Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Wednesday, 16 November 2011

Trong các tour du lịch ở vùng biển Nha Trang, phải nói đến tour du lịch ghé thăm "vương quốc" của loài chim yến. 

Do đảo yến khá xa đất liền, thời gian đi biển mất nhiều giờ, nên đây là tour du lịch khởi hành rất sớm trong ngày. Từ 6g30, du khách được xe của nhà tổ chức tour đón tận khách sạn đưa ra cảng Cầu Đá, Nha Trang.

Tàu nhổ neo rời cảng lúc 7 giờ 30. Bữa điểm tâm nhẹ trên con tàu lướt nhanh trong nắng sớm cũng tạo cảm giác thú vị cho khách du lịch vốn phần lớn đến từ nhiều nơi, ai nấy tỏ ra háo hức muốn tận mắt ngắm nhìn vương quốc của loài chim yến. Sự nôn nao chạm gặp ấy thể hiện rõ trên khuôn mặt nhiều người. Chiếc tàu cao tốc hướng thẳng ra phía đông nam từ vịnh Nha Trang sang vùng biển Cam Ranh.

< Đảo yến cách đất liền hơn 12 hải lý. Để đến với đảo, du khách phải có hơn một giờ đi tàu. Trong những ngày tháng 7 biển động này, tour ra đảo Yến thuộc Hòn Nội, Nha Trang vẫn không bị gián đoạn.

Anh Hoàng, năm nay chừng 35 tuổi, đến từ TPHCM nhận xét: “Càng ngày Nha Trang có nhiều tour du lịch hấp dẫn. Riêng tour tham quan đảo yến này thì hết sức độc đáo”. Nói vậy cũng có lý, bởi  ngoài Cù lao Chàm ở Quảng Nam hay ở Bình Định, Phú Yên cũng có đảo yến nhưng sản lượng khai thác rất nhỏ so với Khánh Hòa. Các đảo yến ở Nha Trang là điểm đến hấp dẫn vì  xa bờ tới 40 hải lý, lại có đàn yến đông đúc, sản lượng yến hàng năm luôn dẫn đầu cả nước từ xưa đến nay.

Khám phá đời sống của chim yến là một điều lý thú nhưng chỉ có thể thực hiện trong thời gian từ tháng 3 đến tháng 9 hàng năm khi biển êm sóng lặng. Và quan trọng hơn, đó cũng là mùa chim yến làm tổ. Các tháng khác, biển thường có sóng lớn, không thể ra đảo được. Đơn vị tổ chức tour chính là Trung tâm dịch vụ  Du lịch Yến sào (Sanest Tourist - 89 Thống Nhất, Nha Trang. ĐT: 058.818.191). Mỗi chuyến đi, đơn vị tổ chức chỉ nhận tối đa 60 du khách nhằm tránh ảnh hưởng xấu đến môi trường của đàn chim yến đã "định cư" nơi đây từ hàng trăm năm nay.

< Đến thờ tổ nghề yến sào trên hòn Nội.

Điểm dừng đầu tiên là khu vực hang Du Hạ, phía sau hòn Nội, còn gọi là đảo A2, nơi có sản lượng yến sào thu hoạch hàng năm đứng thứ hai trong 24 đảo yến ngoài khơi Nha Trang.

Tàu tấp vào một chiếc cầu phao cho du khách bước ra ngắm nhìn yến bay lượn trên không và đáp xuống những mỏm đá trên đảo. Đó  là  những con yến “giữ nhà” (bởi chim yến thường đi tìm mồi từ sáng sớm, cách nơi ở vài chục cây số). Nhưng đó chỉ là dừng lại để ngắm nhìn. Tàu lại tiếp tục đến hòn Sam.

< Du khách đến đảo yến săn ảnh đẹp.

Hòn Sam là một đảo nhỏ trong cụm đảo hòn Nội. Chúng tôi theo người hướng dẫn đi lên đảo bằng “con đường cầu tre”, đến một chiếc lều dựng trên núi đá. Cảnh tượng thật vui mắt và đáng nhớ khi nhìn những cánh chim hải âu bay chao trong nắng. Chưa có nơi nào chim hải âu dạn dĩ và đông như thế. Việc chăm sóc đảo yến, bảo vệ vùng biển nơi này, cấm săn bắt chim biển đã khiến cho đàn hải âu sinh trưởng mau chóng.

Nhưng hải âu chỉ là ngắm nhìn bên ngoài, mọi người đều nao nức muốn vào hang yến để xem đàn chim yến sinh sống ra sao. Thì đây, cứ ba người một đi theo con đường đã được tráng xi măng vào hang bằng con đường nhỏ hẹp. Dừng lại ở hành lang an toàn, dùng đèn pin chiếu vào trong hang tối. Hiện ra trong ánh đèn là những tổ chim yến dính trên vách dá, những con chim yến thấy động, tung cánh bay quanh trên vòm hang.

Sau khi thăm hang yến, du khách lên tàu đi ngắm san hô. Một khoảng đáy tàu được lót bằng kính trong suốt khiến cho cả một thế giới đầy màu sắc dưới đáy biển hiện rõ như ta đang lặn sát chúng. San hô đủ màu với nhiều hình dạng khác nhau, ngắm nhìn không biết chán với cảm giác vừa lạ lẫm, vừa thích thú.

< Gần ngay bên đảo yến là một bãi tắm hai mặt, một hướng ra đại dương, mặt còn lại hướng vào trong đảo, nước xanh mát thấy rõ cả san hô dưới đáy. 

Cuối cùng, tàu ghé vào bãi cát hòn Nội. Gọi là bãi cát nhưng thật ra đó là những hạt san hô vỡ li ti do sóng biển đánh vỡ mà thành. Đền thờ ông tổ yến sào được xây dựng đã hơn 10 năm, trở thành điểm dừng chân tạm nghỉ. Trước ngôi đền là một khoảng sân rộng rợp mát tán lá bàng, có mấy chiếc lều che nắng cho du khách nghỉ chân.
Trên đảo cũng có những cây phong ba được mang từ Trường Sa về trồng đang lớn dần.

< Nét đẹp hoang sơ của vùng biển bao quanh đảo yến.

Đến đảo yến mà không tắm cũng là điều thiếu sót. Biển ở đây trong và mát, nước cứ quất lên người ta một cảm giác dịu êm. Cũng có thể leo lên trên 100 bậc thang, lên đỉnh Du Hạ cao 60 mét nghe gió biển thổi lộng, cảm thấy mình nhỏ bé biết bao giữa mênh mông biển cả.

Tại hòn Nội, sau khi tham quan, tắm biển, khách sẽ dùng cơm trưa với các món hải sản và thưởng thức nước yến. Trường hợp muốn ăn yến sào nguyên chất chưng đường phèn, khách phải trả 220.000 đồng/chén.

Một ngày tới đảo yến kết thúc khi gíó đã thổi ngược về, sóng chao mạnh trên mặt biển. Tàu về, ngoái nhìn là đảo xa dần - bên bờ là con đường xẻ núi nối liền Nha Trang với sân bay Cam Ranh hiện lên xa xa.

Du lịch, GO! - Theo TBKTSG

Đảo Yến - Hòn Nội
Bắc Biên - ngôi làng nhỏ nằm ở bờ trái sông Hồng, phía Bắc cầu Long Biên, sát ngã ba sông Đuống, cách trung tâm Hà Nội 6 km thuộc phường Ngọc Thụy, quận Long Biên. 

< Cầu cổ nối với đình làng Bắc Biên.

Bắc Biên trước đây có nguồn gốc từ làng An Xá, một làng ở phía Nam hồ Dâm Đàm (hồ Tây) - quê hương của người anh hùng dân tộc Lý Thường Kiệt (thời Lý 1019-1105). Nơi đây, có đền, chùa thờ Phật, thờ Mẫu và các vị Thần cách dây hàng trăm năm được bảo tồn, gìn giữ đến ngày nay.

Bắc Biên trước kia có đình chùa ở Bãi Giữa sông Hồng, do sự biến động của dòng chảy sông Hồng, làng Bắc Biên đã chuyển về dựng ở trên bờ đất liền bờ sông.

< Chùa làng Bắc Biên.

Trải qua các thời kỳ, tên của chùa gắn với các tên làng: An Xá, Cơ Xá, Phúc Xá, nay là Bắc Biên. Chùa được dựng từ rất sớm để thờ Phật theo phái Tào Động – một trong năm phái của động Thiền tông mà vị sư tổ thứ nhất của phái này là Hoàng Thượng Thủy Nguyệt. Chùa có kết cấu chữ “Đinh”, gồm Tiền đường, Thiêu hương và Thượng điện. Bài Minh của Lý Thường Kiệt đúc trên chuông chùa của làng năm Chính Hòa thứ 11 (Canh Ngọ, 1690) cho biết: làng Bắc Biên sau khi di dời ra bãi, không có ruộng cấy lúa, dân chuyển sang nghề trồng dâu nuôi tằm, hàng năm phải chịu thuế dâu, nên được miễn trừ việc đắp đê, thuế đường, thuế đò và các khoản sưu dịch….

< Chuông cổ trong chùa An Xá.

Nơi đất cũ là điện nhà vua, được dùng vào việc thờ cúng Phật. Làng Bắc Biên hiện còn có ngôi đền Mẫu, đền nằm sát sông Hồng, phía trước có lạch nước rộng và bãi nổi nối với dòng sông lớn, tạo thành thế “tụ thủy” rất hữu tình. Gọi là đền Mẫu nhưng ngoài việc thờ Tam tòa Thánh Mẫu ở trong hậu cung, còn thờ các vị thần của đạo Giáo ở ngoài Tiền tế như Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu, Ngũ vị Tôn ông, các Quan hoàng, Đức Thánh Trần, Sơn Trang… Đền Mẫu phản ánh tục thờ Mẹ Nước (Mẫu Thoải) kết hợp với việc trừ ma thuật của cư dân vùng sông nước. Ngoài ra, làng còn có đền Rừng thờ Mẫu Thượng Ngàn (Mẹ Rừng Xanh) và đền Núi chủ về Thượng Thiên (Mẹ Trời).

< Giếng cổ ở làng Bắc Biên.

Giờ đây, nhắc đến làng Bắc Biên là nhắc đến làng trồng khế mà người Hà Nội chẳng mấy ai còn lạ. Ấn tượng đầu tiên khi tới mảnh đất này là những cảm nhận về một làng bãi với màu xanh ngút ngàn của cây khế, xum xuê trái ngọt. Sau những ồn ã của nhịp sống phố phường thì giai điệu thanh bình, yên ả của làng khế ven sông Hồng sẽ là nơi dạo chơi cuối tuần thư thái và sảng khoái. Nếu một lần bước chân tới những khu vườn này, chắc chắn khó ai có thể quên được vẻ quyến rũ, thơ mộng và hương vị ngọt ngào của trái khế làng Bắc Biên.
Hội làng Bắc Biên diễn ra thường niên vào ngày 06 tháng 03 Âm lịch. Trong lễ hội diễn ra các hình thức như rước kiệu chạ, thả cá chép...

Bao giờ mồng sáu tháng ba
Để làng mở hội, em ra kén chồng.

Hội làng Bắc Biên đề cao tinh thần cộng đồng, tình yêu thiên nhiên, lòng sùng bái các vị anh hùng có công với dân với nước. Hàng năm đến ngày mở hội, nhân dân lại cảm nhận sâu sắc và giữ gìn những truyền thống tốt đẹp ấy.

Du lịch, GO! - Theo Lukhach24, sách Lễ hội Thăng Long
Bí ẩn như mảnh đất gắn với tên gọi của mình, những cây Kơ nia chứa đựng trong mình nhiều điều lạ lùng, khơi gợi sự tò và và hứng thú của con người.

Từ nhiều thập niên, cây Kơ nia đã trở thành một hình tượng bất hủ trong tâm khảm hàng triệu người Việt Nam qua bài thơ Bóng cây Kơ nia của nhà thơ Ngọc Anh và bài hát nổi tiếng cùng tên do nhạc sĩ Phan huỳnh Điểu phổ nhạc. Loài cây này đã trở thành một trong những hình ảnh biểu trưng độc đáo của Tây Nguyên, thu hút mạnh mẽ sự quan tâm của du khách phương xa mỗi khi đặt chân đến mảnh đất hùng vĩ này.
Cây Kơ nia mọc ở nhiều địa phương khác nhau của Việt Nam (từ Quảng Nam - Đà Nẵng đến Nam Bộ, các đảo Côn Đảo, Phú Quốc, Thổ Chu) nhưng chỉ ở Tây Nguyên loài cây này mới được người dân tôn kính đặc biệt.

Đồng bào dân tộc Tây Nguyên coi cây Kơ nia là nơi trú ngụ của thần thánh, các vong linh người đã khuất nên không bao giờ xâm phạm, chặt phá chúng. Trên nương rẫy của đồng bào thường có những cây Kơ nia cổ thụ, tỏa bóng mát cho mọi người mỗi khi cần nghỉ ngơi.


Được ví với tính cách và sức sống Tây Nguyên, Kơ nia có dáng đứng kiêu dũng và độc lập (chỉ mọc đơn lẻ, không mọc thành nhóm) và sức sống vô cùng mãnh liệt: chịu hạn hán rất tốt, xanh tươi quanh năm. Khi bị chặt, chồi Kơ nia nhú lên mạnh mẽ.

Sức sống của Kơ nia bền bỉ tới mức vào thời chiến tranh Mỹ rải hàng triệu lít thuốc khai quang lên dãy Trường Sơn, khiến núi rừng trở nên trơ trụi, thế nhưng những cây Kơ nia xanh tươi giữa trời.
Nếu như trong văn học, cây Kơ nia trở thành loài cây có rễ “dài nhất thế gian” với câu thơ “Mẹ hỏi cây Kơ nia: - Rễ mày uống nước đâu?- Uống nước nguồn miền Bắc”( trong bài thơ Bóng cây Kơ nia của nhà thơ Ngọc Anh) thì ngoài đời thực, loài cây này cũng sở hữu một bộ rễ dài hiếm thấy, với chiều bằng độ cao thân cây (từ 15 đến 30m). Nhờ bộ rễ  vững chắc này nên Kơ nia rất ít khi bị đổ do mưa bão.


Gỗ Kơ nia cũng rất lạ lùng, không có thớ hình các vòng tròn đồng tâm như các loài cây gỗ khác mà xoắn vào nhau. Người ta phải thấm nước vào lưỡi cưa mới xẻ được những thớ gỗ dẻo dai này.

Gỗ Kơ nia khi khô rất cứng, đinh đóng vào bị cong mà gỗ vẫn trơ trơ. Thứ gỗ này không thể dùng để làm nhà cửa hay chế tác đồ gia dụng mà chỉ để đốt lấy than và chất lượng than từ gỗ Kơ nia khá cao.

Quả Kơ nia khi chín có vị ngọt, con người có thể ăn được. Nhân hạt Kơ nia cũng có thể ăn lúc còn tươi.

Để ăn được nhân loại quả này, người ta kê hạt Kơ nia lên trên một tảng đá theo chiều mở của vỏ, đập nhẹ hạt sẽ nứt làm đôi. Nhân hạt ăn sống rất thơm và bùi không khác gì hạt điều đã qua chế biến. Tinh dầu của hạt có mùi thơm, có giá trị trong công nghiệp chế biến thực phẩm, xà phòng.

Cây  Kơ nia cũng là một cây thuốc bản địa có dược tính cao. Bà con dân tộc thường dùng vỏ thân cây, vỏ rễ cây rửa sạch thái nhỏ, nấu nước uống tươi, hoặc phơi khô dùng dần, chữa được các chứng no hơi, đầy bụng, sốt rét rừng.

Độc đáo là vậy, nhưng ngay tại Tây Nguyên, cây Kơ nia đã dần dần biến mất do bị người dân di cư khai thác mạnh mẽ để đốt lấy than trong nhiều năm qua. Tại thành phố Buôn Ma Thuột, nơi được coi là thủ phủ của Tây Nguyên cũng chỉ còn sót lại một cây ở phía sau Nhà Văn hóa Trung tâm.

Do vậy, Kơ nia đã được liệt tên trong Sách Đỏ Việt Nam để thúc đẩy các nỗ lực bảo vệ và nhân giống.

Du lịch, GO! - Theo Datviet

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống