Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Tuesday, 15 November 2011

Thiên Ấn có tục danh là núi Hó, từ xưa đã được xem là "đệ nhất phong cảnh" của tỉnh Quảng Ngãi với mỹ danh "Thiên Ấn niêm hà", tức ấn trời đóng trên sông. Sông ở đây là sông Trà Khúc, con sông lớn nhất tỉnh. Cùng với sông Trà, núi Thiên Ấn từ lâu đã trở thành biểu tượng của vùng đất Quảng Ngãi.

Thực ra, núi Thiên Ấn chỉ là một quả đồi cao trên trăm mét, nằm ở thị trấn Sơn Tịnh, bên bờ bắc sông Trà Khúc, có quốc lộ 24B áp sát chân núi, cách quốc lộ 1A khoảng 3km về phía tây. Do vậy, khách theo quốc lộ 1A vào Nam hay ra Bắc đều có thể thấy rõ núi Thiên Ấn. Muốn ghé thăm Thiên Ấn, từ ngã ba đầu cầu Trà Khúc trên quốc lộ 1A, rẽ sang quốc lộ 24B về hướng đông chạy xe ô tô chỉ khoảng năm mười phút là đến chân núi. Ðường lên đỉnh Thiên Ấn xoắn ốc theo chiều kim đồng hồ, độ dốc không cao, lòng đường rộng, đã trải nhựa nên xe các loại đều lên xuống dễ dàng.

Sở dĩ núi có tên là Thiên Ấn vì đỉnh núi rộng, bằng phẳng, nhìn xa giống như một cái triện lớn do trời sinh ra. Sườn núi Thiên Ấn có nhiều cỏ tranh, phía đông sườn núi có chùa Thiên Ấn nằm giữa lùm cây cổ thụ rậm rạp. Ngôi chùa cổ này được xây dựng từ cuối thế kỷ XVII, đã được chúa Nguyễn ban cho biển ngạch "Sắc tứ Thiên Ấn tự", năm 1717.

Trong khuôn viên chùa có cái cái giếng cổ sâu hun hút tương truyền được đào quết nhiều năm liền, tục gọi Giếng Phật. Chùa còn có quả chuông lớn thỉnh về từ làng đúc đồng Chú Tượng năm 1845, dưới triều vua Thiệu Trị, tục gọi là Chuông Thần. Giếng Phật, Chuông Thần đều đã đi vào thơ ca và gắn với những huyền thoại lý thú, đi vào thơ ca vịnh cảnh Thủ khoa Phạm Trinh từng có câu: "Giếng Phật mạch sâu mùi nước ngọt/ Chuông Thần đêm vắng giọng đưa thanh".

Phía đông chùa có khu "viên mộ" thiết diện hình lục giác, gồm nhiều tầng, là nơi an táng các vị sư trụ trì chùa. Ngoài ra, tại đỉnh Thiên Ấn, trên trảng đất bằng phẳng thoáng đãng phía tây còn có phần mộ của cụ Huỳnh Thúc Kháng, là nơi được nhiều du khách viếng thăm.

Từ đỉnh Thiên Ấn du khách có thể ngắm nhìn cả một khoảng không gian bao la, hùng vĩ xung quanh. Nhìn lên: trời tây là rặng Thạch Bích như một bức thành sừng sững. Nhìn xuống hướng đông có thể thấy cửa Ðại Cổ Lũy, nơi có cảnh đẹp nổi tiếng "Cổ Lũy cô thôn", với mặt biển lấp lánh. Nhìn về hướng bắc, tây bắc sẽ thấy nổi lên giữa đồng lúa xanh tươi dãy núi Long Ðầu với mình rồng uốn lượn.

Trà Giang Thiên Ấn chuông gầm sóng
Vang tiếng ngàn năm đất Cẩm Thành
Ngàn năm quả Ấu nằm trơ mốc
Một dải sông Trà chảy sậm xanh
Xót hồn cổ độ sương vài giọt
Xịch bóng tà huy nguyệt mấy canh
Nghìn dặm cố nhân đâu có tá ?
Cánh chim kêu lạnh đập trong cành.
(Nuiansongtra)

Nhìn về hướng nam núi Thiên Bút với cái mỹ danh "Thiên Bút phê vân (Bút trời vẽ mây) hiện lên giữa phố phường tỉnh lỵ Quảng Ngãi. Gần hơn là cầu Trà Khúc, sông Trà Khúc, nổi lên giữa những dải cát trắng, từng là nguồn cảm hứng cho hai bài thơ hay nhất của thi sĩ Cao Bá Quát: Trà Giang dạ bạc và Trà Giang thu nguyệt ca. Quả Thiên Ân không hổ danh là "đệ nhất thắng cảnh" của tỉnh Quảng Ngãi, là di tích quốc gia đã được Bộ Văn hóa-Thông tin công nhận từ năm 1990.

Du lịch, GO! - Theo web Quảng Ngãi, ảnh internet

Monday, 14 November 2011

Di tích Phật viện Đồng Dương nằm trên địa phận làng Đồng Dương, xã Bình Định Bắc, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, cách thành phố Đà Nẵng khoảng 65km về hướng Tây Nam, trên đường 14E. Đây là một công trình kiến trúc vô cùng quan trọng của đế chế Chăm Pa xưa hiện vẫn còn lưu lại dấu tích.

Năm 875, vua Indravarman II đã cho xây dựng một tu viện Phật giáo và đền thờ vị Bồ tát bảo hộ cho vương triều là Laksmindra Lôkesvara Svabhayada. Phật giáo Đại thừa được thể hiện rõ qua nội dung bia ký cũng như các tác phẩm điêu khắc ở Đồng Dương. Dưới triều đại của Indravarman II, kinh đô của vương quốc Champa lại được dời từ vùng Panduranga trở ra vùng Amaravati. Văn bia này cho biết tên của kinh đô mới là Indrapura, theo các nhà nghiên cứu thì địa điểm xây dựng kinh đô Indrapura là khu vực làng Đồng Dương ngày nay.

< Đường vào di tích Phật viện Đồng Dương.

Qua nhiều thế kỷ sau đó với những thăng trầm của lịch sử, kiến trúc kinh đô đồng thời là một trung tâm Phật giáo quan trọng của vương quyền Champa này hầu như đã rơi vào quên lãng. Mãi đến năm 1901, lần đầu tiên nơi đây mới được L.Finot - một học giả người Pháp nghiên cứu và giới thiệu như là một khu di tích quan trọng với việc phát hiện 229 hiện vật.

Năm 1902, nhà khảo cổ học người Pháp H.Parmentier đã đến và tiến hành khai quật Đồng Dương. Ông phát hiện ra cả một quần thể kiến trúc lớn vào loại bậc nhất và cũng độc đáo nhất của Champa và Đông Nam Á. Toàn bộ khu di tích là những cụm kiến trúc kế tiếp nhau chạy dài suốt 1.330 mét theo hướng từ Tây sang Đông. Trong đó, khu đền thờ nằm trong một vành đai hình chữ nhật dài 326 mét, rộng 155 mét, có tường bao quanh.

< Phật viện Đồng Dương khi chưa bị sập đổ (ảnh tư liệu do Bảo tàng Pháp công bố).

Theo các nhà nghiên cứu, Đồng Dương chính là đô thành Indrapura của Vương triều Champa thứ tư (Vương triều Champa) do vua Indravarman II sáng lập vào năm 875. Căn cứ vào nội dung bia ký Đồng Dương và các bia ký khác ngoài Đồng Dương các nhà nghiên cứu khẳng định đạo Phật của Champa thời Đồng Dương là Phật giáo Đại Thừa.

Hoang tàn phật viện

< Hoang phế Phật viện Đồng Dương.

Tôi trở lại Phật viện Đồng Dương khi chính quyền địa phương tỉnh Quảng Nam đang khoanh vùng bảo vệ phế tích này theo qui định của một di tích quốc gia. Một Hội thảo khoa học trùng tu phế tích này cũng mới vừa được tổ chức hôm giữa tháng 8-2011.

Từ trong hoang tàn đổ nát, Phật viện Đồng Dương đang gây sự chú ý của giới khảo cổ và các nhà văn hoá. Tham vọng của tỉnh Quảng Nam là sẽ hoàn chỉnh hồ sơ đệ trình UNESCO công nhận di sản thế giới.

Theo tài liệu khảo cổ ghi lại, khu Phật viện gồm có hệ thống các tháp nằm gần nhau, được xây dựng vào thời kỳ Chăm Pa còn bị ảnh hưởng của Phật giáo, nên có tính chất đặc biệt so với các tháp khác trong hệ thống tháp Chăm vẫn còn tồn tại ở Quảng Nam.

Vì vậy, Phật viện Đồng Dương mệnh danh là toà tu viện Phật giáo giữa đô thành. Bởi hệ thống tháp Đồng Dương nằm ngay chính trung tâm đô thành Indrapura thời kỳ vàng son của vương triều Indrapura.

< Một góc phế tích Đồng Dương sau tàn phá của chiến tranh và con người đào tìm cổ vật.

Hiện ra trước mắt là khu phế tích đã bị huỷ hoại bởi chiến tranh, bởi sự tàn phá của con người suốt mấy trăm năm nay khi trong tâm trí của họ nơi này mãi mãi là nơi cất giấu những kho vàng thời đế chế Indrapura huy hoàng.

Cả khu đền tháp bây giờ chỉ là phế tích ngổn ngang gạch đá với những hố đào nham nhở. Hiện chỉ còn lại nền chính và một ít dấu tích của các bức tường, các thềm cửa xung quanh cây dại và rừng trồng mọc ken dày phủ lấp.

Dựa vào các khai quật khảo cổ của các nhà nghiên cứu Pháp vào đầu thế kỷ 20, đã cho thấy kiến đúc đặc biệt của khu tháp này là cả Khu đền thờ Phật viện Đồng Dương có chiều rộng 155 mét và dài 326 mét.

Tất cả khu đền tháp bao gồm ba cụm kiến trúc được tách ra khỏi nhau bằng các tường ngăn và kế tiếp nhau theo trục từ tây sang đông. Trong ba cụm đó, chỉ cụm ở phía tây và cụm ở phía đông là còn lại nhiều dấu tích kiến trúc và điêu khắc.

< Một số tác phẩm điêu khắc Chămpa được phát hiện tại Phật viện Đồng Dương.

Cụm tháp phía Tây gồm tháp thờ trung tâm, các tháp phụ và điện thờ nhỏ nằm dọc các chân tường bao quanh, tháp thờ chính là loại tháp tầng truyền thống của Chăm Pa gồm nền, thân, và các tầng. Quanh tường của nền tháp chính được trang trí bằng các hình tháp và hình đầu voi xen kẽ nhau.

Nội thất của tháp hình vuông và có hai ô khám lớn ở mặt bắc và mặt nam, trong gian thờ có một đài thờ lớn bằng đá một trong những tác phẩm điêu khắc lớn đẹp và có nhiều giá trị về Phật giáo.

< Bức phù điêu trang trí dưới chân tháp Phật viện Đồng Dương được khai quật khảo cổ thời Pháp (ảnh tư liệu do Bảo tàng Pháp vừa công bố).

Ngoài ngôi tháp thờ chính trong cụm phía tây này, còn có dấu tích của các kiến trúc khác như tháp Nam, tháp Bắc, tháp Tây Nam, tháp Tây Bắc, tháp Trung tâm, các miếu thờ nhỏ quanh các chân tường, các ngôi nhà dài, tháp cổng...

Tại cụm tháp trung tâm, kiến trúc đã đổ nát gần hết, chỉ để lại dấu tích các bức tường, thềm cửa,...Một trong những kiến trúc quan trọng nhất của cụm phía đông này là ngôi nhà dài, chạy theo hướng đông - tây, và mở hai cửa ra vào ở hai đầu hồi đông và tây.

< Khai quật khảo cổ Phật viện Đồng Dương thời Pháp (ảnh bảo tàng Pháp vừa công bố).

Gian nhà được chiếu sáng bằng hai dãy cửa sổ ở hai phía tường dài, mặc dầu không để lại nhiều dấu tích kiến trúc và điêu khắc như ở cụm phía Tây, nhưng một số tượng môn thần - Dvarapala bằng đá là những tượng môn thần đẹp nhất, gây ấn tượng nhất không chỉ của Đồng Dương mà còn cả lịch sử nghệ thuật Chăm Pa.

< Phật viện Đồng Dương giờ là phế tích bị cây cỏ bao phủ.

Cụm tháp phía Đông là khu kiến trúc có chức năng như một tu viện Phật giáo thực thụ, tại cụm này ngoài ngôi nhà dài không có một dấu tích ngôi tháp nào, gian nhà dài được dựng trên hai dãy tám cột, có hai cột chính lớn, các cột đều bằng gạch và đều vuông.

Đài thờ Vihara nằm ở cụm này có tượng Phật Thích Ca Mâu Ni, mặt trước của bệ tượng phật được trang trí một nhân vật có bốn đầu và tám tay, ngự bên trên là tượng Phật ngồi hai chân thõng xuống và hai bàn tay để lên hai đầu gối, xung quanh tượng Phật có các tượng đá nhỏ thể hiện các tu sĩ đứng và quỳ và các vị La Hán.
Đó là những mô tả của các nhà khảo cổ học người Pháp đến vùng tháp cổ này từ đầu thế kỷ 20 chép lại.

Còn hiện tại, trước mắt tôi là khu rừng hoang vắng mà nếu vạch lá nhìn kỹ chỉ là những bãi gạch đá nằm ngồn ngang dưới lớp lá phủ ken dày.

Lần tìm dấu tích

Phật viện Đồng Dương được xây dựng vào thế kỷ 9, trong thời kỳ Phong cách Đồng Dương của Chăm Pa, đây cũng là thời kỳ Phật giáp ảnh hưởng mạnh đến Chăm Pa.

Tháp được vua Indravarman II xây dựng. Khi lên ngôi vị vua sáng lập ra triều đại Indrapura này đã thúc đẩy cho Phật giáo phát triển mạnh gần như khắp vùng bắc Chăm Pa, vì thế cả một giai đoạn nghệ thuật Phật giáo đã bừng nở ở Chăm Pa trong suốt gần nửa thế kỷ, từ năm 875 đến năm 915 và đã để lại đến hôm nay nhiều công trình kiến trúc Phật giáo đặc sắc mà được các nhà khoa học đặt tên là giai đoạn Đồng Dương hay phong cách Đồng Dương.

Theo nội dung tấm bia tìm thấy tại Phật viện Đồng Dương ghi lại: năm 875 vua Indravarman II đã cho xây một tu viện phật giáo và đền thờ một vị Bồ tát bảo hộ cho vương triều là Laksmindra Lôkesvara Svabhayada. Tính chất phật giáo đại thừa được thể hiện rõ qua nội dung bi ký cũng như các tác phẩm điêu khắc ở Đồng Dương.

Dưới triều đại của Indravarman II, kinh đô của vương quốc Cham Pa lại được dời từ vùng Panduranga trở ra vùng Amaravati. Văn bia này cho biết tên kinh đô mới là Indrapura, theo một số nhà nghiên cứu thì điểm xây dựng kinh đô Indrapura là khu vực làng Đồng Dương ngày nay.

Năm 1901, L.Finot, một học giả người Pháp, đã công bố việc phát hiện 229 hiện vật ở Đồng Dương, trong đó có một tượng phật bằng đồng cao 108 cm, theo các nhà nghiên cứu thì pho tượng phật này mang yếu tố của nghệ thuật Ấn Độ.

< Voi đá giờ đứng giữ cổng đình.

Năm 1902, H.Parmentier đã khai quật di tích Đồng Dương, ông đã tìm thấy khu kiến trúc chính của thánh địa cùng với nhiều tác phẩm điêu khắc quý giá.

Theo khảo tả của H.Parmentier, toàn bộ khu đền thờ chính và các thác nằm lân cận phân bố trên một trục từ Tây sang Đông, dài 1.300m. Khu đền thờ chính nằm trong một khu vực hình chữ nhật dài 326m, rộng 155m, chung quanh có tường gạch bao bọc, từ khu đền chính có một con đường dài khoảng 760m, chạy về phía đông đến một thung lũng hình chữ nhật.

Khu đền thờ chính gồm có ba nhóm kiến trúc kéo dài theo trục Đông Tây, các nhóm này được phân cách nhau bởi những bờ tường xây bằng gạch.

Năm 1978, trong lúc đào tìm kho báu vàng Hời, người dân địa phương đã đào được một pho tượng nữ thần làm bằng đồng, cao 114cm, ở gần khu đền thờ chính. Theo các nhà nghiên cứu, đây là pho tượng bồ tát Laksmindra Lôkesvara, trước kia pho tượng này được đặt trên bệ thờ của đền thờ chính.

Khu di tích Phật viện Đồng Dương được công nhận di tích cấp quốc gia ngày 05 tháng 01 năm 2001. Hiện khu tháp đã được khoanh vùng bảo vệ nhưng vẫn chưa thoát khỏi những cặp mắt săn lùng kho vàng Hời bí ẩn còn truyền lại đến ngày nay.

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ Vietnamnet, Dantri
Không chỉ khó khăn về đường sá xa xôi, heo hút mà việc dò sóng điện thoại để liên lạc đối với giáo viên Trường TH và THCS Tà Xi Láng và Trường TH 2 Điện Quan cũng đầy gian nan.

< Bên cạnh chiếc cửa sổ phòng Hiệu trưởng Trường TH và THCS Tà Xi Láng là điểm quen thuộc để các thầy cô giáo dốc bầu tâm sự với “người phương xa”. Theo kinh nghiệm để đảm bảo không bị ngắt sóng trong lúc tâm sự, điện thoai cần được trang bị tai nghe và cố giữ tay cố định tại điểm đã kết nối.

Chị Lương Kim Huệ, giáo viên Trường TH và THCS Tà Xi Láng (Trạm Tấu – Yên Bái) không ngần ngại khoe chỗ duy nhất có thể bắt sóng điện thoại trong nhà và đã được chồng chị đánh dấu cẩn thận bằng 3 vết khứa dao trên thanh gỗ cạnh giường ngủ.

< Trường Tiểu học Điện Quan 2 được trang bị một chiếc điện thoại cố định không dây để tại phòng Hội đồng nhưng mỗi lần muốn gọi hay nhận điện thoại đều phải mang máy ra gốc cây xoan trước sân trường mới kết nối được.

Anh Nguyễn Hữu Hòa, hiệu trưởng nhà trường cho biết có chừng 5, 6 điểm trong trường có sóng điện thoại nhưng không phải lúc nào cũng gọi được, nhiều khi phải di chuyển qua vài điểm mới nhận được sóng.
< Điểm duy nhất trong ngôi nhà của vợ chồng chị Lương Kim Huệ, giáo viên Trường TH và THCS Tà Xi Láng có thể kết nối điện thoại cũng là nơi hai vợ chồng buộc phải kê chiếc giường ngủ để tiện liên lạc.
< Chiếc điện thoại di động của vợ chồng chị Huệ luôn được đặt cố định một chỗ và luôn phải để lộn ngược vì theo anh Hà Thanh Hùng, chồng chị Huệ thì sau nhiều lần thử anh thấy ở vị trí ấy điện thoại kết nối ổn định nhất.


Ở Trường Tiểu học Điện Quan 2 (Bảo Yên – Lào Cai) cũng chỉ có vài điểm kết nối được sóng điện thoại. Chị
Đào Thị Lan, Hiệu trưởng nhà trường bật mí chỗ duy nhất có thể kết nối sóng điện thoại trong trường là quanh gốc cây xoan nằm phía trước sân chơi của học sinh.

< Những cán bộ, giáo viên trường TH Điện Quan 2 thường ví gốc cây xoan trước sân trường là buồng điện thoại cố định vì ngoài chỗ này ra ở trong trường không chỗ nào có sóng.
< Việc đầu tiên khi chuyển đến căn phòng nội trú dành cho giáo viên trường TH Điện Quan 2 của cô giáo Hà Kim Hiền là dò tìm điểm bắt sóng điện thoại. Chính điểm kết nối sóng điện thoại này được cô giáo Hiền chọn đặt chiếc bàn làm việc của mình.
< Cậu học sinh lớp 9A Trường TH và THCS Tà Xi Láng cũng sở hữu một chiếc điện thoại di động nhưng chủ yếu chỉ để nghe nhạc.

Sóng điện thoại đã vậy, để vào mạng Internet, các thầy cô giáo ở các trường này phải dùng thiết bị 3G đi cách trường vài km mới kết nối được.
< Vào khoảng 10 giờ sáng hàng ngày anh Nguyễn Hữu Hòa, Hiệu trưởng Trường TH và THCS Tà Xi Láng đều đặn đi xe máy xuống núi cách trường hơn 5km để kết nối Internet nhận thông tin, chỉ thị của cấp trên bằng chiếc laptop và thiết bị kết nối Internet 3G. Anh Hòa kể, nhiều hôm trời mưa phải có thêm một người che ô và một lần do mưa to kèm gió lớn chiếc laptop ướt hết phải mang xuống huyện sửa mất cả tuần.

Du lịch, GO! - Theo Vietnemnet

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống