Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Tuesday, 4 September 2012

m thực vỉa hè Sài Gòn có đặc điểm thường quy tụ về một nơi, một xóm, một phố, một phường đông vui.

Phố bún mắm

< Phố bún mắm Nguyễn Nhữ Lãm chỉ dài chừng 200m mà có hơn 20 quán.

Đường Nguyễn Nhữ Lãm, quận Tân Phú có đoạn chỉ dài khoảng 200m nhưng có trên 100 hàng quán, trong đó có hơn 20 quán bán bún mắm. Vì vậy, con đường này còn được gọi: con đường bún mắm. Bạn có thể chọn xuất xứ như bún mắm Sóc Trăng, Châu Đốc, Trà Vinh… và cả bún mắm Sài Gòn. Điểm cộng cho khu vực này là ngồi ở quán này có thể gọi món ăn ở quán khác. Ngoài ra, trên đoạn đường này còn có các món khác như chè, cháo, hủ tíu mì Tàu, mì Quảng, mì Ý, bò bít tết, phở, bánh cuốn, cơm tấm, cơm gà, cháo vịt… Các quán bán từ 5 giờ sáng đến 12 giờ khuya.

Đường... cơm gà xối mỡ

Đường Ba Đình, phường 10, quận 8 cũng được thực khách gọi là “con đường cơm gà xối mỡ”. Bắt đầu từ đoạn cầu Nguyễn Tri Phương quẹo vô đường Ba Đình chỉ vài chục mét nhưng có khoảng sáu quán bán cơm gà. Thực tế chỉ có khoảng hai, ba thương hiệu nhưng “bành trướng” ra các nhà kế bên. Cơm gà xối mỡ ở đây giòn, thơm, giá cả bình dân.

Ngoài ra, trên đường Hậu Giang, phường 2, quận 6 cũng có bốn quán bán cơm gà xối mỡ chất lượng, giá cũng bình dân. Nước xốt ở đây ngọt ngọt, mặn mặn – lạ miệng. Cao cấp hơn là khu vực đường Huỳnh Mẫn Đạt, quận 5 với năm, bảy quán, có thêm các món gà ác tiềm, gà hấp…

Đường cơm gà xối mỡ nhộn nhịp nhất từ khoảng chiều tà cho đến tối.

Đổi vị với món Bắc

Khu trung tâm quận 1, ở góc đường Nguyễn Huệ – Hải Triều có một dãy quán ăn chính tông gốc Bắc đã hơn 20 năm. Tuy tạo thành dãy nhưng chỉ có hai quán Cấm Chỉ và phở Hà. Thực đơn của Cấm Chỉ phong phú với các món phở, miến, món nhậu, xôi… nhưng đặc trưng nhất vẫn là món trứng non và ngọc kê. Trên bàn thường dọn kèm lạc rang húng lìu, bánh quảy nhỏ và ớt khô, nước mắm, tương đen, tương ớt. Quán mở cửa từ 3 giờ 30 chiều đến 5 giờ sáng hôm sau.

Nhắc đến miến cua thì người ta dễ liên tưởng đến đoạn đường Đinh Tiên Hoàng giáp Điện Biên Phủ, Q.1 là nơi chuyên bán miến cua với hai, ba quán có món đinh này. Nói đến miến gà, cháo gà thì khu Hải Triều, Q.1 là nơi người ta sẽ ưu tiên nghĩ đến. Bún riêu, canh bún thì không có con phố nào có nhiều hàng bán bằng hẻm 287 thông từ đường Võ Văn Tần qua Nguyễn Đình Chiểu, Q.3…

Phố tiềm

Con đường ăn uống Phan Xích Long mà nhiều người quen gọi là đường 41 ở quận 11 khá đông đúc với khoảng hai mươi quán san sát nhau. Con đường bán đủ món từ hủ tíu, bún mắm, cháo, sinh tố…

Nhưng phong phú nhất vẫn là các món tiềm, súp bong bóng cá, cháo đầu cá, cháo thập cẩm, cháo hải sản… nấu theo kiểu người Hoa. Món nổi tiếng hàng chục năm nay ở đường 41 là gà ác tiềm thuốc bắc, ngầu pín tiềm, súp bong bóng cá. Cứ tối đến, cả đoạn đường sáng trưng, tiếng mời khách lẫn với tiếng xào nấu xôn xao.

Đại lộ ẩm thực

Chạy dọc đường Nguyễn Tri Phương, thuộc phường 8 và phường 9 quận 10, chắc chắn bạn sẽ thấy choáng vì độ phủ và đa dạng của quán xá nơi đây. Nói đến phở, có khoảng năm, sáu thương hiệu như phở 24h, phở 5 Sao, phở Hùng, phở Quỳnh, phở Tương Lai… Các quán bán đặc sản miền biển, lẩu xiên, lẩu nướng… có hơn chục căn.

Đồ ngọt nổi tiếng lâu nay trên đoạn đường này là chè Thái, chè lạnh có khoảng bốn tiệm với quy mô khá hoành tráng, chè nóng cũng có hai quán. Gần chục cửa hàng bán yến sào, chè yến các loại. Cửa hàng bán thức ăn nhanh KFC, pizza Domino, cơm gà, bánh cuốn, bánh canh ghẹ, bánh mì. Rồi nào là trà sữa, yogurt, kem… có hơn mười tiệm. Ngoài ra, tại góc đường Nguyễn Tri Phương – Vĩnh Viễn còn có hai quán bán hủ tiếu Nam Vang.

Phố của họ nhà… lẩu

Món lẩu hiện nay vô cùng phong phú với đủ cách nấu, đủ loại nguyên liệu đang hội tụ về đất Sài Gòn. Nếu mỗi ngày bạn đi ăn một món lẩu khác nhau ở thành phố này thì phải mất hơn nửa tháng mới tạm gọi là điểm danh đủ mặt họ nhà lẩu. Từ món lẩu dê tên tuổi, lẩu bò ngon mà rẻ, lẩu đầu cá, lẩu cá kèo dân dã, lẩu hải sản phong phú, lẩu mắm đậm đà; cho đến lẩu chua đủ cung bậc, chua của me, chua của lá giang, của mẻ, của khế... Còn nếu chọn một món lẩu nào đó như lẩu dê chẳng hạn, thì đi ăn cả tháng trời chưa chắc đã hết các quán bán món này.

Một số khu vực bán lẩu ở thành phố: quận 1: khu Nguyễn Công Trứ, lẩu dê. Quận 3: khu Ngô Thời Nhiệm – Trương Định, lẩu bò, lẩu dê. Khu Bà Huyện Thanh Quan – Sư Thiện Chiếu, lẩu cá kèo. Quận 5: khu Huỳnh Mẫn Đạt – lẩu dê, lẩu thập cẩm. Khu Châu văn Liêm – Nguyễn Trãi, lẩu đầu cá.

Phố ốc sầm uất

Nói đến ăn vỉa hè không thể thiếu món ốc, vì nó là món ăn đặc trưng “quán cóc” thứ thiệt của Sài Gòn. Đa số quán ốc mở cửa từ chiều đến tối khuya, ban đầu như để dành cho dân nhậu. Nhưng rồi tiếng lành đồn xa, quý bà quý cô, khách văn phòng… bắt đầu ghé đến; giới trẻ cũng thích lể ốc vừa rẻ ngon vừa vui. Và món ốc trở thành “cao thủ” ăn vặt Sài Gòn. Ốc có nhiều cách chế biến như hấp, luộc, nướng, xốc, um với bơ, tỏi, me, ớt, sa tế… và hầu hết các gia vị chấm làm ngon. Ngoài ốc, quán còn kèm cua, ghẹ, hột vịt lộn, khô mực, khô cá khoai…

Hiện những phố ốc nổi tiếng ở Sài Gòn với mức độ sầm uất phải kể đến là dãy quán hai bên đường Thành Thái, quận 10 bán từ trưa cho đến khuya, đèn đuốc sáng choang.

Ít ồn ào hơn là phố ốc trên đường Nguyễn Thượng Hiền, quận 3 và hai bên bờ kênh Nhiêu Lộc, quận 3. Có tiếng từ lâu có xóm ốc hẻm 391 – 393 Trần Hưng Đạo, quận 1. Và hàng trăm quán ốc vỉa hè đúng nghĩa có mặt khắp Sài Gòn để phục vụ khách ăn rong...

Du lịch, GO! - Theo SGTT, internet

Monday, 3 September 2012

Những tập tục như ngủ ngồi, đẻ ngồi; người chết ở trần, đóng khố không có áo quan... vẫn đang tồn tại ở tộc người Đan Lai giữa vùng lõi Vườn quốc gia Pù Mát.

< Người dân Đan Lai qua sông Giăng.

1. Vừa nghe chúng tôi hỏi về nguồn gốc của tộc người Đan Lai, thầy giáo La Đình Thám, 67 tuổi, nguyên giáo viên Trường tiểu học Môn Sơn 3 (xã Môn Sơn, huyện Con Cuông, Nghệ An), kể lại truyền thuyết của dân tộc mình: Từ thời xa xưa lắm rồi, có một chàng trai nghèo họ La, bỏ làng Đan Nhiệm (huyện Nam Đàn) ngược lên miền Hoa Quân (huyện Thanh Chương) tìm vợ rồi ở luôn tại đó, sinh con đẻ cháu ngày một đông đúc.

Nhờ tính hay lam hay làm nên đã có của ăn của để. Sự giàu có của dòng họ này đã đẩy con cháu mình vào một bi kịch. Do ghen ăn, tức ở, bọn chức dịch trong làng đã dùng mưu gian, kế hiểm đẩy dòng họ La vào bước đường cùng. Khi dòng họ La đang sống yên bình, thì bỗng có chiếu vua ban xuống, quan sức về làng. Trong chiếu nhà vua bắt dòng họ La trong vòng 10 ngày phải nộp cho triều đình một chiếc thuyền liền mái chèo và 100 cây nứa vàng nếu không cả họ sẽ bị chém đầu.

Để tránh họa đầu rơi, máu chảy, cả dòng họ La, già trẻ, gái bằng được trai vội vã bủa vào rừng thiêng, nước độc tìm kiễm lễ vật ấy cho vua. Nhưng họ cứ đi, đi mãi, ngày đêm không nghỉ, lục tìm hết cả đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ mà vẫn không thể tìm ra được những sản vật quái gở ấy... Tay không trở về làng khi thời hạn đã gần hết, nhân một đêm tối trời cả dòng họ La bàn nhau bỏ trốn.


< Phụ nữ Đan Lai thường lên núi hái lượm, xuống sông bắt cá.

Họ ngậm ngùi bồng bế, dắt nhau rời làng trốn vào rừng sâu, họ ngược dòng sông Giăng đi mãi, đi mãi đến tận nơi sơn cùng thuỷ tận đến khi tối mịt, cả đoàn người mệt mỏi mới dám tựa vào gốc cây, hang đá nghỉ lưng chờ trời sáng để đi tiếp. Điểm dừng chân cuối cùng của họ là một vùng núi non hiểm trở, cây cối hoang sơ, không có một dấu chân người, đó là vùng lõi của Vườn quốc gia Pù Mát bên dòng sông Giăng đầy thác ghềnh hung dữ.

Ngày đó nơi họ dừng chân chỉ có thú dữ và chim chóc, không có một bóng người lai vãng. Hy vọng sẽ không ai biết họ ở đây để báo cho vua chúa đem quân đến giết hại nữa, dòng họ La quyết định “đóng đô” lại đây.

< Còn đàn ông thường ở nhà cả ngày… bồng bế con.

Cuộc đào tẩu vào giữa đại ngàn Trường Sơn của tộc người Đan Lai đã được đưa vào bài cúng tổ tiên: “Theo dấu chân nai/ đi gieo hạt lúa/ theo dấu chân hổ/ đi trồng hạt ngô/lang thang đầu suối/ bâng khuâng lưng đèo/ sống đời nghèo khổ/ như dòng suối nhỏ/ như gió rừng chiều...”.

2. Theo nhà nghiên cứu văn học dân gian Trần Vương, thì cuộc chạy trốn bất đắc dĩ và đầy bi thương này đã đẩy tộc người này cách ly với đời sống xã hội đương đại của dân tộc khiến họ rơi vào cảnh bần cùng, khốn khó giữa chốn rừng thiêng, nước độc. Để tồn tại và duy trì nói giống của mình, những con người thậm khổ này bắt buộc phải quay trở lại kiếp sống hái lượm của thời hồng hoang và phải chấp nhận hôn nhân cận huyết. Hằng ngày họ phải vạt cây gỗ để làm dụng cụ săn bắt, hái lượm, lấy vỏ cây rừng làm khố, đào củ mài, tìm củ nâu trong rừng để sống qua ngày.

< Hồn nhiên học sinh người Đan Lai nơi chốn “sơn cùng thủy tận”.

Cả chiều dài lịch sử đằng đẵng lánh nạn giữa nơi thâm sơn cùng cốc, dòng họ La dần dần giao tiếp được với một số dân tộc thiểu số bản địa như người Thái, người Thổ, họ chấp nhận lai tạp thêm vào tiếng mẹ đẻ của mình các từ ngữ của các dân tộc khác để che giấu thân phận và nguồn gốc của mình.

Họ tự đặt tên tên cho dòng họ của mình là Đan Lai. Đan là ý muốn chỉ tộc người của mình xuất phát ở làng Đan Nhiệm, còn Lai ý nói là mọi thứ kể cả con người, tiếng nói, phong tục đều đã bị “lai tạp”. Đây là lý do giải thích vì sao tiếng nói của tộc người này là một thứ thổ âm lai tạp giữa Mường - Việt ngữ cổ. Bị cách biệt với thế giới bên ngoài hàng trăm năm nên dần dần họ quên cả tiếng nói mẹ đẻ, quên cả chữ viết, phương thức canh tác nông nghiệp và cả nét văn hoá của dân tộc mình... Đây là những nguyên nhân hình thành những phong tục, lối sống rất khác lạ với đời sống hiện đại.

< La Thị Duyên - cô học trò người Đan Lai đầu tiên đạt danh hiệu học sinh giỏi cấp tỉnh.

Thầy giáo La Đình Thám giải thích thêm: Cả tộc người Đan Lai sinh sống chủ yếu bằng hái lượm giống như thời hồng hoang nguyên sơ của loài người nên họ đã duy trì nhiều tập tục xa lạ với các dân tộc khác. Khi chết người Đan Lai không được mặc quần áo, chỉ đóng khố, không dùng hòm vỏ để chôn cất, ngủ ngồi, con cháu trong cùng dòng họ lấy nhau, sinh con đẻ cái là chuyện quá bình thường...

Ông Thám kể câu chuyện về người bác ruột tên là La Văn Khằm. Năm 1960, khi đang làm cán bộ HĐND huyện Con Cuông, ngày nghỉ ông Khằm về thăm gia đình và bị ngã bệnh qua đời đột ngột. Dịp đó, lãnh đạo huyện đưa hòm gỗ về bản để làm thủ tục khâm liệm cho người quá cố, nhưng từ người nhà đến già làng, dân bản đều nhất quyết cự tuyệt. Họ quan niệm rằng chôn cất ông Khằm bằng hòm gỗ là sai lệ làng và khi xuống cõi âm người chết sẽ không được tổ tiên chấp nhận.

< Đêm xuống du khách vừa quây quần bên bếp lửa nghe người Đan Lai kể về truyền thuyết.

Trước sức ép của chính quyền, ông Khằm đã được nhập quan, nhưng khi chôn cất xong, cán bộ huyện vừa ra khỏi bản thì dân bản đào huyệt đưa lên xác ông Khằm lên để làm thủ tục chôn trần theo phong tục của dân bản...

Thượng tá, Nguyễn Văn Vượng, Đồn trưởng Đồn biên phòng Môn Sơn (Đồn 555), cho biết: Hiện số người Đan Lai tại huyện Con Cuông có khoảng 708 hộ với 3.277 nhân khẩu. Trong đó riêng xã Môn Sơn có 217 hộ với 1.075 nhân khẩu sống tập trung chủ yếu ở 3 bản: Cò Phạt, Khe Cồn và bản Búng thuộc của xã Môn Sơn (217 hộ), số còn lại sống ở 2 xã Lục Dạ (55 hộ) và Yên Khê (36 hộ). Từ năm 2008 đến nay, tộc người Đan Lai được Nhà nước quan tâm giúp đỡ rất nhiều.

< Trẻ con Đan Lai làm quen với cuộc sống săn bắt, hái lượm.

Do quan niệm “trời sinh voi trời sinh cỏ” nên người Đan Lai sống phóng khoáng như núi rừng, cỏ cây, mỗi cặp vợ chồng cưới nhau từ khi mới 13-14 tuổi nên bình quân họ từ 4 đến 6 người con, cá biệt có cặp vợ chồng sinh tới 13 đứa con.

Phụ nữ Đan Lai mới 13-14 tuổi đầu đã lấy chồng. Một mình vào rừng “vượt cạn” đẻ ngồi trong cái chòi dựng tạm giữa rừng. Đứa trẻ vừa lọt lòng mẹ, dù là nắng hay mưa, dù cho rét căm căm đến ghê người vẫn mẹ đem xuống suối để tắm 3 lần. Đến khi da dẻ bị tím tái, nếu đứa trẻ vẫn còn sống sót thì mới đưa về nhà nuôi.

Những đứa trẻ Đan Lai đứa nào cũng có đôi mắt rất đẹp, xanh trong như dòng nước sông Giăng nhưng hễ gặp người lạ là chúng đều cúi gằm mặt xuống. Dường như sự mặc cảm về thân phận của cả tộc người đã ăn sâu trong tâm hồn của bọn trẻ giữa chốn thâm sơn cùng cốc này.

< Tập tục ngủ ngồi để để cảnh giác với thú dữ vẫn tồn tại với tộc người Đan Lai.

3. Tộc người Đan Lai có tập tục lạ lùng là không bao giờ ngủ nằm. Tục ngủ ngồi ăn sâu vào máu thịt từ người già đến trẻ con trở thành thói quen của tất cả mọi người.

Già làng La Văn Quyết giải thích, tục ngủ ngồi xuất phát từ việc phải thường trực ý thức trốn chạy thật nhanh nếu bị quan quân chế độ phong kiến vây bắt. Đó cũng là cách để giúp họ hàng ngày chống chọi với muông thú hoang dã đang rình rập. "Nhờ tục ngủ ngồi mà người Đan Lai tồn tại được đến ngày hôm nay đấy", già Quyết nói.

Từ hơn 300 trăm năm nay tộc người Đan Lai luôn sống trong cảnh không có nhà, chỉ lấy cành cây dựng tạm thành cái lều ở tạm cho đén khi hỏng thì mới làm lại. Mỗi khi màn đêm buông xuống, trong túp lều tạm bợ ấy, cả gia đình họ chỉ dám ngồi quây quần bên đống lửa để canh chừng thú dữ tấn công.

< Tám đứa trẻ của 1 gia đình người Đan Lai.

Lâu dần thành thói quen, ngồi thâu đêm như vậy ai cũng mệt nhoài, chỉ dám tranh thủ chợp mắt để khi có thú đến còn có đà chạy vào rừng sâu lẩn trốn. Cho đến tận bây giờ, ngủ ngồi đã thành một tập tục của tộc người Đan Lai. Trẻ con lớn lên chỉ cần biết ngồi vững là đã phải học cách ngủ ngồi!

Người Đan Lai không chỉ ngủ ngồi quanh bếp lửa, tộc người này còn có thể ngủ trên cây mỗi khi đi săn bắt, hái lượm không kịp về bản. Theo già Quyết, cứ mỗi chuyến đi săn ít nhất cũng tới vài ngày. Những lúc như vậy những người đi săn thường phải trèo lên cây cao để ngủ nhằm tránh thú dữ. Chỉ cần vài ba đoạn cây buộc vào nhau làm điểm tựa là họ ngủ ngồi suốt đêm trên cây.

“Tục ngủ ngồi đã được truyền qua bao đời nay nên người dân trong bản không có thói quen nằm giường. Cả bản Cò Phạt có hơn 70 nóc nhà, nhưng chẳng nhà nào mua sắm giường chiếu. Mới đây, do được tuyên truyền vận động, cũng có nhà trong bản sắm giường, nhưng khi ngả lưng nằm lại thấy rất khó chịu, đau lưng nên đã quay sang ngủ ngồi”, già Quyết nói.

Du lịch, GO! - Theo NNVN, internet
Núi Gia Lào là một ngọn núi cao 800m thuộc tỉnh Xuân Lộc, Tỉnh Đồng Nai, ngọn núi được nổi tiếng bởi sự linh thiêng của một ngôi chùa ngự trị trên đỉnh, và đường lên đỉnh núi cheo leo và xa tít tắp - nơi hằng năm hàng ngàn khách du lịch về đây bái Phật cầu an.

Núi Gia Lào là một ngọn núi đá, trên núi có rất nhiều cây dại, và hầu như không trồng trọt gì. Nhưng đây là một điểm vô cùng thu hút du khách đến đây bái Phật cầu an hằng năm. Cứ vào tháng 7 là đông khách đến đây nhất, đến cả hàng ngàn người lên núi thắp hương cúng vái, làm cho cả ngọn núi nghi ngút khói hương và nhộn nhip hẳn lên. Mỗi tháng rằm, người ta lại đến đây, mỗi năm mới, người ta cũng chọn ngôi chùa trên đỉnh núi Gia Lào để dâng hương bái Phật.

Ở trên đỉnh núi, có một ngọn chùa được xây dựng ở đây, và cũng rất nổi tiếng linh thiêng. Những gia đình có con cái, hay mong cầu bình an, họ đều khăn khói không quản khó nhọc leo 500m núi, vượt qua hằng ngàn bậc thang xa tít tắp để lên đến đỉnh thắp hương, mong rằng sẽ được như ý nguyện.

Núi Gia Lào không đẹp như bao ngọn núi khác, nhưng nó mang một vẻ hoang sơ. Những người không đi dâng hương thì đến đây thử cảm giác chinh phục ngọn núi cao thứ 2 ở miền Nam này.

Xung quanh đường lên đỉnh có rất nhiều cây cối mọc um tùm xanh mát rượt, đường lên đỉnh quanh co, nhỏ hẹp, từng bậc thang đá được xếp ngay ngắn nhưng dài tít tắp thử sức người leo. Để chinh phục ngọn núi này, bạn phải mất từ 1-2 giờ đồng hồ để leo đến đỉnh.

Hiện nay, khu vực xung quanh núi Gia Lào được mở rất nhiều quán ăn, giải khát để phục vụ người dâng hương, nên ngọn núi lúc nào cũng tấp nập người qua lại. Ở đó, bán rất nhiều đồ lưu niệm từ gỗ, vỏ sò, dây đeo, bùa bình an...đến những trái cây, mứt, thuốc, hương liệu, cho bạn than hồ chọn lựa.

Trên đỉnh núi, có ngọn chùa nằm cheo leo giữa các dốc đá, thanh tịnh và luôn nghi ngút khói hương. Và đặc biệt, núi Gia Lào nổi tiếng có cây ba gốc 1 ngọn. Tương truyền rằng, nếu cầu may ở dưới gốc cây này, mọi mong muốn của bạn sẽ thành hiện thực.

Trong dịp xuân hay những ngày rằm tháng 7 âm lịch, bạn đến đây sẽ thấy ngọn núi này rất đặc biệt. Không khí trong lành, khách du lịch ăn mặc tươm tất, mang rất nhiều lễ vật, hương hoa lên núi. Rồi có những người hái lộc đầu năm mang về, từng đoàn người lên, từng đoàn người xuống, nhộn nhịp cả tháng giêng hay trong dịp lễ hội.

Nếu bạn đã đến Đồng Nai một lần, thì đừng bao giờ bỏ qua cơ hội đến ngọn núi này thử sức khám phá độ cao của ngọn núi này nhé.

Du lịch, GO! - Theo VinaBooking

Núi Chứa Chan - chùa Gia Lào: Di tích lịch sử, danh thắng
Tuyệt tác trên đỉnh Chứa Chan

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống