour đến Campuchia (kéo dài đến bảy, tám ngày) nếu du khách có nhu cầu. Loại hình này cũng khá thích hợp với những nhóm khách cần sự riêng tư, bởi thông thường, các tàu chỉ đón tiếp 20-60 khách/chuyến. Giá cả cho một chuyến hành trình hai ngày một đêm trên tàu thường từ 4 triệu đồng/khách trở lên. Tuy nhiên, lượng khách đặt tour đến nay vẫn chưa nhiều, trong khi nhu cầu của khách trong và ngoài nước có lẽ khá lớn. Lý do cơ bản là thông tin quảng bá còn yếu.

Tàu chạy với vận tốc trung bình 10 hải lý/giờ nên đủ giúp du khách thưởng ngoạn và ghi nhận lại cảnh sông nước miền Tây khá trọn vẹn. Bình yên, thư giãn và khám phá những điều lạ lẫm bằng một hình thức du lịch nghỉ dưỡng mới mẻ sẽ là điểm thu hút các du khách khi đến với những chiếc tàu hạng sang này.

Du lịch, GO! - Theo Hải Yến (DNSGCT)
Bán đảo Hòn Hèo nằm ở phía Nam đầm Nha Phu thuộc địa phận huyện Ninh Hòa, cách TP Nha Trang 15km theo đường chim bay. Cách nay mươi năm, dân cư trên Hòn Hèo chỉ sống rải rác bằng nghề nông - ngư nghiệp. Giờ đây, Hòn Hèo đang được đánh thức...

Hoang sơ một vùng đất

Hòn Hèo còn có tên gọi là Phước Hà Sơn do địa danh này là một quần thể có trên 10 ngọn núi lớn, nhỏ khác nhau, cao nhất là Hòn Hèo (813m) nằm chính giữa. Theo các lão ngư kể lại, trên đỉnh Phước Hà Sơn có rất nhiều loại mây, gióng rất to và dài, nhiều hoa văn… nên nhiều người vượt biển ra đây khai thác về làm tủ, ghế, rương, tráp… và đặc biệt là làm gậy chống, dân gian gọi là cây hèo. Vì vậy, dân trong vùng gọi Phước Hà Sơn là Hòn Hèo.

Là vùng núi cao hiểm trở có 3 mặt giáp vịnh biển Văn Phong và đầm Nha Phu, Hòn Hèo có phong cảnh và bãi biển đẹp tuyệt vời và từng là căn cứ cách mạng của quân dân Khánh Hòa qua hai thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ. Sáng sớm dân Hòn Hèo thường thấy hàng đàn gà rừng tao tác kiếm ăn sát cụm dân cư, còn lũ khỉ, voọc đầu trắng, heo rừng, nai thì thường xuyên xuống tận rẫy và mép biển để phá phách và ăn thức ăn thừa.

Từ đất liền, vượt biển bằng ca-nô khoảng 15 phút, du khách sẽ thu vào tầm mắt một bờ biển trắng mịn trải dài bên bán đảo hòn Hèo với khung cảnh hoang sơ, cùng với một dãy nhà lều bằng lá, gỗ trầm mặc dưới hàng cây sát bên bờ cát. Hòn Hèo đủ  độ bí ẩn, thừa không gian thoáng đãng để tổ chức  các buổi sinh hoạt dã ngoại, team-building hay những đêm lửa trại truyền thống…

Ai đến Hòn Hèo đều kinh ngạc trước các dịch vụ du lịch biển - núi với một dãy nhà lều bằng lá - gỗ trầm mặc dưới hàng cây sát bên bờ cát trắng tinh. Do xung quanh có các Hòn Lao, Hòn Thị, Hòn Rớ, Hòn Sầm, Hòn Lăng… bao quanh nên mặt biển của Hòn Hèo luôn phẳng lặng. Hải sản được khai thác ngay trong đầm Nha Phu gồm mực, cá mú, tôm, ghẹ, ốc hương, sò điệp…
Đặc biệt, các loại đặc sản như thịt cá sấu, đà điểu… được Công ty CPDL Long Phú (thành viên của Tổng Công ty Khánh Việt - Khatoco) cung ứng tại chỗ và phục vụ tận lều.

Ngày thường, bán đảo hòn Hèo ít hoạt động vui chơi hơn vì nằm trái tuyến đường thủy và xa thị tứ, nhưng cũng chính nhờ vật mà hòn đảo này vẫn còn giữ được phần nào nét đẹp hoang dã, gây nhiều tò mò.

Các dịch vụ lặn ngắm san hô, chèo thuyền kayak, ca-nô kéo, dù lượn luôn thu hút du khách vì sự mạo hiểm và phục vụ tận tình, giá cả hợp lý. Bên cạnh đó, các chương trình xiếc thú, cưỡi đà điểu thật hấp dẫn sẵn sàng làm hài lòng các thượng đế.

Còn đối với du khách “ghiền độ cao” có thể tham gia leo núi trên đảo. Khi treo mình trên những vách núi cheo leo giữa trưa nắng chói chang, du khách sẽ tìm thấy cảm giác hứng thú đến sảng khoái, đánh tan mọi phiền muộn.

Nếu như thế vẫn chưa đủ, bạn có thể vào sâu hơn trong đảo, ngang qua khu rừng ngập mặn để đến một con suối nước ngọt có tên Hoa Lan, rồi mặc sức thưởng lãm  nhiều loại lan rừng quý hiếm.

Theo mô tả của những người dân hay đi rừng và các ghi chép của Viện Điều tra quy hoạch rừng của Bộ Nông nghiệp-Phát triển nông thôn, tại rừng hòn Hèo từng xuất hiện loại culi nhỏ (Sloth monkey) và loài phượng đất (Buceros bicornis). Đây là 2  loài động vật cực kỳ quý hiếm, có tên trong Sách Đỏ của thế giới.

Người đánh thức Hòn Hèo

Vốn là một đảng viên, “chúa đảo Hòn Hèo” Võ Thanh Minh từng được giới du lịch biết đến qua 14 năm làm “chúa đảo Hòn Tằm”, một địa điểm du lịch đặc sắc của tỉnh Khánh Hòa mà bất cứ du khách nào đến Nha Trang cũng đều ghé qua.

Ngay phút nhận trọng trách mới từ 12-2006, anh Minh đã đi nhặt những bao xốp, chai nhựa, lon bia cho vào sọt rác trước sự chứng kiến của 42 nhân viên. Điều này đã làm thay đổi nhận thức của họ. Hòn Hèo giờ trở thành một bán đảo du lịch sạch sẽ với bãi cát tinh tươm. Sau đó, anh Minh tận dụng mối quan hệ trước đây để mời các nhà dịch vụ thể thao đến với Hòn Hèo.

Trăn trở với những dịch vụ giống nhau, anh Minh đề xuất lãnh đạo mua thêm đà điểu, ra tận Hà Nội mua gấu (của Liên đoàn xiếc VN), xây dựng rạp cho voi biểu diễn, tậu thêm kayăk… và gõ cửa từng hãng lữ hành trong Nam, ngoài Bắc để “chào hàng”. Kết quả là so với cùng kỳ tháng 4-2006, lượng khách năm nay đã tăng gấp đôi, và doanh thu đã đạt gần 80% kế hoạch năm 2007.

Hỏi anh suy nghĩ gì khi từ vị trí một Phó Bí thư Đảng ủy (Công ty Cung ứng Tàu biển Nha Trang - chủ quản đảo Hòn Tằm) xuống làm đảng viên bình thường, anh Minh cười: “Đã là đảng viên thì dù ở cương vị nào nhưng hoàn thành nhiệm vụ của cấp trên, của chi bộ là điều tốt nhất.
Một đảng viên bình thường mà hết lòng vì Đảng, vì doanh nghiệp, còn tốt hơn một bí thư, phó bí thư chỉ chuyên hô hào… Tôi đã tự ra “nghị quyết cho bản thân” là biến Hòn Hèo thành một điểm vui chơi, du lịch tầm cỡ cả nước. Và tôi tin sẽ làm được!”.

Không đơn giản chỉ đến rồi đi, những ai đã từng một lần ghé thăm hòn Hèo, qua đêm yên bình cạnh những cánh rừng êm đềm và hiền hòa, chắc chắn sẽ vương vấn mãi những nỗi nhớ khắc khoải chôn giấu nơi sâu thẳm tâm hồn.

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ SGGP, TNO và nhiều nguồn khác.

Wednesday, 29 August 2012

Không biết từ bao giờ, phong tục ăn xôi nếp đã được các thế hệ người Thái nối tiếp nhau lưu giữ và nó đã tạo thành một đặc trưng không lẫn với bất cứ dân tộc nào. Một năm 365 ngày, thì cả 365 ngày đó, bà con nơi đây đều ăn xôi nếp và nó đã trở thành một món ăn không thể thiếu trong mỗi bữa cơm hàng ngày.

Mỗi dân tộc đều có những phong tục, những nét văn hóa khác nhau. Với đồng bào dân tộc Thái ở huyện Quan Hóa cũng vậy. Bà con nơi đây cũng có những nét văn hóa riêng, trong đó nét đặc trưng nhất của người dân tộc Thái nơi đây là văn hóa ẩm thực. Trong chuyến công tác lên huyện miền núi Quan Hóa, chúng tôi có dịp tìm hiểu về nét đẹp văn hóa ẩm thực của bà con đồng bào dân tộc Thái nơi đây.

< Những nếp nhà sàn của người Thái.

Quan Hóa là một huyện miền núi nằm cách thành phố Thanh Hóa hơn 150km về phía Tây. Nơi huyện vùng biên này, đồng bào dân tộc Thái chiếm phần đa với hơn 65% dân số toàn huyện, được phân bố rộng khắp ở 18 xã, thị trấn. Sau gần sáu giờ đồng hồ vượt qua con đường dài hàng trăm kilomet với những đoạn đường khúc khuỷu, chúng tôi đã có mặt tại xã Trung Sơn - một xã nằm giáp ranh với tỉnh Sơn La.

Từ xa, những ngôi nhà sàn nằm rải rác trên các sườn núi xen kẽ giữa những cánh rừng luồng xanh ngút ngàn, tạo thành một bức tranh thiên nhiên thơ mộng. Thấp thoáng từ những khung cửa sổ nhà sàn là những ánh mắt đằm thắm của những cô gái thái tuổi đôi mươi dành cho những vị khách lạ khi vào bản. Tới trung tâm xã Trung Sơn trời đã gần trưa, khi những cột khói luồn qua khe nhà sàn ngoằn ngoèo trên những tán lá luồng phía xa xa của người Thái chuẩn bị bữa trưa.

Ghé thăm gia đình ông Lò Khằm Quyến, một già làng ở bản Tà Bán, khi gia đình ông đang ăn cơm trưa. Nổi lên giữa mâm cơm là món xôi nếp đồ cùng với gấc, tạo thành một màu đặc trưng. Tôi tò mò tự hỏi, sao trong bữa trưa mà bà con lại dùng cơm nếp. Theo phong tục của người miền xuôi, cơm nếp thường chỉ ăn vào buổi sáng hay các ngày lễ, ngày giỗ…

Vào đúng bữa trưa nên chúng tôi được mời dùng bữa cùng gia đình. Rồi sự tò mò của chúng tôi dần được giải đáp. Vừa ngồi xuống mâm, già Quyến nhanh miệng giới thiệu cho chúng tôi biết phong tục của người Thái trong bữa ăn. “Chắc cơm nếp các chú rất khó ăn, nếu biết các chú tới nhà chúng tôi lại nấu thêm cơm tẻ cho các chú ăn. Ở trên này, chúng tôi toàn ăn cơm nếp thôi, cơm tẻ chỉ khi nào có khách ở dưới xuôi lên thì mới nấu đó, trên này mà nấu cơm tẻ không ai ăn cả, mà khi có khách phải đi vay gạo tẻ mới có gạo mà nấu đó”.

< Dụng cụ dùng để đồ xôi nếp.

Đúng như lời già Quyến nói, vì không quen với bữa ăn mà không có cơm nấu bằng gạo tẻ. Nhưng vì đã trưa, bụng cũng đã đói lả nên chúng tôi ngồi xuống dùng bữa cùng gia đình già Quyến. Cơm nếp của bà con dân tộc Thái nơi đây khi ăn vào thì có một hương vị và cảm giác rất khác không giống như một loại cơm nếp nào mà tôi đã từng ăn. Như tự hào về nét đẹp của dân tộc mình, già Quyến cho biết thêm: “Ở trên đây, bao đời nay, đều ăn cơm nếp đồ như thế này quen rồi. Không có cơm nếp là chúng ta không chịu được đâu. Toàn bộ người Thái trên huyện này họ đều ăn đồ nếp thế này đấy. Các ngày thường hay ngày giỗ, ngày lễ tết đều ăn đồ nếp cả”.

Cơm nếp hay còn có cách gọi khác là xôi nếp. Xôi mà người Thái nấu khi nhìn vào cũng như thưởng thức rất đặc trưng. Do xôi được đồ bằng hông gỗ, hạt gạo chín lên nhờ hơi nước nên khi nhìn vào đĩa xôi hạt cơm dường như không nở hơn so với hạt gạo thường là mấy. Hạt cơm rất trắng, khi thưởng thức có mùi thơm đặc trưng của giống lúa nương. Lúa nếp được bà con chủ yếu trồng trên các ngọn đồi và các sườn núi. Do địa hình cao, đất đai cằn cọc nên chỉ thích hợp với giống lúa nếp. Lúa nếp trên đồi một năm chỉ trồng được một vụ, kéo dài từ cuối tháng 2 đầu tháng 3 đến tháng 10 âm lịch, thời gian của vụ ngắn hay dài còn phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên. Sau khi thu hoạch về phơi khô quạt sạch sẽ để dùng cho cả năm.

< Món xôi nếp của bà con dân tộc Thái.

Để cho cơm được ngon, nhanh chín, gạo để đồ phải được ngâm trước khi đồ ít nhất 4 đến 5 tiếng đồng hồ. Người đồ sẽ đổ nước vào trong cái niêng đồng, bỏ gạo đã ngâm vào trong cái hông làm bằng gỗ, đặt hông lên trên niêng và cho lửa đồ lên. Thời gian đồ xôi phụ thuộc vào lượng gạo đồ trong hông nhiều hay ít mà có thời gian đồ khác nhau. Khi đồ xong dùng nống sạch đổ ra, đánh tơi, vừa đánh vừa quạt cho xôi bay hết hơi nóng, có như vậy xôi mới khô và để được lâu hơn. Có một điều đặc biệt, khi ai đó thưởng thức món xôi nếp phải tinh ý mới phát hiện được, đó là khi đồ người đồ không bỏ thêm bất cứ một thứ gia vị nào nhưng khi thưởng thức vẫn cảm nhận được sự đậm đà, mùi thơm của gạo nương vùng cao.

Sau một đêm ở lại giữa bản làng nơi miền sơn cước, được tận hưởng không khí trong lành của thiên nhiên, chúng tôi lại có mặt tại nhà chị Đinh Thị Hương, ở bản Nam Thành, xã Thành Sơn, vào một buổi sáng và được tận mắt chứng kiến chị cùng con gái mình đang đồ xôi chuẩn bị cho một ngày mới đi nương.

Vừa đồ nồi xôi chị Hương vừa tiếp chuyện: “Ngày nào cũng vậy người dân trên này dậy rất sớm đồ một nồi xôi để ăn sáng, khi đi làm bà con còn mang theo lên nương ăn trưa luôn, rồi làm luôn sang chiều mới về. Khi mang xôi lên nương ăn bữa trưa, không phải mang thêm thức ăn theo để ăn cùng mà chỉ cần một ít vừng hoặc lạc rang kèm muối ăn cùng thế là xong buổi trưa. Trên này người dân đi rừng, leo đèo vượt núi nên ăn đồ nếp cho chắc cái bụng, chứ ăn đồ tẻ giống dưới miền xuôi thì nhanh đói lắm, chịu không được”.

Đồ xong nồi xôi, chúng tôi lại được thưởng thức món xôi gấc cùng gia đình chị Hương, sự đậm đà, hương thơm của một loại gạo nương khiến tôi có cảm giác rất khó tả. Rời gia đình chị Hương ra về, hình ảnh những ngôi nhà sàn nằm trên các sườn đồi, những ánh mặt thân thiện của các cô gái Thái cùng hương vị của xôi nếp khiến chúng tôi không thể nào quên được những ngày lưu lại vùng đất này.

Du lịch, GO! - Theo DT, internet

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống