Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Friday, 5 April 2013

Những ngày đầu tiên khăn gói về làm dâu xứ biển, tôi rất khâm phục tài nấu nướng của mẹ chồng. Món nào mẹ nấu cũng ngon, có mùi vị rất lạ, đặc biệt các món ăn từ cá biển và cá cơm mồm.

Nhớ lần đầu tận mắt chứng kiến mẹ nấu canh cá cơm mồm - loại cá cơm lạ tôi chưa bao giờ được biết đến - với dưa hường tôi không khỏi ồ lên ngạc nhiên. Giở nắp nồi, khói bốc lên nghi ngút, bên những lát dưa hường xanh mơn mởn, những chú cá cơm mồm nhỏ trăng trắng, xinh xinh như đang ngụp lặn trong sóng sánh nước sôi trông rất vui mắt. Mùi thơm thoảng thoảng, nhẹ nhàng lan tỏa cả căn bếp nhỏ càng kích thích thêm khẩu vị.

Cá cơm có nhiều chủng loại như cá cơm ruồi, cá cơm trắng, cá cơm săn, cá cơm nước ngọt, cá cơm sọc… Đặc biệt còn có loại cá cơm rất nhỏ, dài cỡ ba phân, thân cá màu trắng bạc, thịt trong suốt, khi chế biến có thể ăn luôn cả xương. Người xứ biển gọi loại cá này là cá cơm mồm.

Thịt cá cơm mồm rất lành, hàm lượng đạm cao, chứa nhiều canxi, nhiều vitamin có thể làm món ăn cho người đau ốm hay mới sinh. Cá cơm mồm  rất hiếm, giá cao gấp hai, ba lần so với loại cá cơm khác. Đến mùa cá cơm (chừng tháng ba đến tháng sáu) thỉnh thoảng đi chợ sớm mới gặp cá cơm mồm.

Mỗi lần mua được vài lạng cá cơm mồm mẹ chồng tôi rất hài lòng, về khoe với cả nhà như một sự may mắn. Cá cơm thường được bán theo mớ, theo vại, giỏ hay ký nhưng cá cơm mồm lại bán theo lạng vì rất hiếm. Mua được cá, mẹ ra ngay mấy luống dưa hường ngoài vườn chọn cho được vài trái to bằng trái cam, không quá già cũng không quá non bởi trái lớn có nhiều hạt, trái nhỏ quá thì không đủ vị ngọt.

Mẹ cẩn thận rửa sạch sau đó mới gọt bỏ hết lớp vỏ xanh bên ngoài, rồi chẻ dọc trái dưa ra nhiều phần. Đợi nước sôi, thả cá vào rồi bỏ dưa hường, đợi nước sôi bùng lên vài dạo thì nhanh tay nhắc xuống khi miếng dưa vẫn còn màu đục, nếu để sôi trên bếp lâu quá dưa bị nhão và cá sẽ nát. Có thể cho thêm ít hành, ngò để tô canh vừa đẹp mắt lại có mùi thơm quyến rũ.

Thời tiết nắng nóng chỉ cần nồi canh dưa hường nấu cá cơm mồm cũng đủ cho cả nhà có bữa cơm ngon miệng lại giúp giải nhiệt.

Một món khác là cá cơm mồm kho rim. Cá cơm mồm còn tươi để nguyên con, chỉ cần rửa qua nước sạch, ướp gia vị cho vào chiếc om đã khử dầu, bắc lên bếp để lửa riu riu rồi thêm một ít nước. Món cá cơm mồm kho rim của mẹ hội tụ đủ các vị béo, ngọt, bùi chẳng khác gì món cá bống kho tộ.

Và nói đến cá cơm mồm thì không thể không kể đến món gỏi - món ăn chơi dân dã nhưng rất độc đáo. Muốn làm gỏi ngon phải bắt đầu từ khâu chọn lựa cá. Cá phải còn tươi, ngắt bỏ đầu rửa sạch. Ngâm cá vào nước giấm hay nước chanh pha loãng, một lát sau vớt ra, ép ráo nước, cho vào bát to. Nêm gia vị mắm, muối, tiêu, vắt chút nước chanh tươi và không quên trộn thêm đậu phụng giã nhỏ, khế, chuối chát xắt mỏng. Vậy là được món gỏi cá cơm mồm thật hấp dẫn.

Mùa này biển miền Trung quê tôi cá cơm mồm bắt đầu xuất hiện nhiều so với thời điểm khác trong năm, nên những phiên đi chợ hễ gặp cá cơm mồm được bày bán thế nào mẹ cũng mua về chế biến để cả nhà cùng thưởng thức món cá đặc sản được thiên nhiên ban tặng.

Du lịch, GO! - Theo Thanh Ly (Báo Tuổi Trẻ), internet
Biết tôi mới ra Nha Trang, thằng bạn đã vội gọi “Đi chụp hình đèo Ô-mê-ga không?”. Vốn muốn biết thử đèo Ô-mê-ga như thế nào tôi liền đồng ý và chuẩn bị hành trang để lên đường.

Đèo Ô-mê-ga (Omega, còn gọi là đèo Hòn Giao, đèo Khánh Lê...) là một địa danh chưa được nhắc đến nhiều trong các cuốn guidebook của những công ty du lịch, với nhiều du khách đó là một cái tên rất đỗi lạ lẫm và ngay cả đối với người dân Nha Trang cũng vậy. Ô-mê-ga chỉ mới được biết đến trong thời gian gần đây kể từ khi con đường Khánh Lê- Lâm Đồng được xây dựng và đưa vào hoạt động nhằm thúc đẩy phát triển du lịch, thông thương cho người dân giữa hai tỉnh Khánh Hòa, Lâm Đồng.

Nếu trước đây từ phía Khánh Hòa trở ra ngoài Bắc muốn đến được Đà Lạt thì phải chạy vào tận thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, từ đó theo Quốc Lộ 27 vượt qua đèo Ngoạn Mục mới đến được Đà Lạt. Nhưng từ khi con đường Khánh Lê-Lâm Đồng mở ra, khoảng cách đã được rút ngắn xuống rất nhiều.

Du khách chỉ cần đến ngã ba Thành của huyện Diên Khánh tỉnh Khánh Hòa, hỏi thăm đường lên Đà Lạt sẽ được người dân hướng dẫn nhiệt tình. Từ đấy, nếu chạy xe máy hoặc xe hơi chỉ mất trên dưới hai giờ đồng hồ là sẽ đến với thành phố mộng mơ. Con đường này được mở ra nhanh chóng thu hút được sự ham muốn khám phá của nhiều người, vì nó lạ lẫm. Bên cạnh đó lại là một con đường rất đẹp qua biết bao nhiêu là đồi núi. Trên suốt cả con đường, du khách sẽ dễ dàng nhận thấy sự chuyển đổi giữa một vùng đất miền duyên hải nắng nóng đến vùng đất cao nguyên sương mù lạnh lẽo. Nhất là vào những tháng gần Tết, đi trên con đường này sương mù phủ kín cả lối đi. Song, cũng vì con đường này được lập ra mà số lượng du khách đến với tỉnh Ninh Thuận bị giảm sút, hoặc du khách không còn thích thú đối với Ninh Thuận.

Từ khoảng xế chiều, chúng tôi đã chuẩn bị cho mình thức ăn, nước uống và đương nhiên là phải có máy chụp hình. Trên chiếc xe máy hiệu Bonus do bạn tôi chở, vượt qua dốc Đá Lửa và Sải Me để đến với Khánh Vĩnh, nơi cư ngụ của đông đảo người sắc tộc Raglai để tìm đến đèo Ô-mê-ga.

Khánh Vĩnh cùng với Khánh Sơn là hai huyện miền núi nghèo của tỉnh Khánh Hòa, nơi đây tập trung nhiều người Raglai. Ở họ không còn giữ lại được nhiều những tính đặc trưng của văn hóa miền núi. Xét trên nhiều phương diện về xã hội thì người Raglai đã và đang bị Kinh hóa. Việc Kinh hóa không phải diễn ra từ từ mà một cách nhanh chóng đến chóng mặt.

Người Raglai ở Khánh Vĩnh không còn cư trú trong những ngôi nhà sàn mà chuyển sang ở hẳn trong những ngôi nhà được làm bằng bê-tông do chính nhà nước tài trợ được xây dựng theo những khuôn mẫu y như nhau. Họ không còn uống rượu cần mà chuyển sang uống rượu gạo hoặc uống bia như người Kinh. Những cô sơn nữ, anh trai người Thượng* không còn mặc váy, đóng khố mà sử dụng những chiếc quần tây, quần hai ống như người miền xuôi. Song, cái mà người Raglai không để mất đi đó chính là sự nghèo nàn, khù khờ từ bao đời nay truyền lại. Những đôi mắt bé con trong sáng và hiền lành không đủ để che giấu một bầu trời u ám cho một tương lai bất định.

Từ Khánh Vĩnh, chúng tôi chỉ còn đi thêm khoảng 14km nữa là đến được đèo Ô-mê-ga. Trong cái gió lạnh được thổi lên từ phía biển của những ngày đầu đông, tôi cảm nhận được sự lạnh giá, hoang vắng tại một nơi mà đối với nhiều người trước đây gọi là rừng thiêng nước độc. Những con gió thổi vù vù xen qua hàng cây rậm rạp của một vùng rừng núi. Tôi bất chợt nổi da gà khi nghĩ về những điều ma quái mà trong những câu chuyện về Ma Hời, Óm-ma-lai mà ông ngoại kể cho tôi nghe trong những câu chuyện nói về những người Thượng.

Chúng tôi chọn tháp canh rừng của kiểm lâm để làm nơi ở tạm. Vì đó là lựa chọn tốt nhất mà chúng tôi có thể có được thay vì phải ngủ ở ngoài rừng vắng làm bạn với côn trùng, rắn rít cùng với muôn ngàn hiểm nguy có thể xảy đến. Ngôi tháp canh này được những người kiểm lâm dựng lên nhằm mục đích đề phòng những vụ đốt phá rừng làm nương rẫy của những người Thượng hoặc của những tên lâm tặc. Theo người bạn của tôi, công trình này chỉ xây dựng cho vui và để mấy chú kiểm lâm có thể kiếm chác được chút ít, chứ nó hoàn toàn bỏ không chẳng ai trông coi và chẳng sử dụng đúng mục đích bao giờ.

Sáng sớm, khi trời còn chưa rạng, chúng tôi đã lồm cồm bò dậy chuẩn bị máy để có thể ghi lại được những thời khắc chuyển đổi giữa bóng đêm và ban ngày. Trong những thời điểm ấy, mọi chuyển biến dường như rất nhanh, chỉ cần thiếu sự chú ý là chúng ta sẽ bỏ lỡ một tấm hình vừa ý.

Trong lúc tranh tối tranh sáng, cảnh vật xung quanh tĩnh mịch đến sợ hãi. Từng cơn gió lùa ào ào vào tháp canh làm tôi run lên từng hồi. Bên ngoài, những con côn trùng đua nhau cất lên những bài ca muôn thuở. Chỉ xa xa nơi phía biển, hừng đông đang dần dần nhú lên làm ửng hồng cho cả một khoảng chân trời.

Từ phía dưới chân đèo, một vài ngôi nhà của người Raglai đã lên đèn, bếp đã được nhen lửa để chuẩn bị cho bữa cơm sáng. Mọi hoạt động của một ngày của người Thượng miền núi dường như được chuẩn bị từ bếp lửa. Tôi mường tượng đâu đấy là tiếng chó sủa, tiếng khua xoong, nồi...những cái âm thanh lanh canh mà từ lâu lắm rồi trong một xã hội hiện đại đã không còn được nghe.

Gió dường như không ủng hộ chúng tôi trong một buổi sáng như thế này, mây không tụ lại mà chỉ thành những tảng mỏng bay là là qua những ngọn đồi ở phía dưới. Anh bạn tôi an ủi: “Để hôm nào biển ít gió, tụi mình lại lên để chụp hình bảo đảm sẽ đẹp hơn”. Tôi không thấy phiền hà gì, dù mây không tụ lại để cho tôi có thể có những tấm ảnh đẹp, thế nhưng tôi cũng đã có được những thời khắc quý giá mà chưa bao giờ được cảm nhận, hoặc gợi lại cho tôi nhiều kỷ niệm xa xưa. Đó không phải là quá quý giá ư?

Mặt trời lên, ánh nắng chan hòa của buổi sáng làm biến đổi cảnh vật. Tôi nhìn thấy ngôi làng xa xa dưới chân đèo, những làn khói bếp từ phía các ngôi nhà bay lên nặng nề trong một buổi sáng đầy sương lạnh. Ánh sáng làm cho cảnh vật trở nên rõ ràng, tươi tắn.

Lúc mặt trời lên cũng là khi chúng tôi lục đục dọn dẹp hành trang để trở về với thành phố biển, tạm rời xa xứ núi sương mù.
Trở về Nha Trang thôi, tôi bỗng thèm một ly café bên phố biển ồn ào náo nhiệt. Dường như tôi có duyên chụp những cô gái với chiếc áo Bikini khoe những đường cong tuyệt mỹ hơn là chụp đèo Ô-mê-ga trong mây mù. Tự nhủ lòng vậy nhưng vẫn còn hẹn với anh bạn tôi sẽ quay lại Ô-mê-ga trong một ngày trời không gió.

Du lịch, GO! - Theo Thanh Tú (Báo Trẻ), internet
Người Raglai ở đất É Lâm gọi rượu cần là tà-pai. Như đồng bào các tộc người thiểu số ở Tây Nguyên, ngày thường chủ nhân của tiếng đàn Chapi hiếm khi uống rượu tà-pai. Người Raglai chỉ vít cần rượu những khi buôn làng có lễ hội, nhất là vào dịp cuối năm, khi lúa đầy bồ, khi núi rừng khoác màu xanh áo mới.

Người Raglai làm rượu cần rất công phu với nguyên liệu gồm nhiều loại rễ cây, lá rừng có vị thuốc. Cũng chính vì vậy mà rượu cần Raglai rất thơm ngon và bổ dưỡng, ai đó đã vít cần một lần hẳn sẽ mãi đắm say, ngây ngất!

Một lần đến É Lâm, tôi hết tỉnh lại say. Say không chỉ vì men rượu tà-pai đượm nồng mà còn vì tình đất tình người miền sơn cước!

1. É Lâm là tên gọi ngày trước của huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận. Thời Pháp, É Lâm được phân chia thành hai tổng É Lâm Thượng và É Lâm Hạ, trực thuộc quận An Phước. Trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp trên đất Ninh Thuận, trước sự hăng hái đồng lòng đuổi giặc của đông đảo bà con dân tộc thiểu số, để có mật danh cho chiến khu, cán bộ hoạt động vùng É Lâm đã đặt tên cho vùng đất sinh sống qua bao đời của đồng bào các dân tộc Cơ Ho, Chu Ru và đông đảo nhất là Raglai tên gọi… Bác Ái.

Nhắc đến É Lâm ngày trước và Bác Ái hôm nay, người ta thường liên tưởng đến những trận đánh huyền thoại của người Raglai chỉ với cung tên, giáo mác và những chiếc bẫy đá đã khiến hết quân Pháp rồi lại Mỹ hồn xiêu phách lạc. Mà tiêu biểu, đi vào lịch sử chống ngoại xâm kiên cường nhất vẫn là trận đánh của anh hùng Pi-năngtắc trên đỉnh núi Gia Rích vào năm 1961.

Vượt dặm trường xa, qua biết bao con suối, ngọn núi, chúng tôi tìm đến vùng đất É Lâm ngày nào không chỉ vì khâm phục tinh thần thép của tộc người Raglai kiên cường, mà còn vì ấn tượng trước sức sống quật khởi cùng kho tàng văn hóa đặc sắc của tộc người nơi đây, ấn tượng nhất vẫn là văn hóa uống rượu cần mà người bản xứ quen gọi… tà-pai.

Như rượu tà-pai của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, bên cạnh những nét chung như được ủ chế từ cây rừng, có mặt trong các lễ hội, lễ bỏ mả đến lễ cưới, đám tang, lúc được mùa…, rượu tà-pai của người Raglai ở É Lâm có nhiều điểm khác lạ. Lạ từ cách ủ rượu, những kiêng cữ trong quá trình làm men đến những quan niệm, những nghi thức trước khi vít cần rượu truyền tay nhau cái tinh túy của núi rừng ở vùng đất núi thật cao, sông thật sâu, và lòng người thì chân chất, hào sảng như sông như núi.

Chúng tôi ghé nhà bà Mấu Thị Bích Phanh (xã Phước Đại), nguyên Phó chủ tịch huyện Bác Ái và nghe bà kể nhiều điều kỳ thú về men rượu tà-pai. Bà Phanh sẻ chia rằng nếu ai đó uống rượu tà-pai vào ban ngày, vài ba người cùng vít cần rượu như thế không phải là người biết thưởng thức tà-pai, mà chỉ là kẻ thèm rượu.

Bà Phanh nói muốn uống tà-pai cho đúng bài đúng phép, cho cảm được tinh túy của hương núi hương rừng, cũng như cảm cả tình đất, tình người Raglai thì phải uống tà-pai vào đêm hội, khi giữa làng bập bùng ánh lửa, uống trong tiếng mã la thúc giục, uống cùng những chàng trai cô gái Raglai tràn đầy sức sống, uyển chuyển trong những điệu múa, điệu nhảy cổ truyền của tộc người. Phải uống tà-pai như thế mới gọi là uống!

2. Để làm nên những ché rượu tà-pai, các bà các chị người Raglai tâm sự là rất kỳ công. Và không phải ai ủ rượu tà-pai cũng ngon, cũng đậm hương vị. Các cụ già cho biết ngày trước và bây giờ cũng vậy, đàn ông Raglai chỉ cần vít cần rượu tà-pai là đủ biết tính tình của người ủ rượu, rằng người ấy có sâu sắc, có khéo tay, có tinh túy, có nồng nàn hay không. Nhưng nói là nói thế thôi, chứ phụ nữ Raglai nổi tiếng khéo tay hay làm, dệt váy đẹp mà ủ rượu cũng ngon hết biết.

Nghệ nhân Pinăng Thị Lêl ở xã Phước Trung (Bác Ái) bật mí rằng khách miền xuôi đến É Lâm khi được mời uống rượu tà-pai đều ngất ngây, đều tấm tắc khen ngon, khen cái hương vị ngòn ngọt, chua chua, cay cay, nồng nàn đến rất riêng, rất lạ. Tất cả là nhờ loại men ủ rượu được làm từ nhiều loại rễ cây rừng trộn với thành phần chủ đạo là ớt hiểm, ớt chỉ thiên, củ riềng, rễ cây pateh, rễ cây dong, rễ cây rawe…

Khi tạo được men rồi, các bà các chị Raglai thường ủ men với bắp, mì, bobo… "Phải bịt kín ché rượu, không để nó thoát hơi" - nghệ nhân Pinăng Thị Lêl nói rõ cách thức: "Khi ủ xong,  khoảng một tuần là men dậy. Lúc đó không được di chuyển ché rượu. Cũng không được để những thứ có vị chua bên cạnh ché. Để như vậy ché rượu sẽ không ngon, sẽ rất chua không thể uống được". Cũng theo nghệ nhân Pinăng Thị Lêl, nếu ủ không đủ ngày, ủ không đúng kỹ thuật thì rượu không ngon, khiến người uống rượu bị đau đầu…

Có một điều rất lạ mà các bà, các chị người Raglai đều thuộc lòng là trong quá trình làm men, tuyệt đối không được gõ nia phát ra tiếng ồn cũng như không được cãi nhau, không được gây sự, không được để lòng mình có những hờn ghen, thù hằn và phải tắm rửa sạch sẽ. Nếu bóng hồng nào đó vi phạm điều cấm kị này, làng sẽ phạt nặng.

Sau này qua tham khảo từ các già làng, mới biết quy định ấy có thâm ý sâu xa. Tổ tiên người Raglai quan niệm rượu tà-pai là rượu đại đồng, là rượu hội, rượu lễ, là thứ rượu kết nối, hàn gắn mọi người với nhau. Khi vít cần rượu tà-pai chuyền tay nhau, từ đây mọi người là anh em, là bạn bè, là lúc tình thâm giao, bằng hữu được thắt chặt. Nên đồng bào không chấp nhận thứ rượu thiêng rượu lễ ấy lại được làm ra từ con người hoen ố về thân xác lẫn tính cách.

Chỉ riêng quan niệm, suy nghĩ ấy thôi đủ để thấy rượu tà-pai của người Raglai đong đầy bề dày văn hóa thâm thúy và rất người. Đồng bào quan niệm như thế cốt lõi để tự răn mình, bởi chỉ khi con người ta sạch sẽ, tâm hồn khoáng đạt, cao thượng, vị tha thì men rượu mới tốt, ché rượu tà-pai mới thơm ngon đúng cả nghĩa bóng lẫn nghĩa đen của nó!

3. Rời Ninh Sơn, chúng tôi đến xã vùng cao Phước Thắng và ơn Yàng, lại được những người con Raglai, những chủ nhân của núi rừng nơi này đón tiếp thịnh tình bằng những ché rượu tà-pai thơm lựng, cùng bao điều kỳ thú khác liên quan đến men rượu đại ngàn. Đêm hôm ấy, trong ngôi nhà ấm cúng nơi đầu làng Ma Oai, ông Pi-năng Thạnh, cán bộ cách mạng lão thành mắt rực sáng khi nói về rượu tà-pai.

Ông bộc bạch rằng như mã la (như cồng chiêng Tây Nguyên nhưng không có núm), những ché rượu tà-pai gắn bó với đời người Raglai từ khi sinh ra đến lúc chết. Và cũng như mã la, đồng bào xem những ché rượu tà-pai là tài sản không thể thiếu được trong mỗi gia đình, trong đời sống của mình.

"Đến lễ Tết, nhà nghèo cỡ nào cũng có vài ché rượu mời bạn đãi khách. Nhà khá giả thì có nhiều ché rượu hơn. Và khi làng có việc (thường thì lễ bỏ mả-PV), mọi nhà cùng mang rượu đến nhà người chết, hay ra khu vực bỏ mả đặt để ché rượu cạnh nhiều ché rượu khác rồi cùng khui, cùng uống với nhau".

Sẻ chia của già làng Pi-năng Thạnh gợi chúng tôi nhớ đến những lần tham dự lễ bỏ mả của đồng bào Jrai ở xã Ia K'reng thuộc huyện Chư Pảh, tỉnh Gia Rai. Khi gia đình nào đó có lễ tang hay đến thời điểm làm lễ bỏ mả, tùy điều kiện mà người trong làng cứ thế mang những ché rượu đến góp, cùng uống, cùng say. Người khó khăn thì góp 1 ché rượu. Người khá hơn thì góp 2, góp 3 ché rượu. Cứ thế trong một lễ bỏ mả, có lần tôi chứng kiến người làng góp cả trăm ché rượu, trải dài hàng chục mét, ai uống cứ uống, ai say cứ say, tỉnh rồi lại uống… Càng ngẫm càng thấy tục góp rượu trong lễ bỏ mả của đồng bào các dân tộc vùng cao sao mà dễ thương, đáng yêu quá!

Con cá bắt ở suối nước lửa hồng. Lá bép - thứ lá mà người S'tiêng ở tỉnh Bình Phước tin rằng là món khoái khẩu của loài tê giác một sừng nay đã tuyệt chủng tại Việt Nam được gói lá chuối, rồi tung vào lửa, khi lá chuối chuyển từ màu xanh sang màu vàng là rau chín (đồng bào gọi là canh nướng)…, thêm chén muối ớt, thêm vài đọt rau rừng, già làng Pi-năng Thạnh bày "mồi" ra đó, mời khách chung vui. Lúc này ché rượu tà-pai được khui, hương rượu thơm ngào ngạt.

4. Uống rượu tà-pai, người Raglai hàm ẩn nhiều ý nghĩa. Đây là lúc người làng bày tỏ sự kính trọng người già, bằng việc mời các cụ vít cần rượu uống trước, sau đó đến lượt những người luống tuổi, và người trẻ hơn. Uống rượu tà-pai cũng là lúc mà người Raglai muốn nói với nhau rằng giờ đây chẳng có rào cản về đẳng cấp, chẳng có chỗ cho kẻ trên người dưới, mọi người cùng bình đẳng với nhau, đến lượt mình ai đó cứ uống cho bằng cạn, nước vơi sẽ được đổ đầy ché rượu rồi đến lượt người khác, sự công bằng rõ ràng đến từng giọt. Uống đến khi nào rượu nhạt mới thôi!

Khi say là lúc người Raglai thoát tục, là lúc họ hòa với đất trời, núi rừng và chìm sâu trong bản sắc văn hóa đa chiều qua bao đời người vẫn nguyên vẹn nét hoang sơ. Khi ngây ngây trong men nồng tà-pai, những người già sẽ kể chuyện cổ, chuyện thơ, chuyện ngụ ngôn cho lớp con cháu nghe. Rồi cũng chính những nghệ nhân ở tuổi xế chiều ấy sẽ hát những làn điệu hari ikhat yulukal (hát kể sử thi) huyền hoặc. Và lúc này, những chàng trai, cô gái sẽ đối đáp với nhau, ngỏ lời với nhau bằng những câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ…

Uống rượu tà-pai với tộc người Raglai là như thế. Là bạn hãy tạm dẹp bỏ những lụy phiền của cuộc sống xô bồ đầy toan tính, hòa vào nhịp sống chẳng chút vẩn đục của đồng bào. Đừng giấu mình, đừng quá đạo mạo, đứng đắn mà hãy cứ hết mình, hãy uống mặc sức, uống thật say. Rượu tà-pai được ủ từ tấm lòng, tình cảm của những người vợ, người mẹ Raglai nên đằm thắm lắm, êm dịu lắm, chẳng có chuyện đầu nhức như búa bổ hay cơ thể mệt mỏi rã rời. Lên rừng uống rượu tà-pai, say xong sẽ tỉnh, tỉnh xong lại say, cứ thế vui cho hết đêm ngày, cho trọn tình trọn nghĩa!

Du lịch, GO! - Theo Nguyễn Thành (An Ninh Thế Giới), internet

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống