Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Wednesday, 20 July 2011

Trước khi tìm tới hang Én, chúng tôi đã lên mạng nhằm tìm thông tin nơi này. Nhưng chúng tôi chỉ tìm được một vài tin vắn trên tạp chí National Geographic đánh giá đây là một trong những hang động kỳ vĩ của thế giới. Lý do trên đã thôi thúc chúng tôi cố gắng đến hang Én nhằm hưởng cảm giác của kẻ chinh phục.

“Vượt thác, băng rừng” đến hang Én 

Buổi sáng, sau khi lễ đền Tám Cô trên đường HCM nhánh tây theo truyền thống tâm linh của người bản địa, chúng tôi đi tiếp đến km 35 và bắt đầu lần theo lối mòn đi vào cánh rừng nguyên   sinh dài ngút mắt.
Hành trình dài 9km chia ra hai chặng rạch ròi: chặng thứ nhất hầu hết là dốc cao, dưới tán cây rừng mọc trên núi đá vôi; chặng hai chủ yếu men theo con suối chảy quanh co bên những cánh rừng thưa hoặc thảm cỏ dại, cây bụi ẩm ướt.
.
< Bên ngôi nhà tranh của người Vân Kiều Bản Đoòng.

Thực ra, cửa rừng đồng thời là đỉnh núi Ba Giàn (Giàn có nghĩa con dốc theo tiếng địa phương) chỉ cách lề đường HCM khoảng 20 m nằm trên độ cao 553 m so với mặt biển.

Do vậy, chặng đầu chúng tôi luôn đi xuống dốc, để rồi lối mòn tiếp tục đưa mọi người men theo nhiều con suối nhỏ trước khi đặt chân tới Bản Đoòng, một ngôi làng của người Vân Kiều giữa bốn bề núi non heo hút như cô lập với thế giới bên ngoài.

< Hành trình đến hang Én hầu hết là lội suối và len lỏi trong rừng già.

Đó là 6 hộ dân từ huyện Quảng Ninh chạy nạn lũ lụt về đây - vùng lõi vườn quốc gia từ 1993. Họ an phận sinh sống chủ yếu bằng nghề khai thác mật ong và làm nương rẫy.

Thế nhưng, tai ương vẫn chưa buông tha, bởi trận lũ lịch sử tháng 10-2010 đã quét sạch toàn bộ nhà cửa cùng 11 con bò là tài sản mà họ tích cóp cả đời người. Riêng dân bản, gồm 27 người, tất cả  phải leo cây mít đầu làng đeo bám suốt 2 ngày mới thoát chết.

< Sau 7 giờ đồng hồ băng rừng vượt suối, mọi người mới tiếp cận cửa hang Én.

Bản Đoòng cũng là khởi điểm của chặng đường toàn thảm cỏ dại đan xen rau tàu bay, chuối rừng, môn dại và cây Nàng Hai - hay còn gọi là lá Han, một loại cây độc mà bất cứ ai vô tình đụng vào nó, lớp lông trên mặt lá sẽ gây ngứa suốt hàng tuần mới khỏi.

Lối mòn càng lúc càng khó đi bởi cây dại phát tán, che khuất, chúng tôi quyết định “hành quân” dưới suối Rào Thương cho thông thoáng. Rào Thương hay còn có tên suối Đoòng, bắt nguồn từ đỉnh núi U Bò và một số khe suối nhỏ trên dãy Trường Sơn.

Và trên đường đi, nó chảy qua nhiều rặng núi đá vôi giữa đại ngàn rồi chui sâu trong hang Én, hang Sơn Đoòng những hang kỳ vỹ nhất thế giới trước khi hòa mình vào sông Chày, chấm dứt vai trò lịch sử của nó.

< Tác giả đứng bên phải.

Một trong những cảm giác khoan khoái nhất là lội suối vì sự mát lạnh của dòng nước dường như xua đi cái nắng oi bức của gió Lào, thêm nữa nó khiến tinh thần chúng tôi thêm phấn chấn và tạm quên đi sự nhức nhối ở đôi chân do leo trèo ban sáng.

Thỉnh thoảng lại phát hiện những dấu chân thú trên bờ cát cùng vô số đàn bướm đủ sắc màu bay rập rờn ven bờ gợi nhớ cái câu “nước khe cạn bướm bay trên lèn đá” trong ca khúc Trường Sơn Đông - Trường Sơn Tây. Từ đây đến hang Én còn 3,5 km theo lời anh kiểm lâm dẫn đường.

Gần chiều, lội qua hết góc khuất vì đám chuối rừng, bất ngờ thấy cửa hang Én đã trước mặt, một cảm xúc lạ lùng liên tiếp dâng trào. Cửa hang nhìn ra hướng đông nam có bề rộng gần 100m. Sau lớp cửa dưới ánh đèn rọi đeo trên đầu của chúng tôi, là bãi đá sõi rộng mênh mông.

Ngắm én và thưởng thức cá lạ

< Dòng suối Rào Thương, chảy vào  khoang thứ 1 – hang Én dưới ánh sáng của giếng trời.

Lòng hang bỗng mở ra ba động nước khổng lồ được chia cắt bằng những đồi dốc đầy cát mịn và đá tảng xếp chồng chất lên nhau chiếm hết phân nửa chiều cao của hang.

Ở trên ấy còn hiện diện một cây to nguyên gốc chắn ngang như chứng tỏ vào mùa nước lũ, dòng Rào Thương ngập tràn lòng hang và để lại nhiều thứ khi nước đã rút đi.

Nét độc đáo riêng của hang Én là lẫn trong sắc màu dòng sông xanh ngăn ngắt, ánh sáng chiếu rọi từ những giếng trời trên trần hang làm cảnh vật càng thêm lung linh, huyền ảo.

< Để đi xuyên suốt  hang Én nhiều đoạn phải lội trong làn nước  mát lạnh.

Trên trần, trong những hốc đá, thạch nhũ muôn hình vạn trạng là tổ của hàng vạn con én và dơi, đó cũng là nguyên nhân hang mang tên Én.

Theo anh Thành Huế - Phó Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Tỉnh Quảng Bình, hang Én từng là nơi người dân tộc Arem chọn làm nơi sinh sống từ trăm năm về trước, họ có biệt tài leo trèo chẳng khác loài vượn, loài voọc chuyền cành trên cây, trong mùa én làm tổ họ thường  trèo  lên vách đá, trần hang để bắt én non làm thực phẩm.

< Ở trên đồi đá cách nền hàng hơn 50m,  hiện diện   một cây to nguyên gốc chắn ngang  như chứng tỏ vào mùa nước lũ, dòng Rào Thương ngập tràn lòng hang và để lại nhiều thứ khi nước đã rút đi.

Hiện nay người Arem đã chuyển về đường 20 sinh sống nhưng hàng năm vào ngày 15 tháng 5 âm lịch họ đều kéo về hang Én, tổ chức hội ăn én qua hình thức cúng bái thần rừng và đi lượm én con vì yếu sức không thể bay cao nên  rơi xuống đất”.

Kỳ thực, lúc này chưa tới ngày hội ăn én nhưng chúng tôi vẫn thấy không ít chim én mới ra ràng nằm thiêm thiếp trên nền hang, chợt nghe động, theo bản năng chúng gắng sức vổ cánh bay song được vài ba mét lại sa xuống đất, trông rất đáng thương.

< Cửa hang hướng Tây bắc, nhìn ra cánh rừng nguyên sinh và trần hang là nơi hàng vạn chim én làm tổ. 
Đây cũng là hướng đi động Sơn Đoòng – hang động lớn nhất thế giới cách 2 km.


Hang Én có tổng chiều dài 1.645 mét xuyên suốt cả một quả núi và trổ 3 cửa động, 1 nằm lưng chừng núi và 2 ở chân núi hướng đông nam, tây bắc theo dòng chảy suối Rào Thương là đặc điểm hiếm thấy so với những hang động nổi tiếng ở Việt Nam mà chúng tôi đã từng đặt chân đến.

Hơn thế nữa, từ trong hang nhìn ra cửa phía tây bắc với vòm hang cao hơn 80m thấy cảnh vật bao la sinh động, những đàn én chao lượn trên trần hang, bãi cát rộng rãi, cả những cánh rừng nguyên sinh xanh mát...
Đây cũng nơi mà nhiếp ảnh gia Carsten Peter chọn làm chủ đề để bấm máy nhằm cho ra đời tác phẩm động hang Én, đã được  tạp chí National Geographic bình chọn là một trong những bức ảnh thiên nhiên đẹp nhất tháng 3.


< Nướng cá bên đống lửa.

Đêm về, mấy anh em Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng rủ rê chúng tôi tỏa đi các nơi giăng lưới. Thì ra con suối Rào Thương có rất nhiều loại cá mang cái tên khá lạ lẫm: cá mát, cá cồ, trầu đá... riêng cá leo được xem là loại “quý tộc” vì thịt thơm, ít xương... phải bỏ công giăng lưới trong hang mới hy vọng bắt được nó.

Sau một giờ thả lưới chúng tôi thu hoạch được 2 nồi cá, mà chú nào kích cỡ cũng bằng phân nửa cổ tay, đủ để xiên cây nướng ăn ngay tại chỗ, chưa kể một số dành nấu cháo điểm tâm sáng mai.

Và giấc ngủ đến thật dịu dàng trong âm thanh rì rào, êm dịu của làn gió mát lạnh lùa vào hang như lời thì thầm của rừng, của núi...

Du lịch, GO! - Theo Nguoilaodong
Đám cưới của đồng bào K’ho, xã La Ngâu, huyện Tánh Linh bây giờ không khác gì đám cưới của người Kinh. Cũng áo xống, váy dài váy ngắn, nhạc đệm ì xèo. Tuy vậy, theo nhiều người già kể lại, đồng bào vẫn giữ một số tập tục riêng trong hôn nhân. Một chút tò mò, chúng tôi đi tìm tập tục riêng đó, chẳng hạn như đêm động phòng...

Ngồi nói chuyện với Bờ Đam Thị Hôm và anh Roòng Đêm ở buôn Tà Pạt, xã La Ngâu trong một buổi chiều trời mưa. Đúng là dạo này đang vào giữa mùa mưa, mưa ở vùng cao có khi kéo dài nhiều ngày, lướt thướt hơn miền xuôi rất nhiều. Tôi đặt vấn đề  tìm hiểu  tập tục cưới hỏi của đồng bào K’ho, vợ chồng chị Hôm nói là sẵn sàng trả lời mọi câu hỏi mà tôi đưa ra.

Năm 1977, Bờ Đam Thị Hôm 13 tuổi, thấy con gái đã lớn, cha mẹ làm cho một phòng riêng. Hàng ngày theo cha mẹ lên rẫy, Hôm thường hay gặp và nói chuyện với Roòng Đêm, là một thanh niên hơn mình 5 tuổi, mạnh khỏe, siêng năng, nói chuyện cũng vui vui, Hôm thấy có cảm tình.
.
Năm 1979, trong một buổi tối Roòng Đêm tới nhà chơi, Hôm nói Đêm ngủ lại cho vui. Đó chính là đêm tân hôn của đôi vợ chồng trẻ.

Đêm đó Hôm mặc váy, trên ngực khoác tấm chăn. Hai người nằm tâm sự, họ nói với nhau nhiều chuyện nhưng chung quy chỉ là những lời tràn ngập tình yêu trai trẻ.
Mặc dù trong bụng rất ưng đụng vào người của Đêm, nhưng Hôm không dám do “sợ người ta đánh giá” - Bờ Đam Thị Hôm nói với tôi như vậy.

Đêm đó, hai người đã thực hiện chức năng giữ gìn nòi giống của loài người như mọi dân tộc khác. Hôm ngủ dậy trước Đêm và không quên lấy đôi dép của Đêm cất vào trong chiếc rương của mình.

Sáng hôm sau, khi Đêm đã về nhà của mình, Hôm lấy đôi dép đưa cho cha mẹ của mình xem, sau đó đưa đến cho người cậu ruột để thông báo vật chứng của việc anh Đêm là người con trai đã ngủ với mình.

Người cậu cầm vật chứng đến nói với  người nhà của Đêm. Nhìn đôi dép, mọi người đều công nhận đó là  của Đêm. Cha, mẹ và cậu của Đêm đồng ý cho Hôm bắt Đêm về làm chồng, nhưng muốn bắt thì phải nộp lễ vật gồm: một con heo 2 đòn khiêng (4 người khiêng), hai ché rượu cần, 25 lá khăn, hai con gà trống.

Năm 1979 là năm mà cả nước đều đói kém, nhà của Hôm cũng khổ như mọi gia đình khác. Dù rất thương cháu gái của mình, nhưng đời sống quá khó khăn, nên người cậu đến nói với nhà trai xin làm lễ “ bắt” thằng Đêm về làm chồng con Hôm nhưng xin làm lễ nhỏ để đãi bà con họ hàng gồm một con heo nhỏ hai tay (vòng hai bàn tay phía sau chân trước con heo) và một con gà trống.

Vợ chồng Hôm và Đêm sống với nhau đến năm 1986, lúc đó đã có năm đứa con, hai người mới tổ chức đám cưới với số lễ vật đúng như đã hứa với nhà trai. Chi phí đám cưới đều do hai vợ chồng làm mà có.

Thực ra, trước đó theo tập tục,  con gái K’ho muốn bắt con trai về làm chồng, phải đến nhà trai ở  một thời gian theo thỏa thuận, có thể ba năm, năm năm hoặc mười năm.

Trong thời gian đó, hai người không được ngủ với nhau. Nếu tự ý ngủ sẽ bị buôn làng  phạt rất nặng. Hết thời gian ở nhà trai, cô gái được quyền ngủ với người con trai ở phòng riêng của mình, rồi thông báo bắt chồng và phải nạp lễ vật theo đúng yêu cầu của nhà trai. Nếu không có đủ lễ vật cũng được quyền bắt nhưng “ xin nợ” đến khi có đủ mới nộp cho bà con nhà trai.

Không hiểu tập tục người con gái phải lấy vật chứng  của người con trai trong đêm đầu tiên làm vợ, làm chồng có từ bao giờ, nhưng đến nay bà con dân tộc K’ho ở xã La Ngâu vẫn giữ. Vật chứng là những đồ dùng hàng ngày của người con trai như: nhẫn, đồng hồ, cái áo, đôi dép…

Hình như  những thế hệ trước đây dù không đuợc đi xa, khỏi cái làng mé núi, nhưng họ cũng hiểu được tính pháp lý trong việc sử dụng vật chứng.

Theo một số người lớn tuổi kể lại, đã từng xảy ra trường hợp anh con trai “xù” bằng cách chối bay, chối biến việc đã ngủ với cô gái khi cô gái quên lấy bằng chứng. Còn nếu người con trai công nhận đã ngủ với cô gái nhưng không chịu cho bắt, sẽ bị buôn làng phạt rất nặng (thường là trâu, heo, rượu cần). Nếu không chịu nộp phạt sẽ khó sống yên với buôn làng.

Anh Phạm Đình Sang, người Kinh, sinh năm 1955 quê ở tận Cần Thơ ra làm rẫy rồi quen và được chị Lê Thị Hơn – dân tộc K’ho ở buôn Tà Lốp, xã La Ngâu bắt về làm chồng.

Anh chị đã có với nhau ba đứa con gái. Dù là người Kinh nhưng anh Sang vẫn phải sống theo đúng tập tục của quê vợ. Con gái anh chị là Lê Thị Phới, sinh năm 1992, Phới bắt chồng năm 2007, đến nay đã sinh được một đứa con gái.

Phới thật thà kể với tôi: “ Sau đêm ngủ chung, cháu lấy của chồng cháu một cái đồng hồ. Khi cháu đưa cái đồng hồ cho bà con của anh coi, ai cũng biết của anh ngay. Khỏi chối cãi gì hết”. Phới nói xong, cả hai vợ chồng ôm nhau cười nghiêng ngã. Tôi cũng góp thêm vài câu đùa giỡn cho câu chuyện thêm vui.

Theo tôi được biết, hầu như bà con dân tộc K’ho ở xã La Ngâu chưa bao giờ biết hoặc nghĩ tới chuyện ly hôn. Cho dù cuộc sống ở vùng cao đã có nhiều thay đổi theo hướng văn minh, hiện đại và vẫn còn vất vả  nhiều. Nhưng tất cả những điều đó không làm thay đổi lòng chung thủy vợ chồng của bà con dân tộc K’ho nơi đây. Đó cũng là điều đáng mừng do họ biết sống và tuân thủ  luật tục tốt đẹp, lâu đời của dân tộc mình.

Du lịch, GO! - Theo Bình Thuận Online, internet
Nhớ hồi năm 2009, trong lễ hội “Hành trình di sản lần thứ IV”, TP. Hội An đã chọn sản phẩm ống đèn đường của làng gốm Thanh Hà để trang trí khắp nơi. Hình ảnh đó góp phần tôn vinh vẻ đẹp độc đáo của đô thị cổ và thương hiệu làng gốm Thanh Hà, vốn nổi tiếng từ hơn 500 năm trước.

Đến phố cổ Hội An, hỏi làng gốm Thanh Hà, ai cũng biết. Ngôi làng nhỏ bé nằm ở phường Thanh Hà, cách khu phố cổ chừng 3km về phía tây. Xét lịch sử tồn tại hơn 500 năm của vùng đất Quảng Nam, Thanh Hà là làng nghề cổ nhất còn đến bây giờ.

Trong cái nắng hanh hao vàng nhạt đầu tháng Tư, ấn tượng đầu tiên khi tôi vừa đặt chân đến làng là nét cổ kính và thanh bình. Từ con đường làng quanh co, những mảnh vườn xanh um đến những bức tường gạch cũ, những mái ngói rêu phong.
.
Hồn quê Việt xưa như vẫn quyện trong những nếp nhà mộc mạc. Dù nhiều địa phương đã hiện đại hóa nghề gốm với lò điện, với dây chuyền tiên tiến, người Thanh Hà vẫn làm gốm theo đúng kiểu truyền thống với chiếc bàn xoay và đôi tay khéo léo.

Cả làng hiện có khoảng hai chục hộ sản xuất gốm với trên 100 nhân khẩu, đa phần sống với nghề gốm từ rất lâu đời. Họ kể rằng, vào thế kỷ XIV - XVII, những người thợ thủ công từ Thanh Hóa vào Thanh Hà lập làng, mang theo nghề gốm và truyền lại cho con cháu đến ngày nay. Dưới triều Nguyễn, những người thợ gốm Thanh Hà đã nức tiếng tài hoa. Chính họ đã cung cấp những sản phẩm như ngói lợp, gạch lát nền, đồ gia dụng cho các ngôi nhà cổ Hội An và những khu vực lân cận.
Nhưng giai đoạn hoàng kim ấy rồi cũng qua, thời kinh tế thị trường, gốm Thanh Hà gặp nhiều khó khăn khi không đọ sức kịp những sản phẩm theo công nghệ mới, không tìm được đầu ra. Một số hộ đã bỏ nghề, vào Nam tìm kế sinh nhai. Mãi đến những năm gần đây, khi gốm Thanh Hà trở thành một phần trong các tour khám phá, trải nghiệm của du khách tới Hội An, các lò gốm mới đỏ lửa trở lại.

Tôi lang thang trên đường làng quanh co, rộng chỉ chừng sải tay, ghé nhìn những sân phơi gốm, tò mò như một đứa trẻ, sờ tay vào những sản phẩm gốm đang phơi mình trong nắng. Những chiếc siêu thuốc Bắc, những cái nồi kho cá, những cái trã đất ủ than… đơn sơ, mộc mạc, gợi nhớ về một nông thôn xưa cũ.

Lần theo con đường quanh làng, tôi ghé thăm nhà trưng bày gốm của nghệ nhân “lão làng” Lê Thị Chiến (80 tuổi) - người được Ban tổ chức festival gốm sứ Việt Nam - Bình Dương 2010 trao tặng danh hiệu “Nghệ nhân làng gốm Thanh Hà”.

Bà Chiến vào nghề từ thời con gái, đến nay đã hơn 65 năm tuổi nghề. Thợ trong làng hiện nay hầu hết là học trò của bà. Trong khuôn viên rộng 200m2, khu trưng bày khá khang trang với phong phú chủng loại gốm. Nhiều nhất là các loại tò he với đủ 12 con giáp, bùng binh (heo đất), kế đến là những bình hoa, bình rượu, ấm trà, chén, bát, nồi niêu, chum, vại, chậu kiểng, đèn gốm…

Theo bà Chiến, tất cả sản phẩm trên được làm từ nguyên liệu đất sét, lấy từ mỏ đất, mỏ cát do phù sa sông Thu Bồn tạo nên. Người trong làng phải lên các huyện Điện Bàn, Duy Xuyên, Đại Lộc mua về với giá vài trăm ngàn đồng một ghe. Để làm ra sản phẩm đạt chất lượng cũng lắm công phu, nhiều vất vả, đòi hỏi người thợ sự cần mẫn và óc thẩm mỹ. Trước khi tạo ra sản phẩm, đất sét phải đập nhỏ, sau đó đất được rưới nước vừa phải rồi trùm ủ để giữ độ ẩm. Ngày hôm sau, đất được trộn với cát mịn nhào nhuyễn. Thợ gốm sẽ đánh cho đất thật dẻo rồi mới nặn.

Sau khi nặn thành sản phẩm, phải đem phơi nắng một ngày, rồi đem vào trong bóng mát làm nguội để trang trí hoa văn, họa tiết, cuối cùng mới đưa vào lò nung với nhiệt độ khoảng hơn 1.000oC trong vòng 24 giờ. Khi chín tới, gốm sẽ có những màu đặc trưng như vàng đỏ, đỏ hồng, gạch nâu, đen tuyền. Gốm Thanh Hà có độ bền cao và láng chẳng khác gì tráng men. Sản phẩm lại nhẹ, khi ta gõ vào thành gốm, những âm thanh rất trong, êm ái vang lên.

Khách du lịch đến Thanh Hà thường say mê ngắm các nghệ nhân xoay, nắn, tạo hình gốm với những thao tác kỹ thuật nhuần nhuyễn, đẹp mắt. Đôi bàn tay đen gầy của bà Chiến lấm lem đất sét, vê nhịp nhàng, thoăn thoắt biến khối đất sét vuông thành chiếc bình, rồi chẳng mấy chốc miệng bình loe ra điệu đàng. Sau đó, bà cầm cái nẹp tre dẹt, chà ép cho trơn láng đế bình. Chỉ trong vòng 5 phút, bà đã hoàn thành chiếc bình hoa đẹp mắt chỉ bằng đôi tay khéo léo.

Rời làng Thanh Hà ra về, du khách nào cũng nâng niu trên tay vài sản phẩm gốm tươi màu đất, hồn đất. Không cầu kỳ, chẳng trau chuốt, gốm Thanh Hà cũng hồn hậu và chân chất như tấm lòng người Quảng.

Du lịch, GO! - Theo PNCN, internet

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống