Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Saturday, 24 September 2011

Ít người biết rằng nằm ngay giữa hoàng thành Huế lại có một nhà hát Quốc gia được xem là cổ nhất ở Việt Nam.

Duyệt Thị Đường được xây dựng vào năm Minh Mạng thứ 7 (1826) đến nay đã gần 200 năm. Vào thế kỷ XVII, XVIII các quốc khách đến thăm Việt Nam, sau những buổi yến tiệc họ đều được xem hát tuồng. Nhưng mãi đến thời Minh Mạng mới xây dựng một nhà hát tuồng của Quốc gia nằm ngay trong khuôn viên Đại nội Huế.

Ngày xưa các bậc vua quan vừa xem hát vừa tiệc tùng, vừa chữa bệnh cho nên bên phải là Ngự y viện, nơi để sao chế thuốc chữa bệnh cho vua và hoàng gia. Bên trái là sở Thượng Thiện, nơi dùng để chế biến các món ăn phục vụ nhà vua. Tất cả đều được ngăn với nhà hát bằng một bức tường.

< Cổng vào Duyệt Thị Đường. 

Nhà hát có chiều cao 12m, gồm 2 tầng, nội thất được làm bằng gỗ lim. Sân khấu là phần sàn nhà nằm giữa bốn gian, khi diễn thì trải chiếu hoa lên.

Trần nhà hát được trang trí hình ảnh các vì tinh tú, những đám mây ngũ sắc, vầng trăng khuyết, nền trời xanh rất đẹp, tạo cho người diễn cũng như người xem có cảm giác như đang ở ngoài trời, ở giữa cuộc đời.

Đây không chỉ là nơi tấu những bản nhạc cung đình, mà còn trình diễn nhiều loại hình nghệ thuật khác như,: tuồng, kịch hát, ca Huế theo yêu cầu và sở thích của nhà vua. Mặc dù sau này còn có thêm ba nhà hát nữa được xây dựng, nhưng Duyệt Thị Đường vẫn được các vua Nguyễn kế tiếp nhau tu bổ, tôn tạo để làm nơi trình diễn các loại hình nghệ thuật, nơi biểu diễn chiêu đãi sứ thần các nước khi đến Việt Nam.

Hai bên tả hữu khán đài có dãy trường kỷ dành cho các vị quốc khách và những vị quan lại cao quý của triều đình. Trên lầu hai là nơi dành cho những người trong hoàng tộc. Sân khấu có ba mặt, phía sau là hậu trường có hai phòng dành riêng đào kép chuẩn bị việc hoá trang, thay trang phục trước khi ra sân khấu biểu diễn.

Mỗi khi đi xem diễn tuồng, Đức Vua ngự trên long ỷ còn dàn nhạc giáo đầu gồm 20 nhạc sĩ ngồi xổm đánh trống, gảy đàn, thổi kèn... Trước mặt họ có một cái trống lớn có một vị quan ngồi phía đằng sau. Nghệ sĩ nào khéo trình diễn thì ông quan này đánh hai hay ba tiếng trống, mỗi tiếng thể hiện một số tiền biếu tặng diễn viên.

Trải qua gần 200 năm, dưới sự tác động của thiên nhiên khắc nghiệt và sự tàn phá của chiến tranh cũng như con người, nhà hát Duyệt Thị Đường đã gánh chịu nhiều hư hỏng nặng nề và đã được trùng tu, sửa chữa nhiều lần. Năm 1962, khi chính quyền Sài Gòn cải tạo Duyệt Thị Đường để làm cơ sở giảng dạy của Trường Quốc gia âm nhạc Huế, các công trình chung quanh bị triệt hạ để xây chỗ ở cho giáo viên và sinh viên đã khiến cho cấu trúc của nhà hát bị thay đổi không còn như cũ. Từ năm 1995 đến năm 2002, nhà hát được trùng tu, phục chế và sửa chữa lại phần ghế dành cho các quan khách xưa kia và chính thức đi vào hoạt động phục vụ khách du lịch từ tháng 3/2003.

Từ năm 2004, Duyệt Thị Đường được Trung tâm Bảo tàng Di tích Cố đô Huế đưa vào hoạt động nhiều loại hình nghệ thuật truyền thống Huế, trong đó có nhã nhạc cung đình. Hiện tại nhà hát đã sưu tầm và khôi phục được 8 trong số 11 điệu múa cổ cùng với 40 bài nhã nhạc được dàn dựng hết sức công phu và nhiều trích đoạn tuồng nổi tiếng cũng đã được phục dựng để phục vụ du khách.

Sự khôi phục khá toàn vẹn này cũng đã khiến Duyệt Thị Đường trở thành một điểm biểu diễn nghệ thuật truyền thống cũng như du lịch nổi tiếng ở Huế và thu hút được sự quan tâm đông đảo của du khách gần xa mỗi khi có dịp đến với Cố Đô.

Đến thăm nhà hát Duyệt Thị Đường, bạn không chỉ được chiêm ngưỡng một công trình mang phong cách kiến trúc độc đáo mà còn được thưởng thức những màn biểu diễn nhã nhạc đặc sắc.

- Giờ biễu diễn trong nhà hát Duyệt Thị Đường :

Buổi sáng:
Xuất 1: 9h00 - 9h45
Xuất 2: 10h00 - 10h45

Chiều:
Xuất 1: 14h30 - 15h15
Xuất 2: 15h30 - 16h15

- Giá vé :
Từ 2- 20 khách xem trong 50- 60 phút giá 6.000.000 đồng
Từ 2- 50 khách xem trong 50 -60 phút giá 8.000.000 đồng.

Du lịch, GO! - Theo aFamily, BaoanhVN và nhiều nguồn khác
Giữa tiết trời lành lạnh mỗi độ cuối thu chớm đông, hương vị cay cay, mặn nồng của những dĩa ốc sả càng làm lòng người xa quê thêm se sắt.

Quê tôi, một huyện nhỏ của Thừa Thiên - Huế nằm giáp ranh Quảng Trị, tầm cuối tháng 9 cũng là lúc trời thường trở nên se lạnh với những đợt gió mùa đầu tiên. Giai đoạn giáp hạt, cả xóm không được mấy nhà còn đủ gạo khoai. Những lúc ấy, các thực phẩm trong vườn ngoài ao được tận dụng triệt để, và ốc bươu hấp sả là một trong những món ăn không chỉ giúp lũ trẻ chúng tôi qua được cơn đói, mà hương vị của nó còn in đậm trong tâm trí đến tận lúc trưởng thành.

Cách thức bắt ốc bươu của người dân quê khá đơn giản nhưng không kém phần thú vị. Để bắt ốc, mạ tôi ra vườn sau nhà chặt vài đoạn chuối già, thả xuống mặt ao. Đến chiều, sau trận mưa lớn cuối mùa, ốc bươu leo đầy trên thân chuối, bám chặt cứng...

Mạ chỉ việc lôi những cây chuối vào bờ, nhẹ nhàng gỡ ốc bỏ vào trong rá. Những con ốc to cỡ quả trứng gà so, đen loáng, còn vương mùi bùn ngai ngái, như báo trước một bữa cơm thịnh soạn cho cả nhà.

Công đoạn chế biến ốc bươu không quá cầu kỳ, nhưng cũng yêu cầu sự khéo léo của người làm. Ốc bươu được cho vào thau nước, pha thêm chanh để tẩy hết chất nhớt. Cẩn thận hơn, mạ còn cho thêm vài lát ớt, ngâm từ 2 đến 3 tiếng cho ốc nhả sạch bùn, sau đó vớt ra, để ráo nước.

Sau đó, mạ ra sau nhà, tiện tay lựa hái chục cành sả non, dăm quả ớt; sả bỏ bớt lá, chỉ lấy thân và rửa sạch. Ở quê thường hay có thói quen vừa ăn vừa nhấm nháp cành sả non, khiến món ăn chính đượm mùi hơn rất nhiều, đồng thời là phương thuốc phòng cảm mỗi khi trời trở lạnh đột ngột.

Ốc trước khi hấp được mạ đem luộc sơ qua. Công đoạn này giúp thịt ốc dai chắc, không bị bở, đồng thời khử sạch hoàn toàn mùi tanh của ốc. Mạ canh nồi ốc sôi khoảng 5 phút cho ốc chỉ vừa chín tới; nếu để sôi quá lâu sẽ làm mất chất dinh dưỡng của ốc, thịt ốc cũng bị mất hết mùi vị, trở nên nhạt thếch.

Công đoạn làm nước chấm cũng là một trong những bước rất quan trọng, quyết định hương vị thơm ngon của nồi ốc. Mạ bắc chảo dầu lên bếp, cho sả, hành giã nhuyễn, ớt xắt lát vào, rồi phi lên thơm phức. Mạ đổ cả dầu lẫn sả vào một chén nhỏ, hòa nước mắm ngon vào, cho thêm một ít đường, bột ngọt... và khuấy đều.

Xong đâu đấy, mạ nhẹ nhàng rưới từng muỗng nước chan vào miệng những con ốc tròn xoay, khéo léo để nước chan len tận sâu trong lòng ốc. Rồi mạ đổ vào nồi một tô nước nhỏ, thả thêm vài thân sả non cho nồi ốc dậy mùi, và để lửa lim rim khoảng 15 phút, giúp nước chan thấm vào thịt ốc thật đậm đà.

Người miền Trung nói chung và người Huế nói riêng thường dùng kèm rau sống trong nhiều món ăn, và món ốc hấp sả cũng không phải là ngoại lệ. Rau sống nhất thiết phải có chuối cây, chọn lấy phần lõi giữa và thái mỏng, ăn có vị chát, hơi chua ngọt, trộn với các loại rau húng, rau diếp cá rồi dùng với ốc hấp thì thật là một món ăn ngon.

Một trong cái thú của người dân quê khi ăn ốc bươu hấp sả là phải có bánh tráng (bánh đa) mè nướng. Khi ấy, nồi nước hấp ốc ngỡ như vô dụng lại trở nên béo bùi khi được chấm kèm với bánh tráng và rau sống. Giữa tiết trời se se lạnh, cả nhà quây quần bên nồi ốc bốc khói nghi ngút, loay hoay khều từng miếng thịt ốc thơm lựng, cắn một miếng bánh tráng giòn tan, cảm tưởng như ngoài kia, mùa đông đang dần về đầy trên các ngõ xóm.

Du lịch, GO! - Theo VnExpress

Friday, 23 September 2011

Bằng một bản hương ước, suốt hơn 400 năm qua, sáu tộc họ ở làng Nghi Sơn (xã Quế Hiệp, huyện Quế Sơn, Quảng Nam) đã thay phiên nhau canh giữ khu rừng Miếu Cấm.

Quả là một điều kỳ lạ khi nằm ngay giữa vùng bán sơn địa ấy lại là một khu rừng nguyên sinh với hàng trăm cây gỗ quý lừng lững chọc trời xanh, cạnh đó làng Nghi Sơn nằm thoải mình trên dốc núi đẹp như tranh vẽ.

Tính từ ngã ba Hương An (quốc lộ 1A đoạn qua huyện Quế Sơn) ngược lên hướng núi chừng 15km là gặp làng Nghi Sơn. Được bao bọc bởi dãy núi Hòn Tàu cao chót vót, bốn mùa mây phủ, vậy nên người ta gọi đây là vùng bán sơn địa.

Từ trên triền dốc cao nhìn xuống, người đi đường có thể tận hưởng cảnh đẹp hoang sơ của một góc núi Hòn Tàu. Con đường bêtông dẫn vào làng cứ trườn dài theo chân núi như một con rắn khổng lồ. Làng Nghi Sơn nằm giữa một thung sâu bình yên đến kỳ lạ.

Báu vật của làng

Mới sáng sớm, trưởng thôn Nghi Sơn Đinh Hữu Hoàng tay cầm rựa, vai vác cuốc treo con gà lủng lẳng. Thấy khách lạ, chưa kịp chào hỏi, ông than: "Tối qua con beo xông vào tận chuồng bắt gà" và con gà mà ông mang đang theo là do con beo vồ chết.

Bên ly nước chè xanh, giọng đầy tự hào, ông Hoàng kể lai lịch của khu rừng Miếu Cấm: "Tất cả người ở làng đều là con dân Thanh Hóa theo chân vua Lê mà Nam tiến mở cõi, khi đến vùng đất này họ đã hạ trại lập làng. Để tưởng nhớ làng quê cũ, những người khai khẩn đã lấy tên làng cũ là Nghi Sơn đặt cho vùng đất mới. Ngôi Miếu Cấm trong khu rừng già này cũng hình thành từ đây. Nó được coi là thành trì tâm linh vững chãi của ngôi làng. Bao nhiêu đời ông cha tụi tui đều lớn lên từ cánh rừng thiêng ấy".

< Một góc rừng Nghi Sơn.

Để minh chứng cho lời nói của mình về khu rừng, ông Hoàng vui vẻ dẫn chúng tôi đi về hướng núi. Đó là một khu rừng rộng chừng 10ha, xung quanh được bao bọc bởi những khoảnh ruộng bậc thang xanh mướt. Con đường độc đạo chạy quanh khu rừng già được điểm đủ sắc hoa dại từ sim, mua đến dũ dẻ, ngũ sắc, vông vang...

Bước chân vào rừng, cảm giác đầu tiên là thiếu ánh sáng mặt trời. Cái nắng như nung giữa trưa bỗng nhiên chùng xuống, mất hẳn. Có lẽ những tia nắng mặt trời đã không đủ để xuyên qua được những tàn cây rậm rạp của rừng Miếu Cấm.

"Cái quý nhất của rừng Miếu Cấm đó là giữ được thảm rừng bản địa với đủ loại cây gỗ quý... Người trong làng đã bảo vệ nó bằng những quy định ghi rõ trong hương ước". Rồi ông Hoàng bảo: những năm chiến tranh, dân trong làng chạy vào rừng Miếu Cấm này trú ngụ, dù bom đạn làm nhiều cây lớn gãy đổ. Chiến tranh kết thúc, cánh rừng này bắt đầu hồi sinh. Bây giờ những cây gỗ lớn nhất một người ôm không xuể.

Theo tay ông Hoàng chỉ, trước mắt chúng tôi là cánh rừng xanh thẳm như chiếc ô khổng lồ nằm cạnh làng. "Mà lạ lắm, trong làng cấm đã đành, dân nơi khác cũng không ai dám vào rừng này để săn bắt, chặt cây. Không biết thuở khai đất lập làng, tổ tiên đã ngắm thế nào mà khu rừng giờ đây như một bình phong án ngữ ngôi làng trước gió bão và trở thành báu vật của làng.

Hương ước

< Miếu thờ những vị khai sơn lập ấp đầu tiên ở làng Nghi Sơn (xã Quế Hiệp, huyện Quế Sơn, Quảng Nam).

"Tôi cam chắc rằng ít miền quê nào lại có thế núi hướng sông đẹp như ở Nghi Sơn này" - ông giáo làng Đinh Hữu Năm, cựu trưởng thôn Nghi Sơn, người nhiều năm bỏ công ghi chép lại lai lịch ngôi làng nói, giọng hể hả.

Quả đúng như lời ông Năm. Ngôi làng chưa đầy 130 nóc nhà này cứ bám quanh triền núi tạo nên một quần thể dân cư hài hòa đẹp mắt. Có lẽ vì gần cửa rừng nên cổng vào nhà nào cũng có những gốc cây cổ thụ với đủ hình thế, thậm chí có gia đình còn tỉa tót cổng ngõ tạo nên những tán cây rừng xinh xắn. Nhà được thiết kế theo kiểu lưng dựa vào núi đá, mặt hướng ra đồng ruộng bậc thang phía trước...

Ông Năm bảo có lẽ ngày xưa ông bà sống với núi rừng, lấy thiên nhiên làm bầu bạn nên trong hương ước của làng ghi rất rõ: "Cấm cư dân trong làng vào rừng chặt củi làm than. Nếu vi phạm sẽ bị làng xử phạt. Nhẹ thì cảnh cáo, nặng thì đòn roi, nghiêm trọng hơn thì đuổi ra khỏi làng". Nguyên tắc bất di bất dịch ấy lưu truyền từ đời này sang đời khác. Xưa bày nay làm, vậy nên suốt cả mấy chục năm sau chiến tranh ở làng này không ai dám vào rừng đốt củi làm than. Nhờ vậy rừng Miếu Cấm mới tồn tại xanh tươi được như hôm nay.

< Một cây lim quý có đường kính cả một người ôm. Trong ảnh: ông Đinh Hữu Hoàng, trưởng thôn Nghi Sơn, ôm vòng cây lim.

Không hề đụng đến một gốc cây rừng, giờ đây làng Nghi Sơn còn nổi tiếng trong việc phủ xanh đồi trọc bằng những dự án trồng rừng. Ông Phạm Đình Bảy - chủ tịch UBND xã Quế Hiệp - nói: "Dẫu mang tiếng sống bằng nghề nông nhưng cả làng Nghi Sơn chỉ có 45ha lúa ruộng bậc thang, canh tác nhờ nguồn nước trời. Vậy mà đời sống kinh tế ở đây ai cũng khá giả. Tất cả đều nhờ vào rừng đó".

Theo ông Bảy, làng chỉ có hơn 120 hộ nhưng lại có trên 250ha rừng chủ yếu là keo, bạch đàn... Nếu tính bình quân thì một năm mỗi hộ kiếm được 50-60 triệu đồng từ việc bán gỗ. Nếu không có hương ước ông cha để lại và người dân không có ý thức bảo vệ rừng thì giờ đây dân trong làng chắc vào rừng làm lâm tặc".

Ông giáo Năm mời chúng tôi đến ngày 8 tháng giêng về Nghi Sơn chơi. "Về để thấy cảnh tết quê rộn rã thế nào". Theo lời ông giáo già, đó là ngày hội của làng. Hằng năm cứ ra tết âm lịch một tuần, dân trong làng tụ tập trước cổng đình để cúng bái tiền hiền, đền ơn người khai hoang lập đất. Người làng dù bán buôn đâu xa cũng tìm cách về dự hội làng. Người góp của, kẻ góp công để trống hội làng Nghi Sơn nổi lên khắp cánh rừng Miếu Cấm.

Tiền cúng hương của dân trong làng đóng góp nếu xài không hết thì bỏ vào quỹ khuyến học để thưởng cho con em học giỏi trong làng. Lúc tiền nhân lập làng có dành 3 sào ruộng (khoảng 1.500m2) trước rừng Miếu Cấm để trồng lúa lo việc cúng bái. Ngày nay, tuy tiền quyên góp nhiều nhưng ba sào ruộng dân làng vẫn giữ. Giữ đất, giữ rừng, giữ lời người xưa cũng là một cách tri ân tổ tiên vậy!

Du lịch, GO! - Theo Tuoitre, internet

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống