Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Friday, 30 September 2011

Dòng thác này xa xưa được gọi là Tà Văng Táo, dịch ra tiếng phổ thông là thác "Ao Tiên". Từ trước ngày người Pháp chiếm đóng Mường Khương (1884), đồng bào trong vùng đã làm một cái cối đá lớn nhờ sức thác nước xay thóc thay cho sức người, mỗi lượt khoảng một tiếng đồng hồ, Cối Ngàn xay được một tạ thóc thành gạo.

Khu thác nước trở nên đông vui tấp nập và cũng từ đó thác Tà Văng Táo được gọi bằng tên mới Cốc Nên - Suối Ngàn (thác xay thóc). Dòng thác Cối Ngàn nhỏ, chiều ngang chỉ 2 mét, cao chưa đầy 12 mét nhưng có sự hấp dẫn.
Con đường từ thôn Mã Tuyển ra cửa khẩu Sín Tẻn của Mường Khương để sang nước bạn Trung Hoa thật nên thơ. Ngay từ đoạn dốc đèo đầu tiên dưới chân núi Cô Tiên huyền thoại có 2 dòng nước mát tuôn chảy xuống cánh đồng Mã Tuyển - Sảng Chải và đổ về phố huyện Mường Khương.

Dòng suối nhỏ ở phía Tây tuôn xuống đường lớn qua cây cầu bê tông được những người thợ đắp một ngôi sao vàng năm cánh đỏ chói trên thành cầu và đồng bào gọi là cầu Sao Đỏ. Dòng suối lớn ở phía Đông chảy qua cầu Tiên (cầu đá do thiên nhiên ban tặng vừa cho người, ngựa lại qua cũng mới được thay bằng cầu bê tông lớn) đến đầu thôn Sảng Chải tạo thành dòng thác bạc nước tuôn chảy ầm ầm.

Vách đá dựng đứng, nguồn nước nhiều, mùa mưa nước từ trên triền núi dồn về dòng thác càng mạnh. Mùa khô đến, thác chảy dào dạt nước chải mảnh. Những năm hạn hán thác ít nước, nhưng hồ Ao Tiên vẫn ăm ắp đầy. Ao Tiên khá tròn trịa, có đường kính tới 35 mét và sâu thẳm, sóng nước nổi lên cuồn cuộn đua nhau tung bọt tràn lên tứ phía và dồn chảy xuống mương.

Nước trong hồ luôn xanh ngắt, phía nước đổ xuống có vô vàn nhũ đá hoắm vào trong chập chờn. Hơi nước từ thác, từ hồ và trong hang đá, rừng cây phả ra ngùn ngụt, rất mát. Trong Ao Tiên có nhiều loài cá, tôm, trong đó có loài cá hoa trắng quý hiếm. Thác Cối Ngàn nằm giữa hai chân núi Cô Tiên và Pháo Đài Mường Khương.

Phía bên núi Cô Tiên là vách đá dựng đứng như luỹ, như thành. Còn phía núi Pháo Đài lại là một hang động hai tầng, cửa hang rộng tới 80 mét và cao 50 mét, sâu vào sườn núi 30 mét, trần và sườn hang có vô vàn nhũ đá đủ các hình thù. Và cũng từ trên trần hang có nhiều giọt nước nhỏ xuống tí tách, đồng thời có một dòng nước cong cong như cây tre nối từ trần hang dội xuống một quả đồi tròn chung quanh là ruộng bậc thang.

Chân các vách đá hai tầng rủ nhũ đá tạo thành nhiều hang động nhỏ. Đến thác Cối Ngàn, bạn còn thường thấy đàn chim khướu, sáo đen chao lượn trên trần hang, vách đá và tiếng ve ngàn, tiếng thác, tiếng sóng âm vang, cùng tiếng u u của rừng xanh như tiếng đan xen của muôn ngàn vó ngựa.

Hiện nay, người Mường Khương đã làm công trình thoát nước cho cánh đồng Mã Tuyển - Sảng Chải, bê tông hai bờ dòng suối Tiên thành hai con đường đê lớn và cùng 5 cây cầu. Đê và những cây cầu làm cho cảnh trí thác nước Cối Ngàn càng hấp dẫn. Đường vào thác có thể đi bộ từ Cầu Tiên xuống và đi bằng xe đạp, xe máy hoặc tản bộ trên hai bờ suối từ Cầu Trắng thôn Phố Cũ chỉ 800 mét là tới.

Du lịch, GO! - Theo báo Lào Cai, internet
Nếu thác Bảy nhánh trông như bàn tay khổng lồ, thì thác Krông Kmar lại mềm mại như mái tóc dài của người thiếu nữ tung bay giữa cao nguyên xanh thẳm.

Thác Đray K'nao

< Thác Đray K'nao thuộc xã Krông Jin, huyện M'Drăk, tỉnh Đắk Lắk.

Thác Đray K'nao là một thác nước đẹp ở xã Krông Jin, huyện M'Drăk, tỉnh Đắk Lắk. Thác được hình thành trên một dòng suối nhỏ nằm hoang sơ giữa rừng cây. Thác nằm cách thị trấn M'Drăk khoảng 7km về phía thành phố Buôn Ma Thuột.
Không tuôn ào ạt từ trên cao như những ngọn thác khác của cao nguyên này, dòng nước của thác Đray K'nao vặn mình uốn lượn qua những tảng đá to chắn ngang, những chùm rễ si siết chặt vào nhau như muốn tìm đến nơi nào đó mênh mông hơn, tạo nên những âm thanh hùng hồn như những khúc sử thi của vùng đất này.

Những bóng cây cổ thụ, những tảng đá san sát, rộng rãi thoải mái cho du khách ngả lưng, nghe chênh vênh đất trời, nghe chim hót, nghe nước mát rượi dưới chân.

Thác Krông Kmar

< Thác Krông Kmar thuộc thị trấn Krông Kmar, huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk.

Không bắt nguồn từ sông Sêrêpốk như những ngọn thác khác chảy Tây Nguyên, Krông Kmar bắt nguồn từ một dòng sông treo mình trên đỉnh núi.

Vì thế, nhìn từ xa, thác trông như mái tóc dài sơn nữ chảy giữa đỉnh Cư Yang Sin hùng vĩ, rồi vươn dài tắm mát cho những đồng lúa xanh rì của huyện Krông Bông. Nét duyên riêng của thác là những phiến đá hiền lành say ngủ giữa lòng thác trông như đàn voi đang ngâm mình trong nước sau một chuyến đi dài. Khuyết điểm lớn nhất của thác này là đường tới đây rất khó đi.

Thác Bay

< Thác Bay thuộc xã Ea Sô, huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk.

Nằm trong khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô, thác Bay quyến rũ du khách bởi nét hoang sơ của dòng nước cao hơn 20m, xô đẩy vào nhau nổi bật trên cái màu xám, cái gai góc của những tảng đá xung quanh, cả nét mềm mại của những dòng nước ẩn hiện giữa những đám rễ phụ của cây rừng đan xen vào nhau, hay nét hoang dã của ngọn thác chưa có sự xâm phạm quá nhiều của con người.

Ngoài việc chiêm ngưỡng dòng thác, du khách còn chiêm ngưỡng khu bảo tồn Ea Sô, ngắm những con thú tung tăng đi lại hay thưởng thức món cá suối nướng thơm ngon.

Thác Bảy Nhánh

Thác Bảy Nhánh thuộc buôn N‟DRêch, xã Ea Huar, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk, cách thành phố Buôn Ma Thuột khoảng 35km về hướng tây bắc.

Nhìn từ trên cao nhìn xuống, thác Bảy Nhánh như một bàn tay khổng lồ có bảy ngón xòe ra giữa, mà “cổ tay” là đầu thác rộng khoảng 500m.

Mỗi nhánh của thác khi đổ xuống lòng hồ sâu dưới chân thác phân nơi đây thành những địa hình khác nhau. Nhánh thứ nhất dày đặc cây và si. Nhánh hai, ba, bốn bốn có nhiều ghềnh đá nhô ra tạo nên những bậc nước khác nhau. Nhánh thứ năm là bãi đá suối nhẵn bóng. Khi mệt mỏi có thể nghỉ ngơi, uống rượu cần trên các sàn gỗ dựng các cành trên cành si nghe tiếng gió, tiếng nước.

Ngoài cảm giác phiêu lưu khi lách qua những rễ si, những cây cổ thụ to lớn khi đến thác, việc cưỡi voi dạo rừng, hay lang thang trên suối bằng xuồng độc mộc cũng thú vị không kém.

Du lịch, GO! - Theo BĐVN, ảnh internet
Việt Nam có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống với bản sắc văn hóa vùng cao ít nơi nào có được, vì thế luôn hấp dẫn khách du lịch xa gần. Mùa cưới, xin kể với bạn đọc vài nét về những kiểu cầu hôn có một không hai của thanh niên dân tộc ít người ở nơi này.

Có con rồi mới… cưới vợ

Người dân tộc Hà Nhì là một trong những dân tộc ít người ở nước ta. Nơi họ sinh sống là vùng đất biên giới Lai Châu và Lào Cai. Trai gái dân tộc này có phong tục trùm kín chăn khi hát giao duyên tình tự với nhau mỗi khi trong bản có lễ hội. Có lẽ do miền đất họ sống gần như quanh năm giá lạnh, có nhiều mùa đông tuyết phủ trắng núi rừng, nếu không có chăn ấm làm sao mà họ ngồi lâu tâm tình với nhau được?

< Lễ Hội Cô Gái Hà Nhì: các cô đầu đội chiếc mũ màu trắng, mặc quần soóc ngắn, lưng thắt trang súc bạc, dùng tiếng hát, điệu múa tìm bạn tình trong núi rừng.

Nhưng có một lý do nữa, đó là phong tục người Hà Nhì không cho người khác nhìn thấy con trai giao duyên với con gái. Trùm chung chăn kín nhưng họ vẫn giữ được ranh giới nhất định, bởi vì luật tục của người Hà Nhì rất khắt khe với những cô gái chưa chồng.

Thanh niên Hà Nhì được tự do kết hôn, nếu bạn gái yêu mình thì chàng trai dẫn về nhà thưa chuyện với cha mẹ xin cưới làm vợ. Cả nhà đồng ý thì làm lễ trước bàn thờ “kính cáo” với tổ tiên gia đình mình có cô con dâu mới. Nhà chú rể làm cỗ mời cả họ hàng và dân bản tới cùng vui. Nếu có điều kiện thì nhà trai mang sang cho nhà cô dâu: một số tiền mặt (trước đây là mấy đồng bạc trắng, nhiều năm gần đây là tiền mặt), một con lợn khoảng 50 cân, 50 lít rượu trắng, đôi gà sống, cùng xôi nếp và trứng chia đều làm hai gói… Ðây là lần cưới đầu tiên của trai bản Hà Nhì đối với vợ mình. Người vợ từ đó trở đi phải mang họ nhà chồng.

Khi có con hoặc kinh tế gia đình khá giả thì người chồng phải tổ chức đám cưới lần thứ hai… với chính vợ mình. Có phải do tìm hiểu kỹ trước khi kết hôn hay vì phong tục hôn nhân của người Hà Nhì chặt chẽ, mà vợ chồng các gia đình của dân tộc này rất ít khi ly hôn?

Sau hai lần ăn hỏi…mới được kết hôn

Ðó là phong tục đối với người con trai dân tộc Dao Ðỏ. Sau khi để ý từ phiên chợ hay lễ hội của bản làng, nếu thích cô nào thì chàng trai về nói với bố mẹ đi tới nhà gái hỏi tuổi người mình yêu. Nếu hợp tuổi nhau thì gia đình chàng trai trao cho nhà cô gái đồng bạc trắng. Nhà gái dù muốn gả hay không, thì lần xin hỏi đầu họ cũng đều từ chối nhận đồng bạc trắng ấy.

Một thời gian sau, nhà trai lại tới xin ăn hỏi lần hai, nếu ba ngày sau đó mà không thấy nhà gái đem trả đồng bạc trắng, thì nhà trai biết chắc họ đã đồng ý gả con cho nhà mình. Gia đình chàng trai chọn ngày lành tháng tốt để mang lễ vật tới nhà cô gái bàn ngày cưới.

Sau lễ ăn hỏi chính thức, cô dâu tương lai được gia đình tạo điều kiện để có nhiều thời gian nhàn rỗi trong một năm để dệt may, thêu thùa hai bộ quần áo cưới từ số vải và chỉ thêu do nhà trai đưa tới hôm lễ ăn hỏi chính thức.

Nổi bật nhất trong đám cưới của người Dao Ðỏ là trang phục của cô dâu với chiếc khăn đỏ lớn trùm đầu lên chiếc mũ đỏ mầu cờ, đính nhiều nụ hoa tết từ len đỏ, cài xen những lắc nhạc đồng xinh xinh. Mũ áo của cô dâu người Dao Ðỏ là một tác phẩm nghệ thuật độc đáo về sắc mầu và sự tinh sảo trong từng đường thêu hoa văn thổ cẩm truyền thống.

< Duyên dáng Hà Nhì.

Ðã có khá nhiều tác phẩm văn học – nghệ thuật mô tả vẻ đẹp hiếm có của trang phục phụ nữ Dao Ðỏ. Ðặc biệt là phong tục mời cưới của họ thay thiếp mời hồng bằng giấy là hai đồng tiền xu bằng kẽm cổ truyền, đó là biểu tượng gắn bó cả đời giữa cô dâu và chú rể. Người được mời dự cưới phải trả lại hai đồng tiền xu trên khi đi dự cưới và mừng cô dâu chú rể đồng tiền giấy (giống nhau về giá trị và giống nhau cả về hình thức, đựng trong phong bì kín), thí dụ mừng hai tờ 20 nghìn đồng hoặc hai tờ 50 nghìn đồng…

Cùng họ… không được phép lấy nhau

Người dân tộc Mông ở Tây Bắc, dù là dân tộc Mông hoa (Mông Lênhx), Mông trắng (Môngz đơưz), Mông đen (Mông đuz), dù mang họ gì (thí dụ họ Giàng, họ Tráng, họ Thào, họ Cư, họ Má, họ Lừu…) trai gái yêu nhau mà phát hiện ra cùng có họ giống nhau, dù họ xa bao nhiêu đời đi nữa, cũng không được phép lấy nhau.

Xưa kia người Mông có tục cướp vợ, có lẽ vì thế không ít cô gái đã bị bắt ép làm vợ, còn ngày nay trai gái của dân tộc này được phép tự do kết hôn, còn có bắt thì giả vờ bắt cho vui mà thôi.


< Trò chơi Pa lu gư (nhảy dây) của trai gái Hà Nhì.

Theo phong tục truyền thống của người Mông, đã là cùng mang tên họ giống nhau thì đều coi là có chung tổ tiên, coi nhau như họ hàng và có thể sinh con hoặc chết ở nhà người cùng họ.

Chú rể người Mông ở huyện Bát Xát còn thực hiện một phong tục đặc biệt sáng ngày mồng một Tết Nguyên đán. Ðó là phải tự nguyện làm tất cả mọi việc cho gia đình, từ nấu cỗ cho đến rửa bát, chăn gà lợn… Sau đó khách quý đến chơi nhà, người vợ chủ động làm cơm mời khách, chồng và khách uống rượu càng say thì người vợ càng vui. Các bà vợ rất vui vì họ được coi là người hiếu khách và rất yêu quý chồng. Thế mới có chuyện thật như đùa. Có ông chồng đêm đến lấy váy thổ cẩm mới mua của vợ đắp cho bạn ngủ sau tiệc rượu khuya, mà người vợ vẫn không phàn nàn gì.

Du lịch, GO! - Theo BND, ảnh internet

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống