Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Friday, 18 November 2011

Khu du lịch Văn hóa Suối Tiên nằm trên Xa lộ Hà Nội, phường Tân Phú, quận 9 thuộc cửa ngõ Đông Bắc Thành phố Hồ Chí Minh.

Khu du lich văn hóa Suối Tiên được xây dựng cải tạo với mục đích kết hợp du lịch với giáo dục văn hoá lịch sử, nguồn cội dân tộc. Là một vùng đất đồi hình chữ S, rộng 200.000 m², chính giữa có dòng suối với nhiều mạch nước ngầm uốn lượn chảy xuyên qua suốt chiều dài 2.000m. Suối Tiên gồm 12 khu vực chính, vốn đầu tư 50 tỷ đồng. Hàng năm Suối Tiên đón từ 1,5 - 2 triệu lượt khách đến tham quan.

Từ xa, Suối Tiên ấn tượng bởi hình Vua Hùng được chạm khắc nổi trên ngọn núi nhân tạo, rất hùng vĩ. Vào trước cổng là hai chiếc ngà voi khá to. Quầy bán vé nằm ngay tại cổng ra vào, chỉ khoảng 45.000 dành cho du khách vào tham quan Suối Tiên.

Ai đến đây cũng ngỡ ngàng bởi Suối Tiên rấtrộng. Nhưng các khu vui chơi được thiết kế theo kiến trúc rất hoành tráng, các mô hình ở đây dựa vào các truyền thuyết và tư tưởng đạo học phương Đông.

Nét độc đáo của Suối Tiên là tính chất lịch sử, huyền thoại, các cụm mô hình ở đây được lấy ý tưởng từ các truyền thuyết, huyền tích của dân tộc và tư tưởng đạo học phương Đông. Với mơ ước về sự thái bình, an khang thịnh vượng, những nhà thiết kế xây dựng Suối Tiên thành 4 vùng đất theo truyền thuyết về tứ linh: Long, Lân, Qui, Phụng, mỗi vùng đất ứng với 1 hành trong ngũ hành: kim, mộc, thủy, hỏa lấy thổ làm trung tâm.

Vẻ đẹp nên thơ kết hơp hài hòa, khéo léo giữa thiên nhiên và nhân tạo, giữa kiến trúc cổ và kiến trúc hiện đại, không khí trong lành nơi đây đã khiến cho Suối Tiên thực sự trở thành khu nghỉ ngơi, giải trí hấp dẫn của người dân thành phố cũng như của du khách từ xa đến.

Kim Long Thổ Là thế giới của huyền thoại và truyện cổ tích. Qua Cầu Tứ Linh du khách gặp ngay Rồng khổng lồ dài 400m. Thủy cung ngầm trong lòng đất trưng bày hơn 500 loài sinh vật biển với đủ loại màu sắc sống động.
Theo bụng Rồng đưa du khách đến Long Quy ẩn thủy gợi nhớ huyền tích rùa vàng dâng kiếm báu cho vua Lê. Đuôi Rồng là Đồi Âu Lạc - nơi Lạc Long Quân và Âu Cơ gặp nhau, Long Quân và Âu Cơ lấy nhau và sinh ra bọc trăm trứng nở thành trăm con, niềm tự hào dòng dõi con Rồng cháu Tiên của Người Việt.

Sau đó du khách sẽ được đến Đảo Thiên nơi tưởng niệm Tổ tiên cùng các anh hùng dân tộc đã có công dựng nước và giữ nước. Lên Đảo Long Hoa thấy Quần Tiên hội tụ, ở đây còn có sự tích Hội nghị Diên Hồng đời Trần, Qua cầu "ô Thước" du khách sẽ đến Đảo Tiên - nơi gặp gỡ của đôi vợ chồng Ngưu Lang - Chức Nữ.

Mộc Lân Thổ Mộc Lân Thổ là một vùng đất nằm gần cổng chính, hướng bắc. Qua Cổng Thần Tiên du khách như bước vào một khu rừng nguyên sinh hùng vĩ, nằm cạnh bờ suối là những Cầu Kiều, Giếng Tiên, Hang Tiền Sử, Thác nước Chín dòng, Đền thờ Phật Bà Quan Thế Âm Bồ Tát. Một thế giới hoang sơ thu nhỏ, đến đây ta sẽ có được những phút giây cực kỳ sảng khoái, thanh thản. Cạnh bên là sân khấu Ếch thần, biểu hiện của sự may mắn, du khách có thể ghé qua đây để thưởng thức những tiết mục văn nghệ đặc sắc sau đó vào chơi Sân Patin với những đường băng uốn lượn trong vườn cây rợp bóng mát.

Thủy Quy Thổ Thủy Quy Thổ là một vùng đồng bằng rộng lớn với bạt ngàn rừng nhãn, nơi đây là địa điểm lý thú cho các cuộc picnic, cắm trại, sinh hoạt dã ngoại...

Hỏa Phụng Thổ Vùng đất mang tên Hỏa Phụng Thổ bạt ngàn với những hàng dương, những thảm cỏ xanh. Nơi đây còn trưng bày hàng trăm loài thú quí hiếm làm cho bức tranh thiên nhiên thêm sống động hơn. Xa xa là Tượng Phật Thích Ca tịnh tọa dưới cội bồ đề cao 20m. Đi thêm một chút là Sơn Cung, những danh lam thắng cảnh của đất nước như: Đèo Hải Vân, Vịnh Hạ Long, Hòn Phụ Tử, các hình tượng trong truyền thuyết dân gian tại các hang động... đều được tái hiện lại ở đây.


Các trò chơi khác Không chỉ có những cụm mô hình gợi nhớ truyền thống đân tộc, Suối Tiên còn hấp dẫn với những trò chơi phong phú và hiện đại, từ những trò chơi thiếu nhi như nhà banh, thú nhún, ngựa gỗ, xe điện, xe lửa... đến các trò chơi mới lạ, phiêu lưu, mạo hiểm, ngoạn mục nhưng an toàn tuyệt đối như Xe đạp trên không đưa du khách tham quan "Trại sấu” từ trên cao nhìn xuống với trên 1.500 con cá sấu; Với trò chơi Đu quay đứng du khách sẽ được nhìn toàn cảnh Suối Tiên từ dộ cao 30m; Và sẽ không có gì thích thú hơn khi bay vào không gian bằng chiếc Boeing tự điều khiển ở độ cao 9m.

Du lịch, GO! - Theo Dulichvtv, internet
Vùng đất này là lợi địa của một thế kỷ rưỡi vương triều và như vậy đã xây đắp những giá trị tập truyền, hình thành những nếp gấp trong suy nghĩ, đời sống, phong cách ăn và mặc, nói năng, ứng xử...

Huế cũng như mỗi vùng, miền khác trên đất nước ta đều có những sắc thái văn hóa địa phương độc đáo. Cùng với Thăng Long, Huế là kinh đô của nước Việt trong nhiều thế kỷ. Nói đến Huế, không chỉ là Huế trong phạm vi hành chính hiện nay, mà Huế là cả địa bàn Châu Hóa xưa, nay là tỉnh Thừa Thiên Huế, từ Mỹ Chánh đến Lăng Cô, từ núi đồi Trương Sơn đến đầm phá ra biển Đông.

Văn hóa Huế, một nền văn hóa của sự hài hòa và gắn bó giữa môi trường sống và chủ nhân của nó. Người ta thường nói văn hóa là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người trong cuộc sinh tồn của mình, thì con người Huế trong lịch sử vươn lên phía trước đã ứng xử hợp với tự nhiên, để rồi tự nhiên hữu tình vì có con người và cho con người.

Huế không chỉ là xứ sở của sông Hương - núi Ngự mà Huế có đủ núi - đồi, sông - biển, đầm - phá, đất - cát, cồn - bàu. Huế có núi đồi nhấp nhô với Kim Phụng, Ngự Bình, Vọng Cảnh; có dòng sông êm đềm với Hương Giang, An Cựu, Như Ý, Lợi Nông; có đầm Chuồn, Cầu Hai; có phá Tam Giang; lại có Cồn Hến, Giã Viên v.v...

Huế có tất cả đất núi đồi, đất thịt và cả đất cát ven phá, ven biển... Không những thế, thiên nhiên Huế lại quyện vào nhau, sơn thủy hữu tình, phong cảnh kỳ thú. Sống trong khung cảnh thiên nhiên hòa quyện như vậy, con người Huế đã sớm đùm bọc, gắn bó với nhau, kể từ ngày vào mảnh đất làm "quà cưới" này lập làng, sinh sống.

Con người đã biết dựa vào và biến đổi cái tự nhiên của Huế để sáng tạo nên lịch sử - văn hóa Huế. Cái hài hòa, êm đềm của phong cảnh Huế đã ăn nhập vào con người Huế nhuần nhị và sâu lắng.
Văn hóa Huế, một nền văn hóa được làm giàu bởi các dòng văn hóa đô thị - văn hóa làng (chùa) và văn hóa cung đình (bác học) - văn hóa dân gian không có sự đối lập, loại trừ.

Năm 1802, vua Gia Long lập ra triều Nguyễn, định đô ở Phú Xuân, Huế trở thành kinh đô của cả nước thống nhất từ Đồng Văn đến Cà Mau. Di sản kiến trúc hiện nay chủ yếu được xây dựng từ thời Gia Long trở đi.
Quá trình đô thị hóa khái quát ở trên cũng là quá trình Huế trở thành xứ sở mang đặc điểm của một nền văn hóa Huế đô thị.
Ở chốn thần kinh, tinh hoa văn hóa được dịp hội tụ và phát triển, dòng văn hóa cung đình - bác học xuất hiện với những di sản tinh thần quý giá về các lĩnh vực thơ ca, âm nhạc, kiến trúc, nghệ thuật múa, nghệ thuật trang trí.

Trong khi đó, không xa kinh thành Huế, vẫn là các làng quê với lối sống làng quê của mình. Các làng An Hòa, Vĩ Da... sát nạc Kinh thành vẫn là các làng chủ yếu sinh sống bằng kinh tế nông nghiệp. Ngoài nghề nông làm ruộng, nhiều làng có thêm nghề làm vườn với những loại cây trái đặc sản: quýt Hương Cần, nhãn lồng Kim Long, thanh trà Nguyệt Biều, chè Tuần...

Văn hóa Làng của những làng quê Huế phản ánh quan phong tục, tập quá của cư dân làm ruộng, làm vườn và nghề thủ công. Riêng trong lĩnh vực tín ngưỡng dân gian, hằng năm đều đặn diễn ra những lễ hội, cúng tế ở các làng. Ngoài ra còn có những lễ hội mang tính truyền của làng hoặc lễ hội của những làng nghề: Làng Sình mở hội vật vào ngày 10 tháng Giêng Âm lịch, làng Thai Dương có hội Cầu Ngư vào ngày 12 tháng Giêng Âm lịch, làng Hiền Lương có lễ cúng tổ nghề rèn vào 18/12 v.v...

Trong làng có đình, nơi thờ cúng chư thần, cử hành tế lễ và hội họp của làng. Trong làng lại có chùa. Hầu hết các làng ở Huế đều có chùa.

Trong chùa gian chính thờ các vị Phật, còn ở án hậu thờ ngài khai canh các họ của làng. Với số lượng trên 150 ngôi chùa lớn, nhỏ, Phật giáo đã và đang có một vai trò quan trọng trong văn hóa dân gian Huế. Có người cho rằng Huế còn là kinh đô của Phật giáo, ở Huế đã hình thành dòng văn hóa chùa, tiêu biểu cho bản sắc của văn hóa Huế...

Sự dung hợp giữa các dòng văn hóa trên đã làm giàu cho văn hóa Huế. Theo thời gian, chúng bổ sung và nâng cao cho nhau, làm nên cái bản sắc, "cái hồn" của văn hóa Huế. Văn hóa Huế, một nền văn hóa của cái đẹp trong nghệ thuật kiến trúc và phong cách sống.

Nét riêng của văn hóa Huế còn được thể hiện qua ăn nói, ăn mặc, ăn uống, ăn học và cả ăn chơi của người Huế. Trong ăn nói, người Huế luôn tôn trọng thứ bậc thể hiện qua cách xưng hô ở làng, họ và gia đình, không phân biệt tuổi tác, giàu sang, nghèo hèn (có cả một hệ thống xưng hô khác với nhiều vùng).

Đối với xóm giềng, lạ cũng như quen đều căn cứ vào tuổi tác mà ăn nói. Trên địa bàn Thừa Thiên Huế hiện nay đều có chung một thứ tiếng là tiếng Huế, chung là thứ giọng là giọng Huế, không phân biệt dân làng hay thành phố. Người ta vẫn biết đến giọng Huế nhẹ nhàng, có phần e ấp của những cô gái Huế.

Thiếu nữ Huế thường là kín đáo, không bộc lộ tâm tình cho người khác biết, có khi là e ấp, cũng có khi là ỡm ờ.
Trong hai câu thơ của Đông Hồ nhắc đến cô gái Huế: “Gió chiều vương áo nàng Tôn Nữ, quai lọng nghiêng vành chiếc nón thơ”, ta cảm thấy các món trang sức như tà áo, chiếc nón, bài thơ trong nón đều góp phần tạo nên nét duyên e ấp của “nàng Tôn Nữ” và nàng Tôn Nữ ở đây dùng để chỉ chung các thiếu nữ Huế.

Một tác giả Pháp chấm phá dung nhan này như sau: “... Các cô gái Huế kiêu sa và dễ làm ra vẻ khinh khỉnh, họ là đám hậu sinh của các phi tần không bao giờ quên rằng một giọt máu thiên tử đang chảy truyền trong huyết quản của mình” (Jean Hougron, Soleil au ventre, trang 67).

Kinh đô Huế làm nảy sinh nơi người dân một phong cách mà người ta gọi là “đài các”, tức là một vẻ cao sang nào đó, nhưng cái đài các này không khu biệt trong vòng hoàng thành mà còn lan tỏa trong dân gian. Từ cái đài các ấy còn rẽ riêng một nét tinh mà người tại chỗ gọi là tính “đài đệ”, có nghĩa là một sự giữ kẽ, giữ ý, và luôn cả một tính cách mà người ta gọi là “đế đô”. Khi người mẹ mắng con gái “đừng có đế đô!” thì có nghĩa là đừng có đòi hỏi, đừng với cao, đừng học làm sang.

Cái tính “đài đệ” được thể hiện rộng rãi, tràn lan, chẳng hạn ở chiếc áo dài mà có lẽ Huế là nơi được mang mặc nhiều hơn cả. Cho đến những năm 1970, người nữ ở Huế ra khỏi nhà là mặc áo dài, kể cả chị tiểu thương ở chợ hoặc bà bán hàng rong. Thậm chí nhiều phụ nữ danh giá đi ngủ vẫn mặc luôn áo dài.

Nói đến Huế không thể không nói đến di sản kiến trúc ở Huế và phong cách nghệ thuật sống của người Huế. Không phải ngẫu nhiên mà người ta vẫn quen gọi thành những cụm từ mang sắc thái tiêu biểu riêng cho Huế, như: người Huế, kiến trúc Huế, nhà vườn Huế, món ăn Huế, màu tím Huế, nón lá Huế, giọng Huế - tiếng Huế, ca Huế...
Tất nhiên không phải cái gì thuộc về Huế đều là bậc nhất cả. Song trong nghệ thuật kiến trúc và phong cách sống, cái đẹp vẫn là nét trội, nét tiêu biểu.

Cái đẹp trong nghệ thuật kiến trúc ở Huế được thể hiện trước hết là ở sự hòa hợp, gắn bó giữa công trình với môi trường tự nhiên, một bên là tạo hóa, đất trời, một bên là sáng tạo của thường dân, phối hợp nhuần nhuyễn với nhau, tạo nên một thể thống nhất, chặt chẽ mà nên thơ, hùng vĩ và duyên dáng...

Kiến trúc ở Huế không nguy nga đồ sộ và xa hoa lộng lẫy, nhưng Huế vẫn hấp dẫn con người bởi những công trình kiến trúc dung hợp với cảnh quan tự nhiên đó. Nét đẹp của nghệ thuật kiến trúc ở Huế còn ở chiều cao của công trình (ngôi tháp Phước Duyên cao 7 tầng cũng chỉ 21 m). Lâu đầu, cung điện, lăng tẩm, đình chùa... không vượt quá cao so với hàng cây làm đẹp cho không gian kiến trúc.

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ web ThuathienHue, Tuoitre, internet
Bình Thuận có nhiều loại hải sản ngon, hiếm có thu hút khách du lịch. Trong đó, 4 đại diện của vùng này được liệt vào danh sách những đặc sản Việt Nam là: nước mắm, ốc hương, sò điệp và mực một nắng.

Nước mắm 

Nước mắm Phan Thiết có hương vị thơm ngon với độ đạm cao và là món nước chấm không thể thiếu trong bữa cơm của người Việt Nam. Những thương hiệu nước mắm như Mũi Né, Liên Hương, Con Cá Vàng.. ngày càng tạo được tín nhiệm cho người tiêu dùng.

Nước mắm Phan Thiết có màu vàng nhạt, hương vị đậm đà, hậu vị ngòn ngọt của chất đạm. Độ ngon của nó không chỉ nước tiếng "Tam kỳ lục tỉnh" mà vang danh toàn cõi Ðông Dương, sang tận trời Tây...

... với sự kiện nước mắm Phan Thiết được Công ty Liên Thành mang nhãn hiệu Con Voi tham gia cuộc đấu xảo quốc tế tại Marseille (Pháp) vào năm 1922. Kể từ đó, nước mắm Phan Thiết đã vượt Ðại Tây Dương, có mặt ở nhiều nước châu Âu.

Ốc hương

Tại Bình Thuận, ốc hương rải đều khắp từ biển Tuy Phong đến biển Hàm Tân. Cũng giống như ở các vùng khác, ốc hương Bình Thuận vỏ màu vàng điểm các chấm nâu với kích thước khoảng 60g, khi nấu chín có mùi rất thơm.

Người Bình Thuận luộc ốc theo cách riêng của mình. Ốc được luộc bằng nước lạnh, khi sôi bùng lên thì giữ như thế trong vòng 1 phút rồi vớt ra và nhúng ngay vào nước lạnh để thịt ốc đủ mềm và săn lại. Thịt ốc được chấm với muối ớt hoặc mắm gừng, ăn luôn hoặc thái nhỏ để trộn nộm. Có khi cối thịt ốc hương còn được tẩm bột chiên giòn. Các nhà hàng sang trọng cầu kỳ moi cồi ốc, tẩm gia vị và rán chín, xong rồi cho vô lại vỏ ốc, món ăn này chỉ một đĩa nhỏ chừng mươi con mà giá đến 15 USD nhưng vẫn đông khách gọi ăn.

Mùa ốc hương giao phối và đến khi đẻ con là từ tháng 4 đến tháng 8 dương lịch và trong thời gian này ngư dân có tập quán là không đi rập ốc hương và nếu trong tháng ấy có ốc hương bán thì không mấy ai mua ăn, nhờ vậy mà ốc hương không bị tận bắt.

Sò điệp

Hòn Rơm và Rạng của tỉnh Bình Thuận mệnh danh là "quê hương" của sò điệp. Muốn ăn món này người ta thường phải thuê thợ lặn, lặn sâu xuống đáy biển để bắt sò lên.

Sò điệp cũng gồm hai mảnh vỏ úp lại nhưng nó có dạng hình rẻ quạt. Khi lấy dao cậy, tách vỏ sò ra sẽ thấy bên trong gồm hai cái vành dài bao tròn quanh cồi sò (hay còn gọi là thịt sò). Cồi sò là phần ngon và qúi nhất, có vị ngọt, tính mát, không độc. Thường thường người ta cậy vỏ sò ra bỏ vỏ, lọc những phần gan, mang sò ra một bên, chỉ còn lại cục cồi đem ram khô hoặc có khi xào với thơm, dưa chuột, hành tây... nhưng thông thường nhất vẫn là luộc chấm mắm me, muối tiêu hoặc muối ớt.

Tuy nhiên, muốn ngon, ngọt và đặc biệt hơn thì nên đem nướng trên bếp than. Bởi khi nướng con sò sẽ không bị ra nước như luộc mà còn giữ lại "cái chất" rất ngọt... Đôi khi người ta còn lấy vành của sò điệp chà sạch với muối cho hết nhớt rồi đem đi ram hoặc phơi khô để dành cũng ngon tuyệt. Ngoài ra, người ta còn lấy gan, mang sò để làm thức ăn gia súc. Vỏ sò dùng để lót sân, đắp đê, đấp mộ... rất thuận lợi cho xứ đầy nắng, cát và gió này. Vỏ sò dùng để làm vôi sử dụng trong nông nghiệp và công nghiệp.

Mực một nắng

Mực một nắng có nhiều ở những vùng biển du lịch, nhưng thực khách sành ăn cho rằng món này ngon nhất  ở Phan Thiết. Tại thành phố này, đâu đâu cũng gặp món mực một nắng, từ quán ăn vỉa hè đến nhà hàng của các resort sang trọng...    

Người ta tuyển chọn kỹ loại mực lá, phơi nắng một ngày. Sau đó, mực gói lại kỹ càng rồi ướp đá. Thực khách đặt cho cái tên mực một nắng để phân biệt với khô mực và mực tươi...

Miền biển có rất nhiều loại mực. Trước đây, mực Phan Thiết được đông lạnh, bán tươi hoặc làm khô. Người ta nói rằng: có lần, ngư dân khai thác mực lấy mực thảy lên mui ghe cho ráo để chế biến. Vô tình, ăn mực phơi này thấy ngon, ngọt nên mới trở thành “đặc sản”. Từ đó, mực một nắng được đưa vào bờ, xuất hiện trên mâm cơm của gia đình ngư phủ hoặc những bữa lai rai vài xị đế của anh em ngư phủ rồi vào hàng quán, nhà hàng...

Tại Phan Thiết, thực khách dễ dàng tìm mua mực một nắng tại các quầy hàng thực phẩm, đặc sản ở chợ Phan Thiết hoặc dọc tuyến đường từ trung tâm thành phố ra Mũi Né. Giá mực một nắng dao động từ khoảng 100.000 đồng/kg đến trên 200.000 đồng/kg, tùy loại và tùy theo mùa.

Du lịch, GO! - Theo báo Datviet

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống