Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Wednesday, 16 November 2011

Ngay sau khi cuộc bầu chọn vịnh Hạ Long trở thành kỳ quan thiên nhiên mới thế giới kết thúc, một thông tin được khá nhiều người quan tâm là Tổ chức New Open World (Thụy Sỹ) nhận được bao nhiêu tiền từ số lượng 24 triệu tin nhắn của người dân Việt Nam. 

Tuy nhiên, chiều 14/11, trả lời báo Dân Việt, ông Nguyễn Văn Tình - Cục trưởng Cục Hợp tác quốc tế (Bộ VH-TT-DL) cho biết: Trong số tiền 630 đồng/tin nhắn, Bô VH - TT - DL phải trả cho nhà mạng 300 đồng, trả cho Tổ chức New Open World 300 đồng tiền bản quyền( trước đó, họ có hợp đồng rõ rằng, trong 300 đồng đó không bao gồm tiền thuế tin nhắn), tiền chuyển tiền, 30 đồng còn lại là số tiền để đóng thuế".

Như vậy, theo thông tin từ phía Cục Hợp tác quốc tế đưa ra, có thể ước tính số tiền mà NOW thu được khoảng 7,5 tỷ đồng.

Ông Tình khẳng định, trong cuộc bình chọn này, Bộ VH-TT-DL đã làm việc với Bộ TT-TT nhờ giúp đỡ để tính sao cho số tiền mỗi tin nhắn là ít nhất.

Cùng với số tiền này, NOW còn nhận được phí đặt chỗ và phí hình ảnh để Vịnh Hạ Long được tham gia bình chọn. Trên Vietnamnet ngày 16/4/ 2008, Giám đốc Ban Quản lý vịnh Hạ Long (UBND tỉnh Quảng Ninh) Ngô Văn Hùng cho biết các trang web ngoài website của ban quản lý Vịnh Hạ Long nếu muốn link đến trang new7wonders để vận động bầu chọn cho Vịnh Hạ Long sẽ phải trả phí 25000USD/tháng.

Sau khi có kết quả bình chọn, một lần nữa, UNESCO khẳng định rằng danh sách 7 kỳ quan thế giới mới là kết quả của một dự án cá nhân, chỉ phản ánh ý kiến của cộng đồng người sử dụng internet chứ không phải của cả thế giới.

“Dự án này, về cả tầm quan trọng và ý nghĩa bền vững, không thể đóng góp vào việc bảo tồn các địa danh sau khi được bình chọn”, theo UNESCO.

Được biết, cuộc bầu chọn 7 kỳ quan thiên nhiên mới của thế giới do New Open World phát động từ 7/7/2007 đã thu hút hàng trăm triệu người dân trên khắp thế giới. Đã có 24.090.156 tin nhắn bầu chọn cho Vịnh Hạ Long qua tổng đài 147.

Du lịch, GO! - Theo Bee
phía bắc Tây Nguyên còn có dãy núi đá hoa cương với đỉnh Ngọc Linh cao hơn 2.500 m, được coi là "mái nhà của Tây Nguyên"; đỉnh Ngọc Phan hơn 2.000 m, nơi bắt nguồn của những dòng sông chảy về miền Trung, như sông Tranh, sông Thu Bồn, sông Trà Khúc, sông Ba... Di tích lịch sử, danh thắng Măng Đen (Konplong) hay di chỉ khảo cổ Lung Leng, di tích Đăktô - Tân Cảnh, di tích ngã ba Đông Dương huyền thoại. Những khu rừng nguyên sinh và đặc dụng, như Chưmon Ray, Đác Uy, Sa Thầy. Nhưng tiếc thay đại công trình đường Hồ Chí Minh đang triển khai, còn quá bề bộn, nên chúng tôi không thể bay qua mà tới đó được.

Những dòng sông ở bắc Tây Nguyên đều khởi nguồn từ những đỉnh núi cao đầy truyền thuyết: Ngọc Linh, Kon Ka King, Chưmonay... Chảy qua mỗi địa bàn dòng Ðăc Pla, Sê San hay Kroong Pôkô lại mang một tên gọi khác nhau: đơn giản vì nó xuyên qua nhiều vùng văn hoá, lúc là buôn làng của những người Bana, lúc là buôn làng của nhóm sắc dân Rơ Ngao, Gia Rai, Xơ Ðăng, Rơlăng, Rơmăm, Brâu...

Bến nước của người Rơ Ngao khác với bến nước của người Brâu, điệu chiêng người Gia Rai khác điệu chiêng người Xơ Ðăng, hoa văn trên gùi nơi vai các sơn nữ Rơlăng xa lạ với hoa văn nơi gùi các thiếu nữ Ba Na, hương vị ché rượu cần người Rơmăm ngọt ngào mà không hợp với hương rượu cần của người Xơ Ðăng... giữa dòng Ðăc Pla với Kroong Pôkô (có nghĩa là vùng nước lũ) phải qua những cù lao bãi đá rất ấn tượng. Nếu quan sát hai bên bờ sẽ gặp những cảnh đánh cá theo kiểu cổ xưa trên những chiếc xuống độc mộc của người Rơlăng, Ba Na, Rơ Ngao. Thỉnh thoảng hiện ra những dải rừng cà chít đang mùa đổi màu lá, từ đen sẫm sang đỏ nâu.

Trước khi xuôi xuống nam Tây Nguyên, chúng tôi tới quay phim thác Yaly. Cách thành phố Pleiku khoảng 40km về hướng tây bắc, thẳng quốc lộ 14 hướng Kontum, đi khoảng 15km đến ngã ba Yaly, quẹo trái, đi thêm 23km là tới thác Yaly nằm trên sông Sê San thuộc địa bàn xã Ialy, huyện Chưpăh, tỉnh Gia Lai. Nhưng đúng ra nó toạ ngay đường ranh giới Gia Lai - Kon Tum. Nơi đây đang rục rịch khâu chuẩn bị cho dự án lớn xây nhà máy thủy điện có sản lượng lớn thứ hai và là công trình thủy điện ngầm lớn nhất cả nước với công suất lắp đặt 720Mw và sản lượng điện trung bình 3,7 tỷ kwh/năm. Nhưng trước mặt chúng tôi lúc này vẫn là một Yaly vô cùng hoang vu.

Ở đoạn này lòng sông lởm chởm đá và có một độ nghiêng khá dốc làm cho giòng nước chảy xiết hơn những khúc khác nên đã tạo nên con thác Yaly. Thác đổ chụm trên một tiết diện hẹp cao chừng 40 thước, sức nước chảy rất mạnh tạo thành một cột nước tròn như chiếc vòi rồng khổng lồ, tung bọt trắng như những đám mây mù lan rộng một vùng. Âm thanh réo ầm ầm, man dại như tiếng rú rít của hung thần. Ai yếu tim, đảm bảo không thể đứng trên đỉnh thác mà nhìn xuống dòng Sesan sục ngầu dữ rằn cỡ như thế.

Chiếc Konvát đen đang quay bỗng trở chứng rụng rơi mất lẫy cò, máy đang lia dọc bị khựng lại. Tiếc chiếc cò máy chỉ nhỏ mỏng như chiếc cúc áo đang nẩy bần bật trên tảng đá phía duới, tôi dúi nhanh chiếc máy cho Sinh và Khang bên cạnh lao xuống định lượm lại mà không hề nghĩ đến nguy hiểm là gì. Sinh, Khang và Sơn hoảng quá cản không kịp liền hét toáng lên. Tôi có nghe thấy gì đâu mà hét. Tiếng nước dội ầm ầm thế này. Sau cú sốc như giỡn mặt với tử thần qua đi, tôi mới thấy sợ. Tôi có thể sẽ rơi xuống tan xác dưới cái cột nước khổng lồ điên cuồng ngầu ngầu bên dưới. Nhưng ở thời khắc đó tôi nào có nhận ra điều gì.

Nẩy vài cái, chiếc cò thép đã rơi kẹt vào khe tảng đá mấy chục mét bên dưới. Từng đợt sóng nước lớn oàm oạp đập mạnh xung quanh. Mọi người kéo tôi lên, Khang liền lấy dao zíp gọt cho tôi một mẩu gỗ bẻ bên bờ suối và giúp tôi thay tạm cái nút bấm mới. Chúng tôi cũng thực hiện nốt được phần công việc như dự kiến. Nhìn từ bờ này sang bờ kia ước lượng khoảng ba trăm thước. Hai bên bờ toàn là những tảng đá đủ cỡ nằm chen chúc lên nhau.

Mặt nước cũng lố nhố vô số mỏm đá. Người dẫn đường cho biết, nhiều người đã gặp cá sấu từ vùng biển hồ Mê kông bên Campuchia đã ngược dòng lên đây trú ngụ và sinh sống lâu năm ở đoạn sông khá lớn này. Trong đời, hễ ai mà một lần nhìn thấy cột nước lớn như thế có lẽ không bao giờ quên. Với tôi, thác Yaly quả là ngọn thác lớn vào bậc nhất của Tây Nguyên và cả Việt Nam. Ngày nay nó đã bị nhà máy thuỷ điện xoá sổ gần như hoàn toàn mất rồi...

Rời Yaly hùng vĩ, chúng tôi trở lại quốc lộ 14 và xuôi về Đắclák. Những cánh rừng Khộp dọc hai bên đường. Tiếp đến là những nông trường Cà Phê đang mủa hoa trắng muốt. Tô điểm cho muà xuân Tây Nguyên một mùi hương ngây ngất đầy quyến rũ.

Mùi hoa cà phê thoang thoảng kéo lũ ong khắp nơi về vờn lấy phấn, hút mật để cho ra những giọt mật ngon nhất. Từng đàn bướm đủ màu sắc cũng theo hương hoa cà phê đua nhau kéo về bay lượn khắp trời Tây nguyên.

Sau một ngày làm việc cật lực. Đêm đến, chúng tôi tản bộ vào trung tâm thành phố Buôn Mê Thuột. Quả là thủ phủ của Tây Nguyên! Khác với Kon Tum, PleiKu, hơn 9 giờ tối, khách thập phương vẫn còn tấp nập. Rất đông cư dân thành phố tập trung tại các công viên sinh hoạt hoặc đi bộ trên lề đường như một hình thức tập thể dục.

Khách sạn khá tiện nghi được đại diện của bộ Điện Lực khu vực miền trung đặt trước cho chúng tôi. Xế mé trái là toà giáo đường Thiên chúa giáo khang trang. Những cô gái thành phố lớn nhất cao nguyên này da trắng bóc, giọng nửa Nam nửa Bắc đang lũ lượt kéo tới làm lễ ở nhà thờ. Hôm nay là tối chủ nhật, lễ chính rất đông tín đồ. Theo chân anh chuyên viên đứng tuổi của bộ điện, 4 thằng ngựa chúng tôi kéo nhau vào xem thánh lễ. Cho tới lúc mọi người cùng qùi xuống nền nhà, chúng tôi cũng bất đắc dĩ phải qùy theo, được bữa choét đầu gối. Thật dại dột. Nhớ mãi cái đận qùi ấy tới bây giờ.

Hôm sau chúng tôi lại tiếp tục tới các ngọn thác nổi tiếng quanh Buôn Mê Thuột. Tây Nguyên không chỉ có cà phê, có "cái nắng", "cái gió" mà còn ôm trong mình những con thác to lớn, nguyên sơ, hoang dại.

Từ Buôn Mê Thuột ngược đường quốc lộ 14, nhằm hướng Pleiku, chừng mươi cây số thôi, chúng tôi đã đến bên Đray H'linh rồi. Tiếng Êđê gọi Đray là thác, còn H'linh là tên một người con gái. Thác tuy không cao như Yaly, nhưng thơ mộng, bề thế, khó có thác nào ở Việt Nam mà sánh kịp. Nếu phải bình chọn một ngọn thác như một cuộc thi hoa hậu thì cô gái H'linh chắc chắn sẽ giành vương miện một cách xứng đáng. Những thước phim tôi quay trong bộ phim này có lẽ sẽ là những hình ảnh tư liệu cuối cùng của đời người con gái hồng nhan. Vì chỉ vài năm nữa thôi con thác này sẽ bị hiến tế, chặn dòng để xây nhà máy thuỷ điện Đray H'linh I.

Sau Yaly, tôi đã giành nhiều cơ số phim nhất để quay với đủ mọi góc độ về Đray H'linh như sự ngưỡng mộ, nuối tiếc vô bờ của một kẻ si tình trước bậc quốc sắc thiên hương vì việc nước sắp phải "qúa quan" đi xa mãi mãi.

Ai chưa biết Đray H'linh mà gặp Đray Sáp thì cũng tạm hài lòng vì vắng trăng mà còn sao thì cũng như được an ủi phần nào. Tiếng Êđê, Đray Sáp là thác Khói, cách Buôn Ma Thuột hơn 30 km. Nước đổ từ độ cao khoảng 30m và rộng chừng trăm mét, vùng quanh chân thác, “khói” nước luôn bao phủ như màn sương khói diệu huyền. Truyền thuyết kể rằng thuở xưa có một thiếu nữ người Êđê xinh đẹp tên là H’Mi, nhiều chàng trai từ khắp các buôn làng của người Êđê, M’Nông tìm đến xin cầu hôn nhưng đều bị nàng cự tuyệt vì nàng đã có người trong mộng. Một hôm, nàng cùng người yêu ra bìa rừng ngồi nghỉ gần một tảng đá lớn. Đột nhiên xuất hiện một con quái vật đầu to như quả núi, mắt đỏ như lửa.

Con quái vật lao xuống sông dùng miệng ngậm nước và phun ra thành một cột nước cao hướng về phía đôi tình nhân. Chàng bị nước bắn ra phía xa và ngất đi, còn nàng bị con quái vật bắt và mang đi. Khi tỉnh dậy chàng vô cùng đau khổ vì mất người yêu, sau nhiều ngày than khóc đã hóa thành một cây to đâm rễ sâu vào tảng đá. Nơi quái vật lao xuống nước đã trở thành thác Khói ngày nay, còn chàng trai bây giờ là rừng cây bên bờ đá cạnh thác. Những người dân sống trong vùng bây giờ vẫn truyền miệng nhau rằng thỉnh thoảng họ nhìn thấy từ phía bầu trời đầu thác có một đám mây trắng giống hình cô gái sà xuống ôm lấy những tán cây cạnh thác. Và mỗi lần đám mây kỳ lạ ấy xuất hiện thì ở vùng đó lại có mưa to gió lớn.

Hai con sông Krông Knô và Krông Ana gặp nhau: “Là dân ở đây nhưng cũng chỉ nghe người ta nói thôi chứ chưa bao giờ đến đó cả. Chỉ biết người ta nói lạ lắm, hai dòng chảy song song với nhau để rồi gặp nhau, nhưng một dòng thì quanh năm đục ngầu, còn dòng kia lại trong veo lạ thường”, người dẫn đường thủng thẳng kể với chúng tôi như thế!

Huyền thoại Tây nguyên kể rằng xưa kia Krông Knô và Krông Ana chỉ là một dòng. Ngày ấy, có một chàng trai của buôn Kuôp đem lòng yêu một người con gái ở bên kia sông. Tình yêu của họ ngày một lớn lên cho đến khi bị hai họ phát hiện. Hai dòng họ này vốn đã có hiềm khích với nhau từ hàng trăm năm trước nên không chấp nhận cho con cháu yêu nhau, tìm mọi cách ngăn cản và chia cắt tình yêu đôi trai gái. Nhưng vì quá yêu nhau nên cả hai tìm cách phản kháng. Trong một đêm trăng thanh gió mát bên dòng Sêrêpôk, đôi uyên ương đã cùng nhau nhảy xuống sông tự vẫn. Sau khi họ chết đi, mây đen bỗng nhiên từ đâu kéo đến nhiều vô kể, trời đất đen ngòm, dòng sông cuồn cuộn nước chảy ầm ầm. Đến sáng mai, khi mọi người thức dậy thì dòng sông đã rẽ thành hai dòng từ lúc nào.

Thác Đray Nur trên sông Sêrêpôk nằm cách Buôn Ma Thuột 20km về hướng nam ngọn thác rất lớn với chiều dài trên 250m, cao hơn 30m, nối liền đôi bờ hai tỉnh Đắc Lắc và tỉnh Đắc Nông ngày nay. Giữa không khí núi rừng trong lành với vô vàn hạt bụi nước li ti bay bên bờ thác, đứng cách chân thác cả trăm mét vẫn cảm thấy mát mẻ. Nhiều người thích cảm giác mạnh đã vào hang đá trong lòng thác, và hang đá trong lòng thác chính là nét độc đáo riêng có của Dray Nur: “phòng mátxa” nước thiên nhiên. Thiên nhiên đã khéo dựng một vách đá cao chắn một bên vách núi, một nhánh thác nhỏ đổ từ độ cao hơn 20m xuống. Nếu được đầu tư hợp lý, nơi đây có thể trở thành nơi nghỉ dưỡng, thư giãn rất tiện ích với những “phòng tắm” lộ thiên khổng lồ trông rất bắt mắt khách vãng lai.

Mỗi lần được tận mắt thấy những bức tường nước đổ, tận tai nghe tiếng reo vui của gió, nước và đá hòa quyện, bạn như trút bỏ bao ưu phiền của cuộc sống, nhập hẳn mình vào bản hoà ca bất tận của thiên nhiên kỳ thú, với những huyền thoại trong sáng về tình yêu... tâm hồn ta như  được thăng hoa. Giữa mùa hè oi bức mà rời phố xá chật trội, lên đây thư giãn, an trí thì có lẽ không ở đâu hơn.

Đứng dưới chân thác, ta như lọt thỏm giữa rừng già nguyên sơ với những cây cổ thụ cao ngất trời, những tảng đá sừng sửng, vang vọng đâu đây bản tình ca của huyền thoại về một tình yêu bất tử lung linh cùng những tia nắng xuyên qua thác vẽ nên những sắc cầu vồng kỳ ảo làm cho cảnh đẹp đến nao lòng.

Được hợp lưu bởi hai dòng Krông Knô và Krông Ana bắt nguồn từ vùng lũng núi của nam Trường Sơn, sông Sêrêpôk có chiều dài hơn ba trăm cây số. Gần một nửa chiều dài là chảy trên lãnh thổ nước ta. Sêrêpôk không đổ thẳng ra biển Đông như nhiều dòng sông khác mà chảy ngược sang Campuchia trước khi hợp vào dòng Mekong, xuôi về miền Tây Nam bộ Việt Nam rồi mới hòa vào biển lớn.

Theo các chuyên gia về địa chất đánh giá, chính dãy núi Trường Sơn Nam là đường phân thủy (chia nước) của những hệ thống sông chảy về đồng bằng duyên hải phía đông rồi đổ về biển Đông. Hệ thống sông đổ về phía tây là phụ lưu của sông Mekong. Sêrêpôk là một trong số ít dòng sông không tuân theo qui luật chảy về biển Đông mà ngược lên phía tây. Đây là dòng sông khá đặc biệt vì cả hai nhánh đều rất hiền hòa, nhưng khi hợp thành Sêrêpôk thì trở nên “hung dữ” với hàng loạt thác ghềnh liên tiếp như Đray H'linh, Gia Long, Đray Sáp, Đray Nur, Trinh Nữ... với dòng nước chảy xiết.

Các già làng bảo: Xưa nay trên dòng sông này chưa ai dám mạo hiểm lao từ trên thác Gia Long, Đray Nur xuống vực... Chỉ những ai yêu cái đẹp, nhưng dám mạo hiểm mới dám dùng thuyền bay từ trên thác cao hơn 10m xuống giữa vực sâu cuồn cuộn xoáy nước và đá ngầm để từ đó vui sướng reo lên một cách thoả chí, vì khát vọng tìm cảm giác mạnh...
Ai thích môn thể thao mạo hiểm thì đoạn sông Sê Rê Pôk từ thác Gia Long đến Đray Sáp là thật tuyệt vời.

Người dân Tây Nguyên cho rằng, thiên nhiên có nguồn gốc như con người, cũng được sinh ra bởi một đấng sinh thành. Với dòng Sêrêpôk, nó cũng có đấng sinh thành. Đó là hai dòng sông: K'rông Na và K'rông Ana. K’rông Na được coi là cha và K’rông Ana là mẹ.

Dòng sông mang dáng vẻ hùng vĩ, được thừa hưởng nét đẹp vẹn nguyên và vẻ hoang sơ, huyền ảo từ các đấng sinh thành, Sêrêpôk đã trở thành ngọn nguồn của trái tim Tây Nguyên. Trong suốt quá trình về với hạ nguồn, dòng sông đã hoá thân kỳ diệu thành trăm ngọn thác lớn nhỏ trên khắp cao nguyên.

Trải qua bao đời nay, người dân nơi đây luôn gắn bó với Sêrêpôk, luôn coi K'rông Na và K'rông Ana là cha mẹ, là linh hồn của đại ngàn. Dòng Sêrêpôk như sinh lộ dẫn dắt con người ta đi khắp Tây Nguyên.

Những chặng đường gió bụi (Phần 1)

Du lịch, GO! - Theo Goccomau Blog, ảnh internet
Chuyến khảo sát để làm... thủy điện - chuyến đi của những kỹ sư ngành điện lực. Đành rằng những thủy điện chính là "sát thủ" của môi trường thiên nhiên nhưng những chuyến đi của họ vẫn mang dáng dấp thật phiêu lưu đầy thú vị. Mình sửa lại, bổ xung ảnh minh họa và đăng lên, ta cùng xem nhé...

< Đường lên Tây nguyên.

Chiếc xe U át của công ty đìện lực miền trung chở 4 thằng tuổi Ngọ chúng tôi đang chầm chậm leo trên quốc lộ 19, nhằm hướng Pleiku băng tới. Đây! đèo An Khê đây! Anh lái xe giới thiệu với mọi người.

Cảnh đẹp vây quanh chúng tôi từ bốn phía. Những đoạn đèo ngoằn ngoèo cứ nối tiếp nhau mà tôi chỉ nhớ được con đèo An Khê nổi tiếng này trên sách vở - một địa danh đã ghi vào lịch sử.

< Trên đèo An Khê.

Lên đến đỉnh đèo nhìn xuống, cả một khung cảnh hùng vĩ và mang đầy sự huyền bí của núi rừng. Con đường đã qua giờ nhìn lại trông giống một con rắn đang uốn mình đi tới. Bên dưới, vài chiếc xe Reo chuyên dụng cũ của Mỹ, trông dữ tợn như loài bọ cạp khổng lồ, chở gỗ lâm trường đang “trườn” về xuôi, mà từ đây nhìn nó như những chú kiến nhỏ xíu. Tây Sơn Thượng đạo thuộc vùng rừng núi An Khê, thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai. Quần thể Tây Sơn Thượng đạo gồm 6 di tích liên quan đến cuộc khởi nghĩa của người Anh hùng áo vải Quang Trung - Nguyễn Huệ.

Cuộc khởi nghĩa nông dân vĩ đại do anh em họ Nguyễn lãnh đạo bùng nổ năm 1771. Vùng núi rừng An Khê của Gia Lai trở thành căn cứ đầu tiên của cuộc khởi nghĩa. Chính từ căn cứ Tây Sơn Thượng đạo ở An Khê, đại quân của cuộc khởi nghĩa đã tràn xuống đồng bằng..... Các anh em nhà Tây Sơn mà tiêu biểu là Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ đã lập được mối quan hệ anh em giữa người Kinh và người Thượng, tập hợp được các dân tộc Bắc Tây Nguyên ở vùng Tây Sơn Thượng đạo như người Ba Na, Gia Rai vào cuộc đấu tranh thống nhất đất nước.

< Qua suối - (tháng 4.1984: Kỹ sư điện lực - trái ; đạo diễn phim - phải).

Để có được chuyến đi lịch sử này, tôi đã phải cố gắng rất nhiều. Năm ngoái, tôi phải quay cho xếp Lê Quốc một phim, quay cho xếp phó Lương Đức một phim, cho người đẹp Lệ Mỹ (của xếp phó) một phim và cho cựu xếp Nguyễn Thiệu 2 phim (đó là những tiếng nói sinh sát trong chi bộ). Tất cả nếu không có sự nỗ lực vượt bậc của tôi thì khó mà có được chuyến làm phim đầu tay (với chức danh đạo diễn) thế này.

Đang mải mê với những dòng suy nghĩ mung lung chen lẫn, đan xen nhau như vậy thì xe đã tiến sâu vào địa phận Gia Lai. Là địa bàn dạo đó an ninh, có nhiều vấn đề còn đang nổi cộm. Anh lái xe nói, hay là ông đạo diễn nên thay cái áo khác thì tốt hơn. Nhìn ông to con thế này, lại áo bay Liên xô, đi xe U át, Fullro, nó nhẩm ông với cánh chuyên gia Nga lên Tây Nguyên tìm quặng mà để ý thì cũng chẳng hay ho gì!

Lại văn Sinh ngồi băng ghế sau cũng tán thưởng: phải đấy ông Cường ạ! Năm ngoái, đi quay săn voi cùng Phạm Bình qua đoạn này, tôi còn được nghe tụi Fullro còn cướp cả một chiếc xe chở khách loại nhỏ kia. Trên xe, có cả ông mặc áo bộ đội, cũng là mục tiêu tấn công của chúng đó... cẩn thận vẫn hơn ông ạ! Lần đầu lên Tây Nguyên, nên cảm giác về một vùng đất đầy huyền thoại cũng khiến tôi nhiều bỡ ngỡ. Nghe lời mọi người khuyên, tôi cởi bỏ chiếc áo bay và thay vào bằng chiếc áo kẻ sọc đen, mắt vẫn không rời đoạn đèo quanh co dốc dựng ngược đầy bí hiểm.

Càng lên cao, cảm giác về núi rừng trùng điệp tự nhiên như bị mất dần. Xa xa, những vạt luá xanh trải rộng, nom chả kém gì những cánh đồng luá ở miền xuôi thực sự là bất ngờ lớn đối với tôi. Ở độ cao như thế này, Tây Nguyên lại như một bình nguyên bằng phẳng và rộng bao la chứ đâu ruộng nương cứ vụn nhỏ như ở vùng núi rừng Tây Bắc mà tôi đã nhiều lần tới đó. Đúng cái tên Cao nguyên có lẽ là như vậy! Những mái nhà rông của người Ba Na, Xơ Đăng, Giẻ – Triêng cao vút như lưỡi rìu chém ngược lên bầu trời xanh; những ngôi nhà mồ của dân tộc Gia Rai ở rải rắc khắp các buôn làng.

Không khí trên cao nguyên dịu mát thay dần cái nóng cháy người ở miền biển. Bầu trời bước sang tháng tư, đầu mùa mưa nên xa xa đã bắt đầu xuất hiện những đám mây xam xám. Nhưng mùa khô vẫn lưu dấu ấn trên những vạt hoa Cúc Qùi vàng rực. Dọc bên con suối nhỏ ven đường có nhiều rẫy bắp, cà phê của đồng bào dân tộc. Thấp thoáng trước mặt, dãy Trường Sơn hùng vĩ dần hiện ra. Chúng tôi đã đến Tây Nguyên!

Khác với cảm giác vào Đà Lạt, thị xã Pleiku hiện lên từ rất xa. Nếu không có loáng thoáng những chú voi kéo gỗ bên những con đường đất đỏ gần đó. Thì ta như có cảm tưởng như lạc vào một thành phố nào đó ở vùng trung Âu, chứ khó mà nhận ra đó lại là trung tâm của một tỉnh trên Cao Nguyên xa xôi.

Theo truyền thuyết, thuở xa xưa ở vùng đất này không có tên gọi. Nhân ngày hội ở một bộ tộc Djarai, đồng bào tụ họp nhau lại ở nhà rông để ông Phaphai Tobal làm lễ. Trong lúc mọi người đang nhảy múa, ca hát theo tiếng cồng, tiếng trống, say sưa bên các ché rượu thơm ngon thì một cuộc xô xát giữa hai người con trai của vị tộc trưởng diễn ra ác liệt. Họ tranh giành quyền lực để kế vị người cha già yếu. Để phân giải, hai người con trai phải dùng sức mạnh bứt đứt đuôi trâu. Kết quả, người con trưởng thắng. Từ đó, người ta đặt tên cho địa danh này là Pleiku!

Đêm ở nhà khách chi nhánh điện lực, chúng tôi được đãi món cá quả rán giòn thơm phức. Lại một bất ngờ lớn nữa đến với tôi. Chỉ những khoanh cá to cạng vàng xuộm trên điã, anh phụ trách nhà nghỉ nói:
- Cá quả ở biển hồ đó! Nếu các đồng chí có nhiều thì giờ, tôi sẽ bố trí mời mọi người đi thăm. Lên Pleiku đây mà không ra hóng mát ở biển hồ thì cũng uổng.

Buổi tối tôi ghé thăm bố mẹ cô Lài, giáo viên, người hàng xóm với gia đình tôi cùng trong khu tập thể ở Hà Nội. Bố chị là đại tá, giám đốc công an tỉnh. Tôi mang quà của chị và cũng là để dò la xem tình hình an ninh ở cao nguyên dạo này ra sao? Không gặp được vị đại tá. Nhưng qua lời bà vợ thì tôi cũng tạm yên tâm. Vì sang năm nay an ninh trong toàn vùng đã khá lên rất nhiều. Muối, vải vóc và nhu yếu phẩm được nhà nước cung cấp đầy đủ hơn, người theo Fullro bỏ rừng về làm ăn lương thiện hàng loạt.

Nhìn chuồng lợn sau nhà, muời mấy chú ỉn mũm mĩm, bà giám đốc công an nói với tôi, nhờ bắp ở đây rẻ nên chăn nuôi ở trong này là rất phát tài. Một năm cô xuất hai lứa heo thịt cho công ty thực phẩm thị xã, tiền lãi còn bằng mấy lương của chú mày ấy chứ. Được cái khí hậu trong này dù ban ngày có nắng nóng tới đâu, ban đêm vẫn cứ phải đắp chăn, chăn bông quanh năm. Cháu ra bảo Lài, nghỉ hè cứ vào đây mà ở, Đà lạt, Sa pa chắc gì đã hơn được ở đây!

Ngày hôm sau chúng tôi được đưa tới những ngọn thác dự kiến sẽ triển khai những dự án thuỷ điện nhỏ, nội dung chính mà kịch bản phim của chúng tôi đề cập. Lang thang trên các nẻo đường đất đỏ trên cao nguyên Măng Đen, băng qua những rừng thông bạt ngàn, và những dòng sông đã đi vào huyền thoại như Dah, Bla, Pô Kô... Giữa núi rừng hoang sơ và hùng vĩ là những buôn làng của đồng bào các dân tộc: Ba Na, Brâm, Gia Rai, Xê Đăng, Rơ Măm... Nơi đây vẫn còn giữ nguyên vẹn những phong tục của ngàn xưa, như lễ đâm trâu, lễ ăn cơm mới, lễ tế thần linh, lễ bỏ mả. Họ là những cư dân nông nghiệp trồng lúa rẫy, mỗi năm làm một vụ, phụ thuộc vào nguồn nước trời.

Nhà rông là nơi sinh hoạt chung và cũng là nơi diễn ra lễ hội của làng. Làng nào càng đông dân cư, nhiều thanh niên và giàu có thì nhà rông càng to, càng cao. Đi sâu vào bản làng, trẻ con bồng bế nhau kéo ra tròn xoe mắt nhìn những người đồng bằng lần đầu đến Tây Nguyên. Đứa nào nước da cũng sạm nắng, nhưng gương mặt thể hiện nét hồn nhiên của trẻ thơ vùng núi. Chúng tôi gặp rất nhiều già làng với sắc da tím mốc như màu các vỉa quặng bôxít nằm rải rác khắp vùng cao nguyên. Tò mò có đôi lần tôi còn rờ tay vào làn da bụng của vài cụ.

Chao ôi, dầy chả kém gì da voi. Tôi quay sang nói với Sinh, có lẽ vòi muỗi có cứng tới đâu cũng khó mà xuyên thủng được. Chả thế mà đêm ngủ các cụ có cần mùng màn gì đâu. Mỗi chiếc khố đơn sơ vĩnh cửu thế thôi! Nhưng nhiều cụ sống thọ tới hơn trăm tuổi. Chỉ lúc nán lại nghỉ chân trên đường, mới có dịp la cà như thế chứ thời gian nào có phép chúng tôi khai thác sang các đề tài quá rộng, quá xa như thế.

Không chỉ ở Gia Lai mà đến đâu ở các tỉnh Tây Nguyên cũng bắt gặp những cầu thang đôi bắc lên nhà sàn với nhửng đục đẽo rất độc đáo. Đặc biệt ở khu các nhà mồ có rất nhiều bức tượng gỗ phản ánh công việc hàng ngày và sinh hoạt của người dân. Người đánh trống, người giã gạo, người trồng lúa, người đi săn, người khóc... nhưng nhiều nhất là nói sự sinh thành, sự ra đời và tái sinh mãi mãi của con người: Tượng những thanh nữ ngực trần phồn thực, người đàn bà chửa, mẹ bồng con, cả những tráng niên lực lưỡng với những khẩu "đại pháo" chỉa ra đầy uy lực ... Nhìn những đục đẽo giầu sức biểu cảm như thế đó có thể nhận ra đây là những tác phẩm được làm liền mạch như một cơn xuất thần tất yếu và bất chợt, dường như bức tượng đã nằm sẵn trong thân gỗ và óc người sáng tác, họ chỉ có việc bóc nó ra bằng những nhát rìu thúc giục.

< Biển hồ Tơ Nưng.

Từ tỉnh lỵ Pleiku theo quốc lộ 14 đi về thị xã Kon Tum, khi đến km 7 thì rẽ về tay phải, theo con đường mòn dẫn đến hồ.

Biển Hồ là tên do người Kinh đặt, còn tên thật của nó là Tơ Nueng, là một miệng núi lửa khổng lồ nằm ở phía bắc thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai quanh năm ăm ắp nước và luôn luôn xanh ngăn ngắt, như một chiếc gương trên chót vót cao nguyên cho mây trời soi bóng. Xung quanh nó có rất nhiều bí ẩn và huyền thoại khiến Biển Hồ lại càng lung linh kỳ ảo trong ký ức của con người, cả người sở tại và khách vãng lai.

Ngay cái tên Biển Hồ có lẽ cũng là do khát vọng của con người mà ra. Cao nguyên Pleiku cao hơn mực nước biển cả nghìn mét. Theo nguyên tắc bình thông nhau thì chả có giọt nước nào tồn tại được trên những đỉnh núi cao này. Và vì thế mà con người khao khát nước, khao khát biển. Vì thế có một cái “ao” trên đỉnh núi cao vời vợi, đứng ở dưới đồng bằng cách chân núi không xa nhìn lên chỉ thấy mây phủ kín mà hiện hữu một cái “biển” hồ như thế thì cũng kỳ lạ quá rồi. Đó thực chất chính là miệng một núi lửa nhưng khác là âm sâu xuống lòng đất.

Đối diện với Biển Hồ theo trục Bắc Nam khoảng ngót chục cây số là đỉnh Hàm Rồng, cũng là một miệng núi lửa khổng lồ khác. Hàm Rồng là dương, dương từ khí núi, hiên ngang như tấm bình phong chắn gió. (Xung quanh thành phố Pleiku là hàng trăm miệng núi lửa lớn nhỏ, nhưng lớn nhất vẫn là Biển Hồ và Hàm Rồng). Rất đối xứng, một bên nhô lên, bên thụt xuống, khiến có người liên tưởng so sánh nó như Yo Ni và Lin Ga. Diện tích của Hàm Rồng và Biển Hồ cũng tương ứng nhau, hình dáng cũng tương tự nhau. Hồi cuối 1980, khi mang máy quay phim theo đoàn không ảnh quốc tế trên máy bay AN 30, suốt 6 tiếng liền tôi đã thấy như thế, giống như kiểu bứng phần lõm của Biển Hồ đặt vào Hàm Rồng vậy, tức là nếu bê Hàm Rồng thả xuống Biển Hồ thì sẽ khít khịt, vừa như in. Tạo hoá công vĩ đại hẳn còn chứa nhiều bí ẩn?

Trữ lượng nước của Biển Hồ vào khoảng 25 đến 30 triệu m3, xê dịch giữa mùa khô và mùa mưa chứ nó không “nguyên si, không đổi” như lời đồn. Nhưng nguyên việc có một cái hồ nước vĩ đại đến ba chục triệu mét khối lơ lửng trên tầng trời như thế đã là kỳ diệu lắm rồi...

Nước hồ quanh năm đầy ắp, xanh trong có thể nhìn rõ từng đàn cá bơi lội dưới nước. Hồ có độ sâu từ 20 đến 40m. Ðây là vựa cá, hàng năm cung cấp cho Pleiku hàng trăm tấn cá. Phong cảnh xung quanh hồ thật ngoạn mục, từ những cây cối và các loài hoa khoe sắc ven hồ, ong bướm dập dìu tiếng hót của các loài chim lảnh lót mỗi buổi sớm mai. Kế đó là những cánh rừng bạt ngàn, những ngọn đồi uốn lượn trập trùng... Những chiếc thuyền độc mộc lướt trên mặt nước.

Giữa mùa nắng nóng oi nồng mà ở đây rất dễ chịu: không khí trong lành và mát rượi.  Đây còn là nguồn cung cấp nước sinh hoạt, nước cho cây trồng và vật nuôi cho một vùng rộng lớn. Nguồn lợi tự nhiên mà biển hồ mang lại vô cùng to lớn và quan trọng, nhất là đối với vùng cao nguyên ở độ cao gần ngàn mét so với mặt biển và hiếm nước.

Các nhà khảo cổ học đã thám sát, thăm dò và khai mở trang sử từ lòng đất này cho chúng ta biểt về văn hóa biển hồ - nền văn hóa đặc sắc thời tiền sử…Biển hồ Tơ Nưng  với nhiều góc độ nổi lên như một viên ngọc bích giữa mênh mông đất đỏ Tây Nguyên.

Còn tiếp
Những chặng đường gió bụi (Phần 2)

Du lịch, GO! - Theo Goccomau Blog, ảnh internet

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống