Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Friday, 8 February 2013

Nổi tiếng xứ Huế từ lâu nay, bánh chưng Nhật Lệ và bánh tét làng Chuồn là những hương vị truyền thống không thể thiếu trong mâm cỗ tết của người dân đất Huế.

Từ hôm 20 tháng Chạp âm lịch, con đường Nhật Lệ (Thành Nội - Huế) đã rộn ràng. Khách hàng từ mọi nơi tìm về đây để đặt hàng và mua bánh chưng Nhật Lệ, một đặc sản nổi tiếng từ lâu nay.
Chúng tôi vào tiệm bánh chưng có tên “Mệ tóc bạc” của bà Đào Thị Bê (117 Nhật Lệ, TP Huế). “Năm nào cũng thế, cứ đến dịp này là nhiều người tìm đến để đặt hàng trước. Mọi nguyên vật liệu đã được chuẩn bị sẵn trước, tùy thuộc vào số lượng để gói” bà Bê cho biết.

Trước hiên nhà, ngổn ngang nguyên liệu, gia vị như lá chuối, đậu, thịt, mỡ, nếp... Phía sau, những nồi bánh hun hút đỏ lửa liên tiếp mấy ngày liền. Trung bình mỗi ngày cận tết tiệm bánh của bà cho ra lò khoảng 1.000 - 2.000 cặp. Nhiều nhà làm bánh có tiếng như nhà bà Đào phải thuê thêm vài chục nhân công làm thì mới kịp để hàng cho khách.

Theo bà Đào, để có vị đặc trưng riêng tạo nên thương hiệu bánh chưng Nhật Lệ, người làm bánh phải chọn nguyên liệu rất công phu. Nếp phải là nếp loại nhất được chọn mua từ các huyện ven TP Huế như Hương Trà, Phú Vang. Nhụy (nhân) bánh phải là thịt heo nạc có pha ít mỡ, người gói phải khéo tay trong khâu cho gia vị vào nhụy sao cho người ăn phải cảm nhận được vị ngon.

Lá gói bánh là lá chuối hoặc lá dong xanh tươi, dùng lạt giang buộc chặt trước khi cho vào nồi. Công đoạn cuối cùng và khó nhất là khâu luộc bánh, chêm nước, coi lửa... thường thì khâu này những người có kinh nghiệm mới làm được. Chiếc bánh đẹp và ngon thì bên ngoài phải vuông đều, màu lá khi bánh chín phải xanh. Bên trong, khi mở lá ra, tỏa mùi thơm nồng.

Bên cạnh bánh chưng Nhật Lệ, bánh tét làng Chuồn (xã Phú An, huyện Phú Vang, TT-Huế) cũng vang tiếng không kém. Tết đến, bánh tét làng Chuồn có mặt khắp nơi trong các gia đình ở Huế. Về làng Chuồn hỏi nhà ông Đoàn Rạng ai cũng biết bởi ông là người có thâm niên mấy chục năm gói bánh tét.

Ông Rạng cho biết tính đến thời điểm 24 tháng Chạp âm lịch ông đã nhận được hơn 100 lời đặt hàng từ TP Huế và bà con ở tận TP.HCM. Đại gia đình ông hơn 50 con cháu từ nhỏ đến lớn tụ tập lại mỗi người một việc phụ nhau làm. Trẻ con lau lá, người lớn vuốt nếp, làm nhụy, gói bánh... Bánh tét được gói bằng nếp trồng trên ruộng của làng nên có vị thơm đặc trưng riêng, lá chuối cũng là lá chuối vườn nên người mua bánh rất yên tâm, không sợ chất nhuộm xanh.

Theo ông để có một đòn bánh gói đẹp hài lòng khách, phải để nhụy bánh nằm đúng trung tâm, giữ vững hình trụ tròn đều, các nuộc lạt buộc khéo đều nhau... Khi luộc bánh lửa phải đỏ rực và thường xuyên chêm nước.

Cũng như gia đình ông Rạng, hàng trăm hộ dân ở làng Chuồn cũng tấp nập gói bánh. Mỗi lần tết đến, nhà ít thì vài trăm, nhà nhiều cũng đến dăm ngàn đòn. “Gói bánh chưng, bánh tét là nét đẹp truyền thống của tết Việt, nhưng đem nét đẹp ấy đến với mọi người, mình càng thấy công việc ấy có ý nghĩa hơn” chị Phan Thị Thời, một người gói bánh tét lâu năm ở làng Chuồn chia sẻ.

Có lẽ nhờ vậy, bánh tét làng Chuồn đã trở thành món ngon truyền thống mà cứ hễ nhắc tới, những người con đất Huế xa xứ lại lâng lâng nhớ tới, thèm thuồng, nhất là mỗi độ xuân về.

Du lịch, GO! - Theo Phan Thành (DulichTuoitre), Hues.
Miếu Rồng thuộc thôn Cao Duệ, xã Nhật Tân, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương. Tương truyền thôn Cao Duệ trước đây có thế đất giống như một con rồng, nên nhân dân gọi địa danh này là làng Rồng.

Đầu thế kỷ XVIII, Cao Duệ là một xã thuộc huyện Gia Phúc, phủ Hạ Hồng, trấn Hải Dương. Thế kỷ XIX xã Cao Duệ thuộc tổng Thị Đức, huyện Gia Lộc trấn Hải Dương đổi thành tỉnh Hải Dương, tên miếu Rồng được gọi theo tên nôm của làng.
Miếu Rồng toạ lạc trên một khu đất cao ráo, thoáng rộng, mặt tiền của miếu quay về hướng Đông - Nam, phía Tây giáp chùa làng và khu dân cư, phía Bắc có ao, phía Nam là khu dân cư, di tích có cảnh quan đẹp, trong tương lai và có hướng phát triển tốt.

Nhật Tân là mảnh đất được hình thành khá sớm trong lịch sử, địa danh của xã trước đây gồm 2 xã Cao Duệ và Thị Đức thuộc tổng Thị Đức, sau năm 1945 các xã đổi thành thôn. Năm 1946 hai thôn Cao Duệ và Thị Đức sáp nhập thành một xã lấy tên là Nhật Tân có nghĩa là “ngày mới” tên xã Nhật Tân có từ đó đến nay.

Căn cứ vào thần tích, bia ký và truyền thuyết còn lưu giữ tại địa phương thì miếu Rồng được khởi dựng từ thời Hậu Lê (thế kỷ XVII) trùng tu vào thời Nguyễn. Bên cạnh miếu Rồng có chùa Liên Hoa và văn chỉ. Năm 1952 các công trình này đều bị quân Pháp phá hoại. Vào năm 2000, nhân dân địa phương đã đóng góp tiền của, công sức khôi phục lại miếu Rồng. Công trình gồm 5 gian tiền tế và 2 gian hậu cung, kết cấu chính của công trình bao gồm hệ thống cột, các con thuận, xà nách, đầu dư, bẩy bằng bê tông cốt thép, hoành dui bằng gỗ; mái lợp ngói mũi, tường xây gạch chỉ. Công trình vừa được chống xuống cấp năm 2005 nên còn khá chắc chắn.

Cùng với miếu Rồng và chùa Liên Hoa, năm 2005, nhân dân địa phương đã đầu tư hơn một tỷ đồng khôi phục lại đình Rồng tạo thành một quần thể di tích lịch sử văn hoá khang trang bề thế.

Căn cứ vào thần tích, bia ký và truyền thuyết lưu truyền trong nhân dân địa phương thì miếu Rồng thờ Đào Ngọc Sâm, người đã có công giúp Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất đất nước và giúp Lê Hoàn đánh giặc Tống vào thế kỷ X, thân thế sự nghiệp của ông có thể tóm tắt như sau:

Vào thời nhà Đinh ở huyện Nga Sơn, phủ Hà Trung, Ái Châu có vị trưởng tộc họ Đào tên là Ngọc Hoàn, tổ tiên vốn là người phương Bắc. Vào năm Long Hưng niên hiệu Thái Bình, chạy sang An Nam cư trú ở động Tung Sơn để tránh sự dâm loạn của vua Dương Đế nhà Tuỳ. Họ tộc 5 đời đều tinh thông nghề y và phong thuỷ. Ngọc Hoàn lấy vợ tên là Trần Thị Hiên sinh hạ con gái đặt tên là Trinh Nương. Trinh Nương lên 10 tuổi thì mẹ qua đời. Đào công thương xót, đợi hết tang vợ sẽ gả con gái cho người trong động, giao phó tài sản cho con rể rồi đi chu du thiên hạ. ông đến trang Cao Duệ xứ Hải Dương, thấy con sông lớn chia thành 9 nhánh nhỏ, uốn lượn như con rồng 9 khúc, phong cảnh hợp với người, bèn vào quán ngoài đồng nghỉ ngơi. Dân trong bản trang thấy lạ bèn ra xem và mời về làng khoản đãi.

Bấy giờ trong trang có ông Đỗ Thành, ngoài 40 tuổi có 1 người con gái tên là Sung Nương, Đỗ Thành thấy Ngọc Hoàn là người đức độ bèn mời về nhà và gả con gái cho. Trong trang có chùa Liên Hoa là nơi danh lam thắng cảnh, nhà sư trụ trì tại chùa vừa viên tịch chưa có người thay thế. Mọi người trong trang ngỏ lời mời Đào công đến ở và trông nom chùa, lúc đầu Đào công không ưng thuận, sau khi lấy Sung Nương hai vợ chồng đồng ý ra ở tại chùa. Một hôm có đôi vợ chồng họ Lý ở trong trang sắm sửa lễ vật đến chùa cầu tự nhờ Đào công làm sớ tấu lên mong được ứng nghiệm, đêm đó Lý công ngủ tại chùa. Một thời gian sau vợ chồng họ Lý sinh được một người con gái đặt tên là Giáp nương.

Năm Giáp Thân vào giờ Ngọ, ngày mồng 8 tháng Giêng vợ chồng họ Đào sinh được một người con trai tướng mạo khác thường. Năm lên 9 tuổi cậu bé đã hiểu âm luật, giỏi thơ văn. Đào công lúc đầu đặt tên con là Ngọc Việt, sau lại đổi thành Ngọc Sâm, khi Ngọc Sâm 15 tuổi cả mẹ cha đều đột ngột qua đời. Sâm công cử hành tang lễ thành kính, chu đáo, quan phủ huyện trong vùng biết tin đều đến phúng viếng. Đến khi của cải trong nhà cạn kiệt, có người cậu thương cảnh nghèo khó bèn đón về nuôi và cho theo học Lý tiên sinh. Lý tiên sinh thấy Sâm công học lực hơn người, thần đồng xuất thế nên rất yêu quý !

Năm Sâm công 18 tuổi, ông cậu bèn hỏi cưới con gái họ Lý tên là Giáp Nương cho Ngọc Sâm. Sau khi cưới vợ cho Ngọc Sâm, người cậu qua đời, tang lễ chu đáo cho cậu xong Sâm công tự nghĩ “nay thiên hạ phân tranh 12 sứ quân cát cứ từng vùng, chính là lúc anh hùng phải ra sức chống trời, vực đất, nếu chỉ khư khư cái học cử thì thực là không biết thời, biết thế” Bèn thưa với Lý tiên sinh chí hướng của mình rồi chiêu mộ dân binh được hơn 2000 người luyện tập binh pháp, cùng đồng cam cộng khổ. Lúc bấy giờ Đinh Bộ Lĩnh dấy binh ở Hoa Lư, quân sĩ có tới vài vạn anh tài, kẻ sĩ trong thiên hạ hết thảy đều quy phục, tuy thế vẫn chưa tìm được người văn võ toàn tài. Nguyễn Bặc nói với Đinh Tiên Hoàng “nghe nói ở vùng Hải Dương có người tên là Đào Ngọc Sâm tài năng xuất chúng, có mưu kế hiểm lạ, kẻ sĩ trong nước không ai sánh nổi”. Đinh Tiên Hoàng sai Nguyễn Bặc đi đón Sâm công về yết kiến Tiên Hoàng. Vua Đinh thấy Ngọc Sâm tướng mạo khôi ngô thì mừng rỡ bèn phong cho Sâm công làm Tham tán mưu sự thống lĩnh thuỷ bộ chu doanh đại tướng quân. Liền sau đó Sâm công lệnh cho quân sĩ các đạo thuỷ, bộ chia làm 12 đạo cùng tiến đánh thành của sứ quân Ngô Xương Xí. Thấy quân triều đình đến, Ngô Xương Xí liền đem quân ra nghênh chiến, đánh nhau chưa được vài hiệp Sâm công đã chém rơi đầu Xương Xí. Sau khi đánh bại Xương Xí, Sâm công lại kéo quân đến đánh thành của sứ quân Ngô Khánh, Ngô Khánh bất ngờ nghe tin quân nhà vua đến hốt hoảng đem quân ra chống đỡ, chưa kịp giao chiến, phục binh đã xông lên chém được đầu Ngô Khánh. Quân sĩ của các cánh quân Đỗ Cảnh Thạc, Phạm Bạch Hổ, Nguyễn Thiều tan tác, nghe tiếng bỏ chạy, loạn 12 sứ quân được chấm dứt.

Sau khi thắng trận, Đinh Tiên Hoàng xưng vương đóng đô tại Hoa Lư (Ninh Bình) thắng trận trở về Sâm công được vua ban thưởng nhiều vàng bạc, tơ lụa, cho về thăm quê nội, ngoại. Sau 2 tháng ông trở lại triều đình, được vua sai làm Đốc trấn hai châu (Châu Hoan và Châu Ái).

Được 3 năm, nhà Tống lại đem quân sang xâm lược nước ta, vua triệu Sâm công và các tướng lĩnh về triều đình và phong cho Lê Hoàn làm Thống quốc Thượng tướng quân, Sâm công làm "Phó thống quốc Thượng tướng quân" sai hai ông đem quân ra cự chiến với giặc, sau nhiều trận giao tranh quân Tống đại bại phải rút khỏi nước ta. Sau khi thắng trận, Đào Ngọc Sâm xin về quê nghỉ ngơi, ông mất tại quê vào ngày 13/3. Nhà vua được tin ông mất vô cùng thương tiếc sai các quan về làm lễ viếng và cấp vàng bạc cho xây đền thờ ông ở động Tung Sơn và trang Cao Duệ và phong cho ông làm “An Nam Thánh tổ linh ứng Đại vương”.

Miếu Rồng không chỉ là nơi thờ Đào Ngọc Sâm có công giúp vua Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn 12 sứ quân và giúp vua Lê Hoàn chống giặc Tống. Trong kháng chiến chống Pháp miếu còn là nơi in ấn tài liệu tuyên truyền của cơ quan huyện và xã.

Di tích miếu Rồng xã Nhật Tân đã được UBND tỉnh ra Quyết định số 4759/QĐ-UBND, ngày 28/12/2006 xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh.

Du lịch, GO! - Theo NTO, internet
Đầu tháng chạp, mỗi sáng thể dục đi ngang vài căn nhà mở cửa sớm, nghe mùi nồng nồng của củ kiệu bay ra, cái mùi không lẫn vào đâu được. Xung quanh rổ kiệu có vài ba người ngồi, trò chuyện râm ran. Họ đang làm công việc của những người “nôn” tết.

Ở Sài Gòn, hễ khi bắt gặp cảnh đó là những người xa quê như chúng tôi không khỏi muốn xáp vào... hóng chuyện, và nếu người ta đồng ý thì mình cũng phụ giúp một tay, lòng chỉ muốn mau cận tết về lại quê nhà. Phụ nữ Sài Gòn, đúng giờ còn phải đến công sở, nên họ tranh thủ lúc tảng sáng, hay chiều muộn, lột vỏ cắt râu vài ba ký kiệu đem ướp, chuẩn bị tết dần dần.

Còn ở quê, người nội trợ có nhiều thời gian cho việc bếp núc hơn, và tết cũng là dịp người thân khắp nơi về sum họp. Nêu kiệu chua, có nhà làm hai ba chục ký là thường.

Các bà các chị quê tôi thường bắt đầu mua củ kiệu khoảng mùng mười tháng chạp. Các chị nói đùa với nhau, làm kiệu không quá khó, không cần quá khéo, chỉ cần kiên nhẫn và... nhiều chuyện một chút là xong. Đầu tiên, mua kiệu phải lựa tương đối đều củ, đẹp mắt. Kiệu đem về, trộn tro củi than trong một thau nước lạnh lớn, trút kiệu vào ngâm giáp cữ (24 tiếng đồng hồ). Sau đó, xả nước lạnh nhiều lần cho sạch tro. Khuấy tiếp một thau nước muối với độ mặn vừa phải, trút kiệu vào, cũng ngâm giáp cữ. Vớt ra xả nước lạnh. Lại chuẩn bị một thau nước phèn chua (chỉ vừa đủ chua, nếm thử thấy hơi chát nước), trút kiệu vào ngâm giáp cữ. Vớt kiệu ra để ráo, lần này không cần xả nước lạnh mà đem phơi nắng cho khô ráo.

Khi nhìn thấy củ kiệu không còn ẩm ướt, trút hết vào một cái thau lớn và xốc nước giấm nuôi. Đem thau kiệu dang nắng thêm một ngày, chịu khó cách một hai tiếng đồng hồ thì xốc trộn kiệu cho thấm đều nước giấm. Đợi thêm một đợt nắng nữa, vớt kiệu ra phơi khô ráo, sau đó trút hết vào thau và ướp đường. Các bà mẹ quê thường nhẩm tính luôn lượng đường cần thiết khi bắt đầu mua kiệu chưa lột vỏ. Tỷ lệ là 1 kg kiệu tương ứng với 300 gr đường.

Khi kiệu đã “nằm yên” trong thau với lượng đường phù hợp, cứ để như thế khoảng 2-3 ngày cho đường chảy dần thành nước, thỉnh thoảng trộn đều. Sau đó thì phải cần người khéo tay xếp kiệu vào những cái hũ thủy tinh, xếp “kiểu cọ” thế nào cho vừa ý, vì ngoài để ăn trong nhà thì còn đem biếu tặng người thân ở xa, hoặc nhà sui gia; hay để dành cho con cái mang đi vừa tặng vừa... khoe quà quê với bạn bè, đồng nghiệp trên phố thị.

Chú ý khi kiệu đã vào trong hũ thì trút hết lượng nước đường đã ướp vào chung, đậy kín nắp hũ, để vào chỗ sạch và mát. Pha nước giấm nuôi cùng với một ít đường và ít muối, đem nấu sôi, để nguội. Trước khi ăn kiệu khoảng 3 ngày, chế nước giấm này vào với lượng vừa đủ, đậy nắp hũ và vẫn để chỗ mát. Tránh dùng giấm sống chế vào hũ kiệu vì sẽ bị nổi váng, mất thẩm mỹ và ăn cũng bớt ngon.

Nói đến đây thì cũng đã tết lắm rồi. Tính sơ sơ quá trình cho một củ kiệu sống thành củ kiệu chua ngọt thơm ngon, thời gian tròm trèm mất hai tuần.

Nhà nào làm sơ sơ năm ba ký ăn chơi còn đỡ, nhà nào siêng làm hai ba chục ký thì chỉ công đoạn cắt đầu, cắt đuôi, lột vỏ kiệu cũng đã mất vài ngày. Thế nên mới nói, công việc này rất có tính đoàn kết, nhiều người cùng làm thì không chán, và được... nhiều chuyện. Không cần phải ngó qua nhà bà con lối xóm để “nhiều chuyện” cho mích lòng nhau.

Đơn giản, là chuyện mừng xuân đón tết, con cái trong nhà năm nay khá hay khổ, đã mua sắm được gì, nồi bánh đêm ba mươi dự tính bao nhiêu nếp bao nhiêu đậu, lễ rước ông bà có nấu xôi chè hay đơn giản chỉ cúng trái cây...

Du lịch, GO! - Theo Đăng Khôi (iHay), internet

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống