Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Friday, 25 January 2013

Trong nhiều tác phẩm văn học, âm nhạc, truyền hình hiện nay, chúng ta thường nghe đến cụm từ “Hà Nội 36 phố phường” nhưng xuất xứ và những thông tin liên quan đến nó không phải ai cũng biết.

Về băn khoan này, giáo sư sử học Lê Văn Lan đã từng đưa ra ý kiến như sau:
“Chúng ta đang có 2 văn bản đều có tên: Hà Nội 36 phố phường, thực ra là 2 bài thơ - đúng hơn là hai bài vè - đều có tên là Hà Nội 36 phố phường. Một bản kể: Phồn hoa thứ nhất Long thành/36 phố rành rành chẳng sai… Bản kia cũng là Hà Nội 36 phố phường nhưng lại kể: Phồn hoa thứ nhất Long Thành/Phố giăng mắc cửi chạy quanh bàn cờ…

Nếu cộng các tên phố có trong các bài Hà Nội 36 phố phường thì thấy có tất cả có hơn 50 phố. Văn bản có tên 36 phố phường ấy ra đời vào cuối thế kỷ 19, gây ấn tượng lớn nhưng không nên hiểu đó là sự đánh dấu của việc ra đời Hà Nội 36 phố phường, bởi Hà Nội 36 phố phường là điều không có trong lịch sử. Hà Nội chỉ có 36 phường vào thời Lê và có hơn 50 phố bắt đầu bằng chữ “Hàng” ở cuối thế kỷ 19.

Vì sao mọi người hay nhắc tới câu Hà Nội 36 phố phường? Có lẽ “công tích” thuộc về nhà văn Thạch Lam. Tác phẩm Hà Nội 36 phố phường của Thạch Lam quá nổi tiếng, nên dù không là sự thật lịch sử thì vẫn được mọi người đón nhận.

Và người ta vẫn dùng Hà Nội 36 phố phường như 5 cửa ô của Văn Cao hay Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội của Nguyễn Đình Thi. Tác dụng của Văn học nghệ thuật là cực kỳ lớn. Rất tiếc là khoa học chưa can dự để trả lại tính chính xác của các thông tin này bên cạnh tính hấp dẫn của nó”.

Một trong các số các bài ca về 36 phố phường được ghi trong sách Việt Nam thi văn hợp tuyển của Dương Quảng Hàm có nôi dung như sau:

“Rủ nhau chơi khắp Long thành/Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai:/Hàng Bồ, hàng Bạc, hàng Gai,/Hàng Buồm, hàng Thiếc, hàng Hài, hàng Khay,/Mã Vĩ, hàng Điếu, hàng Giầy/Hàng Lờ, hàng Cót, hàng Mây, hàng Đàn,/Phố Mới, Phúc Kiến, hàng Ngang,/Hàng Mã, hàng Mắm, hàng Than, hàng Đồng,/Hàng Muối, hàng Nón, cầu Đông,/Hàng Hòm, hàng Đậu, hàng Bông, hàng Bè,/Hàng Thùng, hàng Bát, hàng Tre,/Hàng Vôi, hàng Giấy, hàng The, hàng Gà,/Quanh đi đến phố hàng Da,/Trải xem hàng phố, thật là cũng xinh./Phồn hoa thứ nhất Long thành,/Phố giăng mắc cửi, đường quanh bàn cờ/Người về nhớ cảnh ngẩn ngơ/Bút hoa xin chép vần thơ lưu truyền”.

Xét theo ghi chép của sách sử thì 36 phố phường được đặt ra từ thời vua Lê Hiển Tông với mục đích duy nhất là thuận tiện hơn trong việc giữ gìn an ninh, trật tự. Theo sách Đại Việt sử ký tục biên, vào tháng 12 năm Mậu Thìn niên hiệu Cảnh Hưng thứ 9 (1748) triều đình “hạ lệnh chia bên trong kinh thành làm 36 khu, mỗi khu đặt một quan coi giữ việc tuần phòng, khám xét. Lại định phép ty tộc đoàn (liên kết các gia tộc ở gần nhau cùng giữ an ninh). Tiếp đó lại chia làm 9 điện, mỗi điện có 4 khu, mỗi khu đặt một viên chánh khu”.

Trong tác phẩm Vũ Trung tùy bút của danh sĩ sống vào giai đoạn cuối thời Lê đầu thời Nguyễn là Phạm Đình Hổ cho biết cụ thể hơn về điều này: “Kinh thành Thăng Long chia ra 36 phường, mỗi phường đặt một người phường trưởng. Lại đặt ra phủ Phụng Thiên có quan Phủ doãn, quan Thiếu doãn kiêm coi cả việc tuần phủ và việc liêm sát, đốc suất hai huyện Thọ Xương và Quảng Đức, mỗi huyện có quan Huyện úy cai trị. Toàn thành thì cử một quan trọng thần sung chức Đề lĩnh tứ thành quân vụ, phân ra chánh phó hai dinh, chuyên coi việc cấm phòng, xét hỏi.

Song đất kinh thành đông đúc, nhà ở liễn nhau, thường có hỏa hoạn, lại nhiều những kẻ đầy tớ nhà quan, du đãng cờ bạc, gây chuyện đánh nhau, cãi nhau, cùng là những kẻ vô lại trộm cắp, nhiều lắm không thể kể xiết được, chẳng khác gì lục hải khi xưa là nơi bể cạn, vật sản rất nhiều, mà lại không thiếu một hạng người nào cả.

Đời Trịnh An Đô Vương (tức Trịnh Cương- TG), Nguyễn Công Hãng làm Thượng thư cầm quyền chính, mới chia hai huyện ra làm tám khu, mỗi khu đặt một người trưởng khu và một người phó khu; lại chia ra năm nhà là một tị, hai tị là một lư, mỗi lư cũng có một lư trưởng; bốn lư là một đoàn, mỗi đoàn đặt một quản giám, hai quản điểm, dưới quyền người khu trưởng và trực thuộc quan Đề lĩnh. Đó là phỏng cái ý cổ nhân bảo trợ phù trì lẫn nhau.

Phàm những việc phòng hỏa, phòng trộm và nhất thiết những việc giao dịch thuế má đều ủy trách cho khu trưởng, đoàn trưởng cả. Bởi vậy, những con nhà khá giả coi thường, không thèm ra làm, chỉ để cho những côn đồ trong các xóm chợ ra làm. Bọn chúng cùng những kẻ ti thuộc quan Đề lĩnh thông nhau làm càn, rất phiền nhiễu cho dân phố. Ôi! “Sinh nhất sự bất như trừ nhất hại” (thêm ra một việc không bằng bớt đi một tai hại) lời nói ấy rất đúng.

Theo lệ cũ, chốn kinh thành không phải chịu thuế dung, thuế điệu, chỉ tính từng dãy nhà, không cứ nhà quan hay nhà dân, hàng năm mỗi nhà phải chịu một suất đi sửa sang đắp lại nền cắm cờ tướng, dọn cỏ chung quanh cung đình, cung ứng các việc kiến trúc. Họ phải thay phiên nhau sắm đủ dây đòn, câu liêm, thang tre, bó đuốc, thùng gánh nước để theo quân quan Đề lĩnh đi túc trực các nơi điếm canh, phòng khi sai khiến; công việc rất là phiền nhiễu. Song tóm lại không tiền là không xong, chỉ làm nặng túi kẻ gian hoạt.

Tuy bảo rằng “phù bản ức mạt” (bồi đắp gốc rễ, ngăn chặn ngọn cành), nhưng cũng không phải là biện pháp tốt của đời thái bình”. Đến thời vua Gia Long nhà Nguyễn, trong một số sách dư địa chí như cuốn “Các tổng, trấn, xã danh bị lãm”, “Hoàng Việt dư địa chí”… cho biết tên của 36 phường.

Cụ thể, ở huyện Thọ Xương có 18 phường gồm: Yên Thọ, Hà Khẩu, Báo Thiên, Đông Hà, Đồng Xuân, Đông Tác, Đông Các, Cổ Vũ, Xã Đàn, Đồng Lạc, Thái Cực, Diên Hưng, Khúc Phố, Phục Cổ, Phúc Lâm, Kim Hoa, Hồng Mai, An Xá. Mười tám phường còn lại thuộc huyện Vĩnh Thuận là: Bích Câu, Quảng Bá, Thuỵ Chương, Yên Thái, Hoè Nhai, Tây Hồ, Nghi Tàm, Nhật Chiêu, Trích Sài, Võng Thị, Bái Ấn, Yên Lãng, Công Bộ, Thạch Khối, Hồ Khẩu, Thịnh Quang, Yên Hoa và Quan Trạm.

Vào năm Tân Mão (1831) vua Minh Mạng tiến hành cuộc cải cách lớn, trong đó có việc phân chia và đặt tên mới theo địa giới hành chính cấp tỉnh; lúc này Thăng Long xưa được sáp nhập với một số khu vực khác thành tỉnh Hà Nội với diện tích rộng hơn, gồm 4 phủ, 15 huyện so với Thăng Long xưa.

Trong số 15 huyện của Hà Nội vẫn có 2 huyện Thọ Xương và Vĩnh Thuận thuộc phủ Hoài Đức, 36 phố phường đều nằm trong địa phận hai huyện này. Sách “Hoàng Việt dư địa chí” in vào năm Qúy Tị (1833) cho biết như sau: “Phủ Hoài Đức, xưa là phủ Phụng Thiên có hai huyện, 13 tổng, 249 thôn phường. Huyện Thọ Xương: 18 phường. Huyện Vĩnh Thuận (xưa là huyện Quảng Đức): 18 phường”.

Trải qua thời gian và biến thiên của lịch sử, phố phường Hà Nội xưa đã thay đổi nhiều về tên gọi, số lượng cũng như diện tích nhưng một số vẫn giữ nguyên tên cũ như gợi nhắc cho những tâm hồn hoài niệm về một Hà Nội trong quá khứ.

Tên các phố ở Hà Nội bị cháy từ 1883-1888 do Claude Bourrin ghi lại đăng trong sách "Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX" - Nguyễn Văn Uẩn(4) cũng khai thác được tên phố mới; cũng viết về những đám cháy ở Hà Nội. Sách "Lịch sử thủ đô Hà Nội" của Trần Huy Liệu còn ghi thêm được tên 3 phố mới không trùng tên với các phố cũ(5). Những tư liệu trên giúp ta khai thác được tên 13 phố mới, cộng với 23 phố cũ vừa đủ 36 phố:

. 1. Phố Hà Khẩu: Hàng Buồm, theo Đại Nam nhất thống chí (1864-1875)
. 2. Phố Việt Đông: Hàng Ngang
. 3. Phố Hàng Mã
. 4. Phố Hàng Mắm
. 5. Phố Báo Thiên: Hàng Trống
. 6. Phố Nam Hoa: Hàng Bè
. 7. Phố Hàng Bồ
. 8. Phố Vàng bạc: Hàng Bạc
. 9. Phố Hàng Giấy
. 10. Phố Mã Mây
. 11. Phố Đồng Lạc
. 12. Phố Thái Cực: Hàng Đào
. 13. Phố Đông Hà: Hàng Chiếu
. 14. Phố Phúc Kiến: Lãn Ông
. 15. Phường Phục Cổ: Nguyễn Du
.
. 16. Phường Hàng Lam: phố Thợ Nhuộm
. 17. Phường Đồng Xuân
. 18. Phường Thanh Hà
. 19. Phường Hàng Gai
. 20. Phường Hàng Đẫy
. 21. Phường Hàng Chè
. 22. Phường Hàng Muối, theo Trương Vĩnh Ký (1876)
. 23. Phố Quảng Minh Đình*
. 24. Phố Hàng Đường*, theo Bản đồ Hà Nội 1883
. 25. Phố Hàng Mành
. 26. Phố Hàng Hòm
. 27. Phố Hàng Gà
. 28. Phố Hàng Đồng
. 29. Phố Hàng Nón: theo Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX
. 30. Phố Hàng Vai
. 31. Phố Hàng Lược
. 32. Phố Hàng Bông
. 33. Phố Lò Sũ
. 34. Phố Bắc Ninh: theo Lịch sử thủ đô Hà Nội
. 35. Phố Hàng Tre
. 36. Sở Lục lộ: Hàng Vôi.

Hà Nội liệu có 36 phố phường không?
Dựa vào câu trả lời có 2 loại ý kiến khác nhau:

Loại ý kiến thứ nhất khẳng định: Trong thực tế chỉ có “Thăng Long.

36 phường” ở thời Lê. Sang thời Nguyễn, khi đã mang tên mới là Hà Nội thì dưới đời Minh Mạng có tới 239 phường, thôn, trại để rồi tới thời Tự Đức con số đó rút xuống là 153, và .... không làm gì có ai gọi là “Hà Nội 36 phố phường”... cái gọi là “Hà Nội 36 phố phường chỉ là một cách nói tượng trưng, ước lệ; con số 36 đây có thể hiểu là “nhiều”.

Loại ý kiến thứ hai theo bài báo này trả lời sẽ là: Dưới triều vua Đồng Khánh (1885-1888) đúng là đã có 36 tên phường và rất có thể có cả tên 36 phố ở Hà Nội chăng? Những ai quan tâm xin suy nghĩ luận bàn. Còn hiểu về con số 36 có ý nghĩa thế nào? có phải đó chỉ là cách nói ước lệ? - tốt nhất là tìm câu trả lời ở chính những người sống đương thời đó.

Du lịch, GO! - Theo Diendanhanoi/Vietnam+, Đông Tác giao lưu, internet
5 giờ chiều của một ngày cuối tháng 12, Trần Ngẵng, ngụ tại thôn Tiến Phú, xã Tiến Thành cùng nhóm bạn lại gặp nhau trên bãi biển, nơi cách hòn đảo nhỏ và ngọn hải đăng nổi tiếng Kê Gà của xã Tân Thành, Hàm Thuận Nam (Phan Thiết) chỉ 5 phút đi ca nô.

Đó cũng là nơi mà bờ đá nhô ra biển  cùng vòng cung của hòn đảo tạo nên một vũng nhỏ, ít sóng. Trên bãi biển ấy, Ngẵng và  nhóm bạn sẽ câu suốt đêm. Để chuẩn bị cho cả đêm câu ấy, mỗi người đều chọn một đoạn bãi rồi tự tay chôn những chiếc ống nhựa Bình Minh cắt ngắn xuống nền cát theo một khoảng cách nhất định. Sau đó, họ cắm từng chiếc cần câu máy vào từng ống nhựa, nhờ vậy mà trong suốt  đêm gió và khi cá giật, cần câu cũng chỉ cong chứ không ngã xuống cát.

Ngẵng cho hay: Từ đây đến ngày 30 tết Quý Tỵ, Ngẵng và bạn bè đều có mặt tại bãi để câu cá hanh, một loài cá  sống ở hồ đầm và ngoài biển khơi. Một loài cá háu ăn nên rất dễ câu. Cá hanh, theo như Ngẵng cho biết thường đi ăn từng đàn vào lúc bình minh, hoàng hôn và không ăn một chỗ nào lâu.

Những người câu như Ngẵng đều sắm mỗi người trên dưới  một chục chiếc cần, cắm dọc theo bãi để… đón đợi cá. Có nhiều loại mồi câu nhưng tại  bãi Kê Gà, những người câu đêm đều chọn tôm tít, loại tôm có nhiều khoang, làm mồi.

Mỗi chiếc cần  có nhiều lưỡi, ở những vị trí khác nhau nên lượng tôm tít cần cho mỗi người câu trong một đêm phải trên 100 con. Điều này giải thích vì sao Ngẵng có 3 chiếc hộp đồ nghề đi câu.

Chiếc hộp to nhất đựng một chục chiếc bánh quy với lời giải thích “nhai cho vui miệng lúc ban đêm”, chiếc thứ hai đựng cước và lưỡi, chiếc  còn lại đựng mồi câu”.
Chuẩn bị mồi cho việc câu suốt đêm.

Văn hóa đi câu

“Trong  lúc câu đêm có qua lại nói chuyện, hoặc san sẻ cá cho nhau?”- tôi hỏi. Ngẵng không trả lời ngay  mà chỉ  từng nhóm cần câu của mỗi người cắm trên bãi, nói: “Có một quy định bất thành văn trong nghề câu là không đi lại lộn xộn, chiếm chỗ của nhau; không bí mật lấy mồi nhau; không vì lý do nào đó mà ganh ghét bạn câu được cá to; không quăng câu ngang dọc, làm vướng đường thu dây của bạn”… Do vậy, tiếng là câu đêm nhưng “giang sơn” ai người ấy biết!

Những người câu đêm chỉ biết nhau qua tiếng thu dây câu, tiếng cá quẫy khi lên gần bờ. Trong quá trình câu, ít ai tán chuyện gì; có chăng là  nhìn  ánh đèn pin mà đoán người câu bên cạnh đã mấy lần được cá hoặc mấy lần phải thay mồi.

“Người câu đêm phải trang bị cho mình những thứ cần thiết như: nước uống, thuốc hút, dầu xoa (nếu thầy cần)”, Ngẵng nói.

Đang trong lúc nói chuyện, tôi chú ý đến một thanh niên ngồi bó gối cách Ngẵng khoảng 20 bước chân.  Anh thanh niên đăm đăm nhìn ra mặt nước, trong khi cạnh đó là hai chiếc cần câu có phần hơi ngã về phía trước.

Tôi hỏi Ngẵng: “Cá cắn câu sao bạn ấy không giật?”. Ngẵng lắc đầu: “Nước chuyển đó anh. Trên bề mặt mình không thấy gì nhưng bên dưới đã bắt đầu chảy. Cần bị cong một phần là do sức nước, còn nếu cá cắn câu thì đầu cần sẽ giật nhẹ liên tục trước khi cong vòng. Khoảng nửa tiếng nữa khi đêm xuống hẳn, tụi em phải căng tai ra nghe, chốc chốc  phải bấm đèn pin quan sát từng cần câu”.

Thức với đêm sâu

Đêm mỗi lúc một xuống nhanh, những người câu cá biển ban đêm không ai bảo ai đều đứng lên, mắt hướng về phía vũng nước, về ngọn hải đăng Kê Gà. Sóng biển vẫn vỗ ì oạp. Những chiếc cần câu có vẻ như mỗi lúc một cong hơn. Tôi đoán là nước đang rút và những người câu đêm sẽ phải tập trung cả tai, mắt vào đó.

Tôi hỏi Ngẵng một câu vì sợ quên: “Một đêm câu được khoảng bao nhiêu cá?”. “Vài ký. Đủ cho vợ đi chợ. Nhưng nhiêu đó đã là quý với tụi em vì bây giờ tìm việc làm khó lắm. Có việc làm dù nhỏ vẫn hơn ngồi không rồi sinh hư”. Tôi nghe tiếng cười nhỏ của Ngẵng. Đêm của những người câu biển xao xát làm sao!

Du lịch, GO! - Theo Hà Thanh Tú (Bình Thuận Online), internet
Đôi khi những đặc điểm nằm bên ngoài món ăn lại làm tôi nhớ về đồ ăn, thức uống của một miền đất mình từng đặt chân qua. Riêng với phở Hà Nội, không hiểu sao, tôi chỉ thích ăn ở những quán cổ kính và... chật chội.

< Tô phở đầy đặn tại 23C phố Hai Bà Trưng.

Một người bạn bắt bẻ tôi, ở Hà Nội cái gì chẳng chật, nhà chật, đường chật thì chẳng có lý gì quán phở không chật? Tôi bảo vệ ý kiến của mình: "Chật đến độ phải nhường nhau từng cái ghế, và nếu giờ cao điểm, vai người này phải hích vào cùi tay của người kia cơ! Bạn tôi cười, thế thì chịu sở thích của một con bé... dở hơi!".

Vừa ăn phở vừa nghe"dàn đồng ca"

Quán phở đầu tiên tôi ăn ngày mới đặt chân lên Hà Nội là phở bò Hàng Đồng. Cậu học trò tôi làm gia sư năn nỉ cô giáo: Cô cứ thử ăn một lần đi, ngon hơn mấy cái quán được giới thiệu trên mạng là cái chắc! Và tôi đi ăn thật.

< Phở bò Hàng Đồng.

Quán nằm ngã tư Hàng Vải và Hàng Đồng, vỏn vẹn 12 mét vuông cho cả chỗ nấu của chủ, chỗ ngồi của khách. Tôi và học trò chọn một cái bàn ngoài vỉa hè cho thoáng, vừa ăn phở vừa nghe tiếng kim loại loảng xoảng của những cửa hàng lân cận. "Thế mới xứng danh là phở Hàng Đồng cô ạ", cậu bé thuyết minh.

Nước phở trong veo, bánh phở mềm, cọng hành xanh, thịt bò không nát cũng không dai. Chúng tôi vắt chanh và thả thêm vài lát ớt đỏ vào bát, cứ thế hai cô trò, mỗi người một đôi đũa, một chiếc thìa rồi xì xụp cho đến khi đáy bát chỉ còn chút nước. Thằng bé đưa giấy lau mồ hôi trên trán và hai sống mũi: Ăn xong ấm cả người!

Thằng bé nhà ở phố Bát Đàn, tuần nào cũng chạy ra quán phở bò này đôi ba lần, không ăn ở đó thì xách cà mên (cạp lồng) mua về cho ông, bà hay em gái. Cháu kể cho tôi nghe, thích nhất nước phở Hàng Đồng, thơm thơm mùi mắm, bánh phở vừa đủ độ dai, không nát. Thịt bò thái vừa đủ mỏng, gắp đủ cho người ăn, ăn đến độ cảm thấy đã miệng thì vừa hết bát. Tôi khâm phục một cậu bé lớp 8 nhưng khá sành phở.

Đến vỉa hè Hai Bà Trưng ăn phở


< Tiệm phở cổ kính trên phố Hai Bà Trưng rất nhỏ, nên thực khách phải ngồi ngoài vỉa hè.

Chúng tôi tình cờ biết được quán phở nằm ở 23C Hai Bà Trưng sau một chuyến đi chơi bờ hồ tết dương lịch mấy năm trước. Trời mưa phùn rét căm căm, người mệt nhoài, chúng tôi mừng như bắt được vàng khi thấy bên kia đường là một quán phở nằm ngay trên vỉa hè.

Không bàn ghế sang trọng, quán phở mang tên Huy Hoàng đơn sơ với những chiếc ghế nhựa để khách vừa làm bàn, vừa làm ghế. Phần diện tích trong nhà vài mét vuông đủ cho vài người khách ngồi, còn lại phần lớn khách đến được xếp ghế ngồi ngay vỉa hè.

Chúng tôi gọi phở tái chín. Hai tô phở đầy tràn được bưng ra, nhìn thôi đã thấy no nê. Nước dùng hơi ngậy, ngoài lớp hành lá tươi roi rói còn có những khoanh hành tây trắng muốt. Những miếng thịt bò nhìn có dính thêm chút mỡ nhưng ăn không hề thấy ngấy, bánh phở sợi to, mềm mịn. Tôi rưới chút tương ớt, vắt thêm chanh, trộn đều, đủ thấy tất cả các vị chua, cạy, mặn ngọt của tô phở Hà thành chính hiệu.


< Xếp hàng mua phở 49 Bát Đàn.

Về sau lên mạng tra cứu, tôi mới biết đây là quán phở nổi tiếng Hà Nội, có từ hàng chục năm trước.
Một câu chuyện kể rằng có một đôi nam nữ yêu nhau thường đến ăn phở ở quán này, đến giờ, khi cậu con trai của họ đã cao hơn bố một cái đầu, cả gia đình vẫn ghé đến 23C Hai Bà Trưng, gọi phở ăn, gặp hôm quán hết chỗ ngồi, nhất định họ đứng chờ người khác ăn xong thì thế chỗ chứ không tìm quán khác...

Theo Tây đi ăn phở xếp hàng

Ông bạn người Thụy Điển của tôi sau một hồi được dẫn đi ăn phở xếp hàng 49 Bát Đàn thì tỏ ra vô cùng phấn khích, anh ta reo lên bằng thứ tiếng Việt lơ lớ: Rất ngon
Đây là quán phở duy nhất tại Hà Nội có hình thức độc đáo như thời... bao cấp: khách đến phải xếp hàng, đưa tiền trước rồi tự bưng bát phở của mình đến một chỗ ngồi còn trống rồi tự thưởng thức. Quán phở không mở 24/24, chỉ từ 5 giờ 30 sáng đến 10 giờ 30 trưa, từ17 giờ 30 chiều tới 22 giờ tối, nhưng cảnh xếp hàng thì lúc nào cũng thấy.

Chúng tôi ăn nhiều lần ở quán này và thích nhất phở tái gầu. Một bát phở rất đầy đặn giá chỉ tầm 40.000 đồng. Thịt bò nhìn đã thấy mềm. Hành xanh muốt. Sợi phở vuông, nước dùng trong, ít béo hơn phở Hai Bà Trưng. Húp chút nước, đã thấy trong người ấm sực...


< Phở 49 Bát Đàn, cái ngon cũng từ sự đông đúc trong quán.

Người khách nước ngoài đi cùng chúng tôi không phải lần đầu tiên ăn phở Việt Nam, nhưng xếp hàng để lấy phở thì đúng là lần đầu tiên. Anh cũng cho thêm ớt, rau thơm vào bát phở sành sỏi như một người Việt chính hiệu. Anh còn làm chúng tôi bất ngờ hơn nữa khi khẳng định rằng, Phở 24 anh từng ăn ở nhiều thành phố tại Việt Nam đúng là có sạch hơn, rộng hơn, người phục vụ tận tình hơn, nhưng độ ngon, thì "phở xếp hàng" vẫn là số 1!

Xa Hà Nội, người ta có thể gặp những nỗi nhớ rất... ẩm thực. Nhớ ô mai Hàng Đường, nhớ trà chanh Nhà Thờ, nhớ caramen dốc hàng Than... Riêng tôi, tôi nhớ những giọt mồ hôi trên trán, dọc sống mũi, trên cằm, khi ngồi ăn phở ở một vỉa hè giữa trưa hay trong một cái quán chật chội, chỉ vừa kê đúng được 2, 3 chiếc ghế, nghe những thanh âm của một Hà Nội bận rộn.

Phở Hà Nội, cái tài tình của món ăn ngon từ miền đất lành đó là đánh thức được trong ta những cảm nhận không chỉ từ vị giác…

Du lịch, GO! - Theo iHay, internet

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống