Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Thursday, 3 November 2011

Trung tâm Sách Kỷ lục Việt Nam (Viet King) vừa tổ chức chương trình Hội ngộ kỷ lục gia Việt Nam lần thứ 21 với sự có mặt của ông Biswaroop Roy Chowdhury - Tổng giám đốc Tổ chức Kỷ lục châu Á và trên 500 kỷ lục gia của Việt Nam.

Nhân chuyến công du TP HCM để trao kỷ lục châu Á đầu tiên cho tác phẩm mỹ nghệ rồng bằng đá bán quý của nghệ nhân Nguyễn Văn Hữu, ông Biswaroop Roy Chowdhury đã tiếp nhận hồ sơ 5 kỷ lục Việt Nam khác đề xuất là kỷ lục châu Á, gồm: chùa Một Cột - ngôi chùa độc đáo nhất Việt Nam; chùa Đồng (Thiên Trúc tự) - ngôi chùa bằng đồng trên đỉnh núi lớn nhất Việt Nam; hành lang 500 vị La hán dài nhất; tượng Phật Thích Ca bằng đồng được dát vàng lớn nhất và Bộ tượng Phật làm bằng tóc độc đáo.

Chùa Một Cột

Chùa Một Cột nằm trong quần thể di tích Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, còn có tên là “Nhất Trụ tự”. Chùa được thiết kế độc đáo trên một trụ đá trong hồ nước, được coi như một biểu tượng của thủ đô Hà Nội ngàn năm văn hiến và là ngôi chùa độc đáo nhất Việt Nam.

Văn bia trong chùa dựng năm Cảnh Trị 3 (1665), đời vua Lê Huyền Tông có nội dung: Nước Việt xưa có cái hồ hình vuông... Năm đầu tiên hiệu Hàm Thông đời Đường (trong thời gian này Việt Nam bị nhà Đường đô hộ) dựng một cột đá ở giữa hồ. Trên xây một tòa lầu ngọc trong đó đặt tượng Phật Quan Âm để thờ cúng...

Đến khi triều Lý xây dựng kinh đô ở đây, cũng noi theo dấu cũ, ngày càng sùng kính linh thiêng. Khi Lý Thái Tông chưa có hoàng tử thường đến đó cầu nguyện. Một đêm nằm mộng thấy Phật Bà Quan Âm mời lên trên lầu, ôm một đứa bé đặt vào lòng vua. Tháng đó hoàng hậu có mang hoàng tử. Vua bèn sửa thêm một ngôi chùa Diên Hựu (phúc lành dài lâu) ở bên phải chùa Một Cột để mở rộng việc thờ cúng làm sáng rõ sự tôn sùng....

Trải qua năm tháng, chùa Một Cột đã được trùng tu sửa chữa nhiều lần. Đời Lý Nhân Tông (1072 - 1128), năm Anh Vũ Chiêu Thắng 5 (1080), vua cho đúc chuông treo ở chùa gọi là “Giác thế chung” (chuông thức tỉnh mọi người) và một tòa phương đình bằng đá xanh cao 8 trượng. Nhưng vì chuông quá nặng nên phải để dưới đất, do vậy đánh không kêu. Chỗ ruộng để chuông thấp, có nhiều rùa đến ở gọi là Quy Điền. Khi quân Minh bị nghĩa quân Lam Sơn bao vây ở Đông Quân, Vương Thông đã cho phá hủy quả chuông nay để đúc vũ khí (1426).

Năm 1954, trước khi rút quân, Pháp cho tay chân đặt thuốc nổ phá chùa Một Cột. Sau ngày tiếp quản thủ đô (10/10/1954) Bộ văn hóa đã có một đợt trùng tu lớn là chùa Một Cột và chùa Diên Hựu như hiện nay.

Mới đây, UBND quận Ba Đình (Hà Nội) lập đề cương kế hoạch đầu tư dự án tu bổ, tôn tạo chùa Một Cột theo hướng: bảo tồn Tam Quan, Tam Bảo, Nhà Mẫu, hồ Linh Chiểu; phục dựng nhà Tổ và xây dựng nhà Tăng kết hợp bếp, vệ sinh phục vụ sinh hoạt của nhà chùa; nâng cấp sân vườn, cảnh quan di tích… Dự kiến, tổng mức đầu tư là 31 tỷ đồng. Dự án sẽ được triển khai trong năm 2012 và hoàn thành vào quý I/2013.

Chùa Đồng (Thiên Trúc tự)

Chùa Đồng còn có tên là Thiên Trúc tự - tên đất nước của Phật Tổ Như Lai Thích Ca Mâu Ni, do một bà phi của Chúa Trịnh dựng vào thời hậu Lê (thế kỷ 17).

Tọa lạc ở độ cao 1.068m trên núi Yên Tử, chùa có diện tích 20 m2, tổng trọng lượng là 60 tấn được đúc hoàn toàn bằng đồng nguyên chất. Người đời từng ví, Yên Tử là một đài sen khổng lồ và chùa Đồng là bông sen ngự trên đài sen huyền diệu của chốn Thiền lâm.

Theo một số tài liệu, ban đầu chùa chỉ là một cái khám nhỏ, một người chui không lọt. Đến năm Canh Thân 1740, đời vua Lê Cảnh Hưng, bão làm bật mái chùa, sau bị kẻ gian lấy cắp, chỉ để lại dấu tích các hố chôn trên mỏm đá.

20 năm sau, vào mùa Đông 1930, bà Bùi Thị Mỹ (chùa Long Hoa) đã tái dựng chùa bằng bê tông cốt đồng trên một hòn đá vuông cao quá đầu người ở vị trí chùa cũ.  Đến năm 1993, ông Nguyễn Sơn Nam, một Việt kiều ở Mỹ, cùng các phật tử ở hải ngoại đã đúc lại chùa mới kiến trúc hình chữ Đinh theo dáng một bông sen nở, ngự trên sập đồng chân quỳ dạ cá trổ hình hoa sen cách điệu, đặt ngay bên cạnh ngôi chùa Đồng bằng bê tông xây dựng đầu thế kỷ XX.

Nhà nghiên cứu Phật giáo Trần Ngọc Hằng, Giáo hội Phật giáo VN, đánh giá: "Chùa Đồng giá trị không chỉ ở chất liệu đồng. Đồng ở đây còn phải được hiểu là chữ "đồng" trong quan niệm người Việt - đồng lòng, đồng nhất, đồng chí, đồng tâm hiệp lực. Trong thời đại mới, chữ "đồng" với ý nghĩa "đại đoàn kết" vẫn luôn là bài học của cả dân tộc. Với ý nghĩa to lớn như vậy, chắc chắn ngôi chùa Đồng lần này sẽ trường tồn cùng dân tộc".

Hành lang 500 vị La hán dài nhất

Chùa Bái Đính nằm ở phía tây khu di tích cố đô Hoa Lư, thuộc xã Gia Sinh - Gia Viễn - Ninh Bình, cách thành phố Ninh Bình 15 km.

Quần thể chùa hiện có diện tích 539 ha, bao gồm 27 ha khu chùa Bái Đính cổ, 80 ha khu chùa Bái Đính mới, khu công viên văn hoá và học viện phật giáo, khu đón tiếp và công viên cảnh quan, khu hồ Đàm Thị, hồ phóng sinh...

Chùa Bái Đính được biết đến với 12 kỷ lục Việt Nam được xác lập như: Chùa có  hành lang La hán dài nhất, với La hán đường có 500 vị La hán được tạc bằng đá xanh nguyên khối, cao 2 m.  Pho tượng Phật Thích ca Mâu ni bằng đồng cao và nặng nhất, 150 tấn. Chuông đồng lớn nhất, 30 tấn. Bộ tượng Tam thế bằng đồng lớn nhất, mỗi pho nặng 50 tấn. Chùa có Giếng Ngọc lớn nhất, đường kính 35m. Là ngôi chùa trồng nhiều cây bồ đề nhất. Ngày Đại lễ Phật đản Liên hiệp quốc tại Việt Nam (17.5.2008) trồng 100 cây bồ đề, chiết từ gốc bồ đề Ấn Độ, hiện hàng ngàn cây bồ đề mọc xung quanh chùa.

Chùa có Đại lễ cung nghinh xá lợi Phật lớn nhất do Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức: cung nghinh 10 viên xá lợi Phật từ chùa Giác Quang (TP HCM) đến chùa Quán Sứ (Hà Nội) và chùa Bái Đính.

Chùa có bộ tượng Bát bộ Kim Cương bằng đồng nặng nhất, mỗi tượng nặng 4 tấn, cao 3,95m, đặt tại điện thờ Giáo chủ Thích Ca Mâu Ni; Tượng ông Thiện và ông Ác bằng đồng cao và nặng nhất: đặt nơi cổng tam quan chùa. Mỗi pho nặng 20 tấn, cao 5,2m; Bộ tượng A Nan - Ca Diếp bằng đồng lớn nhất. Mỗi tượng nặng 30 tấn, cao 9m, đặt tại điện thờ Giáo chủ Thích ca Mâu ni; Tượng Quan Thế Âm thiên thủ thiên nhãn bằng đồng dát vàng lớn nhất: đặt trong gian giữa của điện thờ Quan Thế Âm Bồ tát. Điện cao 14,8m, dài 41,8m, rộng 17,4m gồm 7 gian với hệ thống cột bằng gỗ tứ thiết. Pho tượng nặng 80 tấn, cao 9,57m (tính cả bệ), riêng tượng cao 5,4m. Và cuối cùng là tượng Phật Di Lặc bằng đồng lớn nhất, nặng 80 tấn, cao 10m, an vị trên một ngọn đồi ở bên phải điện thờ Tam Thế Phật.

Tượng Phật Thích Ca bằng đồng được dát vàng lớn nhất

Danh hiệu này thuộc về pho tượng Thích Ca Mâu Ni bằng đồng nguyên khối dát vàng, cao 10m, nặng 100 tấn ở chùa Bái Đính và đã được Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam cấp bằng xác nhận kỷ lục Pho tượng Phật Thích Ca bằng đồng cao và nặng nhất Việt Nam.

Pho tượng này do các nghệ nhân đúc đồng thôn Thượng Đồng, xã Yên Tiến, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định đúc, được đỡ bởi khung bê tông cốt thép giả gỗ cao đến nóc gần 30 m, dài 44,7 m, rộng 43,3m.

Bộ tượng Phật làm bằng tóc độc đáo

Danh hiệu này thuộc về tượng Sư tổ Bồ Đề Đạt Ma - đệ tử đời thứ 28 của Đức Phật Thích Ca, được đặt ở chùa Tây Tạng (tỉnh Bình Dương).

Tượng Sư tổ Bồ Đề Đạt Ma đã được tôn tạo trong 2 năm 1982, 1983. Tượng gồm 3 phần rời nhau, được gắn lại bằng keo dán. Chỉ trừ phần khung được làm bằng sắt còn chất liệu chủ yếu bằng tóc, mật rỉ đường và vôi vữa mà trong đó tóc là chiếm một phần quan trọng. Tóc được thu nhận từ các Phật tử. Tượng có chiều cao 2,32m, chiều ngang tính từ túi Càn khôn đến kinh Lăng Già là 1,74m.

Du lịch, GO! Theo Datviet
TP Hà Giang cách đều hai huyện Đồng Văn và Mèo Vạc khoảng 150km. Chuyến xe khách đi Đồng Văn chuyển bánh lúc 5 giờ sáng, trên đường gặp khá nhiều con đèo khuất khúc, cao vời vợi. Lái xe tên Tuấn, từng 18 năm làm ở khu nước khoáng Hải Sơn (thị xã Cẩm Phả), bảo người dân miền núi Hà Giang thuần hậu lắm, nhất là ở rẻo cao.

Đêm qua huyện Hoàng Su Phì, hai bên đường, người dân cứ để xe máy bên vệ đường suốt đêm, rồi leo lên chòi cao ngủ mà không lo bị mất cắp bao giờ. Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn dày đặc núi đá, đá được xếp thành những bức tường cao khoảng nửa mét, quây những mảnh ruộng chỉ rộng bằng bốn, năm chiếc chiếu đôi, để ngăn trâu lợn không vào phá vườn. Mới thấy, kiếm được miếng ăn trên vùng núi đá này thật kỳ công. Dốc Na Khê có thật nhiều cua gấp chão, cua tay áo, Tuấn chạy xe chậm rì rì, anh bảo: "-Nếu chạy nhanh thì đến đỉnh dốc, cả xe phải say hết!"…

Đã nhìn thấy Nhà Vương, đó là cung thất của vua mèo Vương Chí Sình ngay xưa, nằm ở nơi thật đẹp, với những vườn sa mộc cao vút.   Cột cờ Lũng Cú cách huyện lỵ Đồng Văn 25km, là điểm cực Bắc của Tổ quốc. Đây là vùng cửa gió làm mọi người khi leo lên đỉnh cột cờ cứ phải chao đảo, lắc lư…

Sau khi thăm thú ở Đồng Văn, phía trước của tôi là vượt đèo Mã Pí Lèng. Thế nhưng lại không có tuyến xe khách, hỏi giá xe ôm: 700.000 đồng, không kém một xu! Vẫn phải đi thôi!

"Bác tài xe ôm" chở tôi tên là Tuyền, người dân tộc Tày. Qua mấy cung đường vượt núi đá thật đẹp, rồi cũng đến đèo Mã Pí Lèng. Tôi đã đi nhiều con đèo, như đèo Pha Đin ở Lai Châu; đèo Bông Lau trên Quốc lộ 4A; đèo Khau Liêu ở Cao Bằng v.v... Nhưng đều đi bằng ô tô nên không có cảm giác "ghê ghê" như qua đèo Mã Pí Lèng lần này.

Vừa tới chân đèo, nói thật, tôi đã "lạnh sống lưng"… Con đường vắt qua đèo hoàn toàn cắt vào núi đá, y như sợi chỉ nhỏ xiết chặt con khủng long khổng lồ bằng đá, làm nó phải vặn mình tạo ra con đường nhỏ này vậy. Từ mặt đường đến đáy vực phải sâu đến khoảng 800m.

Đường vượt đèo khá nhỏ, những hàng lan can phía miệng vực đều móp mép vì bị ô tô, xe máy thường xuyên húc phải. Một trận bão mới đây làm đổ cột điện chống xuống mặt đường và bứng cây cổ thụ từ đỉnh núi cao, càn đổ hàng lan can dài hơn 70 mét.

Mã Pí Lèng là con đèo chạy qua dải núi đá như cái hàm ếch, một số đoạn đường chìa hẳn ra ngoài, dưới là vực sâu thăm thẳm. Cũng may chỉ có độ khoảng 4km con đèo chạy quanh hàm ếch, gọi  là dốc Mã Pí Lèng là như vậy, còn từ đó trở xuống, dốc tuy khúc khuất nhưng không quá nguy hiểm.

Ở Đồng Văn cứ có mưa nhẹ là con đèo này giăng đặc mây mù, cách hơn hai mét đã không nhìn thấy nhau. Còn trời mưa hay trời tối, không ai dám qua lại.

"Bác tài" Tuyền bảo, tai nạn xảy ra trên đèo khá thường xuyên; gần đây nhất, một người đi xe máy rơi xuống vực sâu do trời mù, ngày nào cũng tìm mà phải một tuần sau mới thấy xác.

Dưới đáy vực Mã Pí Lèng là con sông Nho Quế trắc nết, mượn đường sang Hà Giang rồi qua hẻm núi nhỏ, đổ nước vào Trung Quốc. Từ trên đèo nhìn xuống, những bản làng thơ mộng quần tụ bên con sông nhỏ nhắn; những nương ngô chỉ còn thân lá, vàng xác sau mùa thu hoạch; những dải khói lam chiều bám trên ngọn cây, không muốn tan hẳn… Cảnh đẹp như bức tranh thuỷ mặc không mấy nơi sánh được...

Du lịch, GO! - Theo báo Quảng Ninh, ảnh internet
Nghe lão nông tri điền Hai Thu, ở tận vùng Đồng Tháp Mười thuộc xã Tân Lập, huyện Tân Thạnh (Long An) nói thật như đùa: “Bây giờ ăn toàn “đồ lai” không hà, bây ơi!”, chúng tôi chưng hửng. Ruộng đồng vốn là cái “ổ đẻ”, là môi trường sinh sống của hàng trăm, hàng ngàn loài cá, tôm, rắn địa phương. Nhưng nhiều loài đang bị ngoại lai hóa.

Sống giữa vùng đặc sản

Chỉ cần một cú điện thoại của anh Đề ở huyện Tân Thạnh (Long An): “Ông về chơi đi, nước chan ngập đồng rồi, cá chuột ta la đầy nhóc”, chúng tôi hăm hở “khăn gói” về đồng. Đến chợ xã Tân Lập, xe máy gửi lại, chiếc vỏ lãi xé nước băng đồng. Cánh đồng giờ là một biển nước mênh mông, trời nước gặp nhau ở cuối tầm nhìn. “Chiều tui chở ông đi dỡ xà di, tối đi giăng câu, gỡ lưới, sáng mai đi thăm bẫy chuột… Ông mà hổng bắt mê tui chết liền”- anh Đề “mớm mồi”, làm cái háo hức khoái săn bắt của chúng tôi càng lúc càng tăng thêm. Một lịch trình quá hấp dẫn!

< “Chiến lợi phẩm” tưởng đâu đồ đồng, ai dè… “đồ lai”.

Xà di chủ yếu bắt cá rô- loại cá rô từ trọng trọng trở lên, với mồi nhử là xác mắm trộn lúa ngâm vò đất sét thành viên, con cá mê mồi chui lọt qua cái hom nhưng không tài nào lách ra được. Côn chỉ dùng để bắt “cá đen”: lóc, trê. Lưới giăng “chuyên trị” các loại cá trắng. Ủ mô cỏ là “bãi đáp” của lươn. Lọp cũng “chuyên”: có lọp cá chạch, lọp tép, lọp cua. Trong khi, có những loại bắt “tổng hợp” như dớn, lưới rùng… từ cá trắng, cá đen, đến tôm tép, cua thậm chí rắn, lươn cũng “khó gỡ”. Chúng tôi đã kịp tiếp thu những kiến thức cơ bản đó khi cùng anh Đề chống xuồng đi gỡ lưới cá linh.

< Sản phẩm “hương đồng” giờ đâu còn mấy...

Ngày hôm sau, khi ánh nắng đầu ngày chồm qua rừng tràm, chú Hai Thu- cha anh Đề, chống xuồng đưa chúng tôi đi thăm bẫy chuột. Bẫy chuột đặt ở các gò cao, bờ đê rậm rạp. Chú Hai chống xuồng nhảy thót lên bờ. Một cái bẫy đã sập. Nhanh chóng, 2 con chuột mập ú không còn động đậy được gỡ ra, quăng lên xuồng. Bỏ vào nhúm lúa mới, chú Hai cài lại bẫy rồi đi thăm bẫy khác. Loại bẫy sập khá đơn giản, được nện bằng đất sét, khi con mồi sập bẫy bị sức nặng đè đến chết.

Nhưng nó không đơn giản chút nào. Vì ngoài chuột, ếch, bìm bịp cũng sập bẫy khi mon men ăn mồi. Đến một gò cao khác, chú Hai hồ hởi nói lớn: “Có mồi bén nghen bay”. Chúng tôi trố mắt: “Rắn!” Một con rắn bị bẫy sập đè ngang cổ, bất lực nằm ngay đơ giữa đám cỏ. Chú Hai vừa túm cổ, vừa nhẹ tay dỡ bẫy. Con rắn sọc đen vàng bóng oằn sức cuốn mấy vòng, nhưng đã bị gọng kìm tay của chú Hai thít chặt.

Qua mấy quãng đồng nước, các loại “đặc sản”: đọt nhãn lồng, bông súng ma, bông điên điển, rau muống đỏ… tươi non cũng kịp góp mặt cùng rắn, ếch, chuột trong khoang xuồng. Đám chuồn chuồn đua theo đuôi xuồng, nắng vãi đầy những chiếc cánh nhỏ lấp lánh, tạo nên cảnh sắc tuyệt vời. Chúng tôi cứ xuýt xoa: “Ở thành phố dễ gì có được mồi bén vầy chú Hai”. Còn chú Hai chỉ nói thật như đùa: “Bây giờ ăn toàn “đồ lai” hông hà, bây ơi!”

“Đồ lai” rượt đuổi “đồ đồng”

< Chú Hai túm đầu con rắn hổ ngựa bị dính bẫy.

Chúng tôi chưng hửng, vì từ nhỏ tới lớn mới nghe tới từ “đồ lai”. “Bây coi con ếch nè, lai ếch Thái rồi đó. Bây giờ kiếm con ốc lác, ốc bươu đồng chánh tông đỏ con mắt. Con rắn đầu đỏ “nhảy nọc” con rắn nước, đẻ ra cái đám ôn ăn tanh rình, bay thử biết liền!”- chú Hai xổ một hơi ra chiều “hổng ham mấy”.

Thì ra, “đồ lai” là để nói những đặc sản miệt đồng đã bị lai tạp bởi các loài có nguồn gốc từ nước ngoài. Người nông dân tự hào “đồ đồng” (cá đồng, ếch đồng, ốc đồng, cua đồng…) của mình là đặc sản tự nhiên thứ thiệt, để phân biệt với các loại “đồ nuôi” (cá nuôi, ếch nuôi,…) công nghiệp. Đâu ai ngờ bây giờ lại có “đồ lai”? Cái từ “đồ lai” chỉ mới xuất hiện từ đầu mùa lũ này, khi người nông dân bất ngờ phát hiện những được- mất- đánh- đổi diễn ra ngay trên đồng ruộng của mình.

Làm cuộc phỏng vấn “đầu bờ”, chúng tôi có được những thông tin thú vị và hiểu vì sao họ “hổng ham mấy cái giống lai”.

Cậu Chín Bốp nói rất mê ếch đồng. Ếch đồng mạnh mẽ, đùi bự, eo thon. Bắt con nào xứng đáng con đó, đến cả… nửa ký lô. Ếch đồng thơm- ngon- ngọt- thịt chắc. Những tố chất đó đủ để trở thành “hoa hậu” trên bàn ăn. Vì ếch đồng dù “ăn diện” với lá cách nước cốt dừa, mướp hay bầu, xào sả hay nướng nguyên da ai cũng bắt ghiền.

Vài năm trở lại đây, ếch Thái bụng bự, mập thù lù “nhảy cóc” từ vèo nuôi ra đồng. Nó không chỉ ham ăn, ăn tạp mà còn ham… giao phối. Không chỉ giao “đồng hương” mà còn day qua giao luôn ếch đồng. Sự kết hợp này sinh ra “đồ lai” nhỏ xíu con- bụng bự mà đùi… chút ét. Bây giờ đồng nhiều ếch lai, ếch đồng chạy đâu mất hết.

Rành sáu câu các món rắn: hầm sả, xào lá cách, nướng trui, nấu cháo đậu xanh, đến món dồi rắn… nên chú Hai giành nói “đồ rắn lai”. Rắn nước là loài rắn không độc, hiền lành sống rất nhiều ở miệt đồng. Không hiểu sao nó bị con rắn đầu đỏ “nhảy nọc” đẻ ra cái “đám ôn” gì ăn tanh rình. Rắn đầu đỏ không phải có nguồn gốc nước ngoài, nhưng “hổng giống ai” nên cũng liệt vào “đồ lai”.

Ốc lác, ốc bươu thì tôi biết. Mùa nước nổi chỉ cách nay 5 năm, về Đồng Tháp Mười tôi còn bơi xuồng đi vớt ốc. Đêm đêm ốc chui ra khỏi rừng tràm, nổi lềnh trên mặt nước ăn rong rêu. Ốc đồng to bằng nắm nay, hấp tiêu, nướng đều rất giòn ngọt. Vậy mà bây giờ kiếm con ốc đồng đỏ con mắt, đi đâu cũng thấy trứng ốc bươu vàng đỏ lòm bám dày đặc cây cỏ. Điều đó, chứng tỏ sự bành trướng của loài ốc Pháp nổi tiếng “đụng gì cũng ăn, đụng đâu cũng đẻ”. Ốc “đồ lai” mang đặc tính “bươu vàng” nhiều hơn “bươu đồng”, là kẻ gây hại không mong đợi trên đồng ruộng.

Rồi đây, sẽ có thêm đặc sản đồng nào tiếp tục bị “đồ lai” rượt đuổi, đánh bật ra khỏi môi trường sinh thái của mình? Ruộng đồng có thích nghi được với những “đám ôn” mới? Chú Hai xa xăm nhìn ra đồng nước: Hỏi chi lắt léo hả bây?

Du lịch, GO! - Theo Vĩnh Long Online

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống