Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Saturday, 1 October 2011

Thất Sơn - vùng Bảy Núi thuộc tỉnh An Giang, bao gồm 2 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên. Vùng đồi núi trập trùng này từ xa xưa đã chứa đựng bao điều huyền bí, linh thiêng và có mặt nhiều loài thú dữ.

Theo dòng thời gian, nhiều loài thú dữ lần lượt khuất bóng, nhiều điều huyền bí đã được giải mã, song nơi đây vẫn còn đó những hang động gắn liền với bao câu chuyện khiến người ta vừa kể vừa phải... rùng mình!

Vị trí hang Bác Vật Lang:

Ta lên núi Cấm lấy mốc là chùa Phật lớn (Trung tâm hành hương) đi về hướng tây tới chùa mới xây là Vạn Linh (hiện tại xây tượng Phật Di Lặc, với uy thế kỳ quang).

Rời chùa Vạn Linh đi tiếp khoảng vài trăm mét đến chỗ có tấm biển nhỏ có mũi tên, chữ “Hang Ông Thẻ và Bác Vật Lang” từ đó xuống, có dây nương theo mà đến miệng hang.

Chuyện kể rằng, sau khi thám hiểm hang sâu trở lên, Bác Vật Lang không còn nói năng gì nữa cho đến chết, khiến hang động ấy trở nên kỳ bí và được đặt theo tên ông.

Theo tài liệu ghi chép lại, hang Bác Vật Lang là hang sâu và bí ẩn nhất trong rất nhiều hang động trên núi Cấm - An Giang. Mãi cho đến hôm nay, dưới hang này có gì, sâu bao nhiêu và dẫn đến đâu vẫn là điều kỳ bí khiến nhiều người tò mò muốn biết.

Người về từ lòng núi

Bác Vật Lang tên thật là Lưu Văn Lang, sinh năm 1880 ở làng Tân Phú Đông, hạt Sa Đéc (nay là thị xã Sa Đéc, Đồng Tháp). Ông là kỹ sư khoa học đầu tiên là người thuộc địa của Pháp ở Việt Nam và toàn cõi Đông Dương. Lưu Văn Lang rất giỏi về chuyên môn và theo lời đồn đại có khả năng tiên đoán những điều sắp xảy ra, đoán biết thiên cơ... nên được gọi là quan Bác Vật hay Bác Vật Lang (tương đương nhà bác học lúc bấy giờ).

Bác Vật Lang được người Pháp kính nể. Có lần, một đoàn người Pháp tổ chức thám sát các hang trên núi Cấm và ông đi cùng. Đến một hang sâu gần đỉnh núi, mọi người cột dây thừng vào con khỉ rồi thả xuống. Một lúc sau, khi dây đã được thả rất dài thì nhẹ hẳn. Mọi người kéo dây lên thì con khỉ biến mất. Dấu vết để lại cho thấy giống như có ai đó cởi dây trói ra vậy. Đoàn thám sát tiếp tục cột dây vào một con chó thả xuống hang sâu. Đi một lúc sợi dây cũng nhẹ tênh, kéo lên con chó biến mất và dấu vết để lại cũng giống như lần trước. Cả đoàn nhốn nháo, hoang mang lo lắng không biết dưới hang sâu có ác thú hay điều gì kỳ bí nhưng không ai dám thân chinh xuống đó. Bác Vật Lang tự nguyện đi và cho mọi người cột dây vào người mình để thả xuống hang. Đi một lúc, mọi người cũng giật thót người khi sợi dây bị tháo bỏ mà Bác Vật Lang không thấy trở lại. Bóng đêm bao trùm, mọi người mệt mỏi tựa lưng vào vách đá, dán mắt vào miệng hang, hồi hộp...

Trời gần sáng, bất ngờ cả đoàn tỉnh giấc khi phát hiện Bác Vật Lang từ dưới hang sâu bò lên. Vậy là ông vẫn còn sống, nhưng chỉ ú ớ không nói một lời nào. Ông được đưa về bệnh viện ở Sài Gòn chữa trị, sức khỏe có phần bình phục nhưng cũng chẳng nói năng, cũng từ đó mà có câu ca:

Đàn kêu tích tịch tình tang
Đố ai biết được trong hang là gì?
Đàn kêu tích tịch tì tì
Đố ai biết được cái gì trong hang?

Về sau có một đoàn đại diện Giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương tới thăm và hỏi ông đã thấy gì trong hang. Ông trả lời chậm rãi: “Ở dưới núi là một... mâm cơm... dọn sẵn. Trên núi là một... cái lồng bàn, giở ra là... ăn... Các ông ráng... tu”. Đó là những câu nói cuối cùng của ông cho đến ngày nhắm mắt. Bác Vật Lang mất năm 1969 tại quê nhà, thọ 89 tuổi.

Đi hoài không giáp 

Tuy nhiên, vị trí hang Bác Vật Lang trên núi Cấm đến hôm nay vẫn còn nhiều tranh cãi. Những bậc cao niên thì khẳng định hang Bác Vật Lang từng chui xuống nằm ở vồ Bò Hong trên đỉnh núi, bên một vách đá cheo leo, hiểm trở. Người muốn tiếp cận miệng hang phải nắm rễ những cây gừa cổ thụ tuột xuống từ từ và thọt chân vào hang, hiện hang này đã bị lấp kín. Còn hang Bác Vật Lang hiện nay nằm bên trên điện ông Thẻ là không chính xác.

Ông Năm Tân, nhà ở ấp Vồ Đầu, núi Cấm nói những năm trước giải phóng, sư phụ ông (một thầy tu - PV) đã từng làm một chuyến thám hiểm hang Bác Vật Lang trên đỉnh Bò Hong. “Sư phụ tôi xuống hang cả ngày mà đi không giáp. Ông nói hang rất tối, rất rộng và có nhiều lối đi lắm. Thấy không thể thám hiểm được lâu vì không mang theo lương thực, ông đã trở lên”, ông Năm Tân kể.

Chúng tôi trở lại vồ Bò Hong nhưng tìm mãi vẫn không thấy dấu vết của hang này theo lời kể, nên quyết định thám sát hang Bác Vật Lang gần điện Ông Thẻ. Ông Đinh Phi Vân, người sống nhiều năm và rành mọi ngõ ngách trên núi Cấm, dẫn đường cho chúng tôi. Theo quan sát và dựa vào sự mô tả theo các tài liệu ghi chép lại thì hang này cũng rất giống với hang Bác Vật Lang xưa. Miệng hang cũng nằm bên vách đá cheo leo, sừng sững. Đường xuống hang có sợi dây thừng rất to để người thám hiểm có thể từ từ thả người xuống và đu ngược trở lên, nếu cần. Mua cái hột quẹt và 6 cây nến to, chúng tôi bắt đầu chui vào hang núi. Từng người một đánh đu trên sợi dây thừng. Xuống độ gần 10m, cửa hang nhỏ lại vì có một tảng đá chắn ngang. Chúng tôi phải mọp người chui qua tảng đá rồi mất hút vào trong bóng tối. Người trong hang và người bên ngoài không còn nhìn rõ nhau nữa, tiếng nói cũng rất khó nghe.

Cuộc thám hiểm mới thật sự bắt đầu. Cảm giác của tôi rối bời, vừa hứng khởi vừa hoang mang bởi không biết phía trước mình, trong mảng tối ấy có thứ gì, lỡ đối mặt với mãng xà thì làm sao tháo chạy? Bao nhiêu suy nghĩ, lo âu lẫn tò mò cứ vây lấy tôi. Cầm ngọn nến leo lét, tôi cố mở mắt đến hết cỡ để xác định vị trí, dò dẫm từng bước chân trong hang tối. Không khí dường như ngày càng ít lại, chúng tôi bắt đầu nghe mệt, hơi thở dồn dập và ngọn nến cứ tắt liên hồi.

Gần nửa ngày luẩn quẩn trong hang sâu, chỉ có bóng tối bao trùm và không khí ngột ngạt. Chúng tôi vẫn không phát hiện được gì vì tầm nhìn bị hạn chế, chỉ biết bên dưới hang có khá nhiều ngõ ngách, kẹt đá mà theo ông Vân thì cứ đi hoài vẫn còn lối, không sao đi giáp được. 6 ngọn nến và cái hột quẹt mới mua đều đã cháy rụi, sạch hết ga. Chúng tôi không còn gì để soi đường đành phải nhắm hướng có luồng gió nhè nhẹ, chút ánh sáng leo lét đi ra. Lần dò hồi lâu, chúng tôi trở lại được cửa hang, túm lấy sợi dây thừng, ngoi lên khỏi lòng đất đá...

Du lịch, GO! - Theo Thanhnien, ảnh sưu tầm

Friday, 30 September 2011

Phượt là lang thang đây đó, có thể chinh chiến bằng ngựa sắt, cũng có thể đi trekking bằng đôi chân còm.

Mệt mỏi vì những cung đường lầy lội hay lởm chởm đá - lạnh sống lưng, đẫm mồ hôi vật lộn với những dốc cao cheo leo bên bờ vực thẫm...

< Đơn giản, chỉ là cái tên...

Phê thật phê nhưng cái cảm giác "đã" khi chinh phục được một cung đường, một địa danh... chả bao giờ giống nhau cả, vậy mới sướng!

< Một cái tên ngồ ngộ khác...

Và dọc đường gió bụi, chắc chắn đôi khi bạn sẽ bắt chợt gặp một cái gì đó tức cười khiến nỗi nhọc nhằn của kẻ "tabalô" tan biến ngay trên bước đường lãng du trên khắp mọi nẻo đường đất nước.

< Nhà que trên Sông Hậu Cần Thơ.

Vậy là móc máy ra chộp một nhát, click một cái: ảnh vui trên đường xin cùng chia sẻ cho bao kẻ đang phải "nằm nhà" cùng vui!

Mời các bạn cùng xem...
< Ngầu chưa? Chút lỗi chính tả: đó là sự điệu nghệ.
< Dầu gì cũng có bản chỉ đường.
< Sờ bướm thì phải trả tiền, cấm được chuồn.
< Cô Giáo Thảo...
< ... nay đã thành Bà Giáo Thảo.

< Origin: Ngát ơi, anh yêu em
Chơi xỏ : Ngát ơi, bố anh yêu em.
< Slogan "Hơi bị ngon".
< Chỉ cho tắm thôi.
Đây là bức chụp ở làng gốm Phù Lãng
< Khi phượt: quá phê rồi thì vào đây nhé.
< Bảo đảm "sao y bản chánh".
Chụp tại Sìn Hồ
< Dân nghiện thuốc léng phéng vào thì coi chừng!
< "Ngạc nhiên chưa" (ảnh chụp tai Huế).
< Hay nhỉ.
Pleiku - Gia Lai

< Cấm nắn, cấp bóp.
Chụp tại Tây Thiên.
< Dễ đọc nhầm...
< "Ô hô" phải hiểu là ô tô.
< Đây có nhạc Mông hay.
< Loại tre quý hiếm này còn có tên gọi khác là "Cáp quang quốc gia".

< Liệu có "sổ đỏ" không?
Trên đoạn Trạm Tấu - Bắc Yên.
< Để phân biệt chổ bán thuốc thú y.
< Hơi bị nổ.
< Liệu hồn!
Cà phê ở Hà Nội.
< Xỉa xói ngầm.
< Tiếng Anh bồi...

Ảnh tếu "Bắc, trung, nam du ký" hồi 1
Ảnh tếu "Bắc, trung, nam du ký" hồi 2
Ảnh tếu "Bắc, trung, nam du ký" hồi 2a
Ảnh tếu "Bắc, trung, nam du ký" hồi 3
Ảnh tếu "Bắc, trung, nam du ký" hồi 4

Du lịch, GO! Theo TTVNOL
Cây cổ thụ luôn đóng một vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh, văn hóa của người Việt Nam. Nhiều cây đã trở thành biểu tượng của một miền đất, một thời kỳ lịch sử....

Cây đa Tân Trào 

< Cây đa Tân trào Khi còn xanh tốt.

Cây đa Tân Trào là một trong những điểm tham quan của Khu di tích lịch sử Tân Trào, thuộc huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, cách Hà Nội khoảng 150km. Gốc đại thụ này là một biểu tượng của cách mạng tháng Tám, nơi vào chiều 16/8/1945 Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đọc bản Quân lệnh số 1 và chỉ huy Giải phóng quân tiến về Hà Nội tham gia cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền.

Cây đa Tân Trào trước đây gồm hai cây, người dân xung quanh thường quen gọi là cây "đa ông" và cây "đa bà", mọc cách nhau khoảng 10m. Tuy vậy, hơn 10 năm trước, cây "đa ông" bị bão thổi đổ, chỉ còn một nhánh nhỏ. Còn cây “đa bà” do tuổi cao cùng những biến động khắc nghiệt của thời tiết đã gần như chết khô, chỉ còn duy nhất một cành hướng Đông Bắc còn sống, các rễ chính của cây đa gần như đã hỏng...

Được sự chăm sóc tận tình của các nhà khoa học và Ban quản lý khu di tích, hiện nay cây đa tân Trào đang hồi sinh trở lại.

Cây dã hương ngàn tuổi ở Lạng Giang

< Cây dã hương ngàn tuổi ở Lạng Giang.

Ngự tại xã Tiên Lục, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang, không ai biết chính xác cây dã hương nổi tiếng này đã bao nhiêu tuổi. Nhưng theo ước lượng, "cụ cây" đã phải hơn 1.000 tuổi rồi. Gốc cây to đến 8 người ôm, vòng đo điểm to nhất của thân cây là 11m, chỗ nhỏ nhất là 8,3m.

Vì sự đồ sộ của mình, cây đã được vua Lê Cảnh Hưng (1740-1786) ban sắc phong là “Quốc chúa đô mộc Dã Đại vương” (cây dã hương lớn nhất nước); được ghi tên, in ảnh trong cuốn Từ điển bách khoa Larousse của Pháp và giới thiệu ảnh tại Hội chợ Marseille (Pháp) năm 1932.

Đối với người dân địa phương, cây dã hương được coi như một linh vật gắn với nhiều giai thoại khác nhau. Nhiều người cho rằng, nhờ có mùi hương của cây dã hương mà cư dân ở đây có một sức khỏe tốt, ít bị các các bệnh dịch truyền nhiễm. Hiện nay, cây dã hương ngàn tuổi này là điểm du lịch hấp dẫn của du khách khi đến thăm Bắc Giang.

Cây chò ngàn năm của rừng Cúc Phương

< Cây chò ngàn năm.

Nằm trên địa phận ranh giới ba tỉnh Ninh Bình, Hòa Bình và Thanh Hóa, Vườn Quốc gia Cúc Phương nổi tiếng trong và ngoài nước bởi hệ động thực vật phong phú đa dạng mang đặc trưng rừng mưa nhiệt đới.

Một trong những “kỳ quan tạo hóa” và cũng là điểm đến không thể bỏ qua của khu rừng này là cây chò xanh ngàn năm. Đúng như tên gọi của mình, gốc đại thụ này làm du khách choáng ngợp với vẻ gân guôc, cổ kính và kích thước to lớn với chu vi chừng hơn hai chục người ôm mới hết.

Để đến được với cây chò nổi tiếng này, du khách sẽ phải di qua một tuyến đường mòn trong rừng già, nơi có thể chiêm ngưỡng những loài thực vật đặc sắc như dây leo khổng lồ với đường kính gốc 0,5m, dài đến 1km, loài đa “bóp cổ” hay những cây chò chỉ thẳng tắp cao gần 100m.

Vườn chè cổ thụ Suối Giàng 

< Một trong những cây chè cổ thụ Suối Giàng.

Ai đã từng lên thăm xã Suối Giàng, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái, đều không khỏi ngỡ ngàng trước những thừa vườn bạt ngàn những cây chè cổ thụ. Theo thống kê, có tới hàng nghìn cây chè cổ thụ hơn 100 tuổi ở Suối Giàng, trong đó có những cây trên 300 năm tuổi, được xếp vào hàng những cây chè “thủy tổ” của thế giới.

Những cây chè Suối Giàng thuộc giống chè shan tuyết nổi tiếng. Loài cây này càng già thân càng trắng, tạo hình uốn lượn xù xì, lá cành xanh ngắt  mang đậm một vẻ đẹp tự nhiên của núi rừng. Vào vụ hái chè, các thôn nữ lên nương khoảng từ 4 đến 5h sáng, khi sương sớm còn đọng trên những búp chè non để có được chè ngon, tinh khiết nhất.

So với các dòng chè khác của Việt Nam, từ xưa chè shan tuyết cổ thụ Suối Giàng đã được xem là một trong những thức uống thơm ngon bậc nhất so. Ngày nay đây vẫn là một đặc sản nức tiếng của Yên Bái.

Cây nhãn tổ Phố Hiến 

< Cây nhãn tổ Phố Hiến.

Chùa Hiến, ngôi chùa cổ kính của Phố Hiến (nay thuộc thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên) được khách thập phương biết đến không chỉ vì lịch sử hàng trăm năm mà còn vì cây nhãn tổ có tuổi đời cũng lâu như chùa vậy.

Nằm ở vị trí trang trọng trước cửa chùa với, cây nhãn tổ gây ấn tượng mạnh mẽ bởi dáng vẻ gân guốc, cuồn cuộn sức sống của một chứng nhân lịch sử. Đây là thủy tổ của giống nhãn lồng có vỏ lụa, quả to, cùi dày, hương vị thơm ngon được biết đến gần xa bấy lâu nay của đất Hưng Yên.

Tương truyền vào thời xưa, mỗi mùa nhãn chín, người dân chọn hái những quá đẹp nhất trên cây để dâng Đức Phật, cúng Thành hoàng và để quan lại địa phương tiến vua. Ngày nay, cây nhãn tổ đã trở thành biểu tượng của giống nhãn lồng đặc sản Phố Hiến - Hưng Yên.

Vườn muỗm nghìn tuổi đất Thăng Long

Hà Nội có rất nhiều cây cổ thụ nổi tiếng, nhưng không phải vô cớ mà “vườn muỗm 1.000 tuổi” ở đền Voi Phục (Thụy Khuê, Hà Nội) lại là đối tượng đầu tiên được đưa vào danh sách Cây di sản của Thủ đô.

< Tán của một cây muỗm cổ thụ.

Toàn bộ mảnh vườn rộng gần 2.000 m2, được phủ bóng mát bởi vòm lá rậm rạp của 8 cây muỗm đại thụ. Những cây muỗm này đều cao to khác thường so với những cây muỗm khác ở Hà Nội, cây to nhất chu vi thân lên tới 4,21 mét, cao 26 mét.

Theo khảo sát năm 1999 của một nhóm khoa học quốc tế, độ tuổi của vườn muỗm dao động từ 700 đến gần 1.000 năm. Người già trong khu vực tin rằng những cây muỗm đã được trồng từ khi làng mới thành lập, tức là cách đây 1.000 năm.

Tương truyền, quanh đền Voi Phục có 9 cây muỗm do quan niệm dân gian coi số 9 là biểu tượng cho sự trường cửu. Ngày nay, bên cạnh 8 cây trong đền, còn một cây muỗm khác cũng được cho là cùng niên đại nằm ở bên kia đường, lọt thỏm giữa khu nhà cao tầng của dân.

Theo người quản lý đền Voi Phục, cây muỗm này vốn được trồng cạnh giếng ngọc của đền. Tuy nhiên, sau này người dân đã lấn chiếm, lấp giếng ngọc làm nhà rồi mở đường xuyên qua mặt đền nên cây muỗm bị chia cắt khỏi khuôn viên đền.

Du lịch, GO! - Theo báo Datviet

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống