Bài viết liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Auto scrolling

Giới thiệu bản thân

Bản quyền thuộc Công ty du lịch Việt Nam. Powered by Blogger.

Search This Blog

Thursday, 24 November 2011

Nằm cách thành phố Thanh Hóa về phía Đông Bắc khoảng 50km, ẩn mình trong dãy núi Thần Phù có Động Từ Thức hay còn gọi là Động Bích Đào. Đây là một thắng cảnh nổi tiếng của xứ Thanh, gắn liền với truyền thuyết về cuộc tình duyên lãng mạn giữa chàng Từ Thức và nàng Giáng Hương.

< Đường lên động Từ Thức.

Chuyện xưa kể rằng, quan tri huyện Từ Thức vốn người huyện Tống Sơn (nay là huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá). Sau khi từ quan, nhân lúc nhàn rỗi ra chơi cửa biển Thần Phù, đi qua núi thấy một cái động đẹp nên vào xem và gặp nàng Giáng Hương. Hai người nên nghĩa vợ chồng, sống với nhau hạnh phúc ở trong động tiên. Lâu ngày nhớ nhà, Từ Thức trở về thăm quê, thấy người xưa cảnh cũ không còn, hỏi ra mới biết mình đã đi quá lâu.

< Động Từ Thức lung linh như khán phòng của một nhà hát lớn.

Buồn lòng, chàng quay lại cõi tiên với vợ, nhưng về đến nơi thì động tiên đã khép, vợ cũ cũng chẳng còn.
Truyền thuyết xưa là vậy, còn ngày nay, đường lên động Từ Thức men theo một lối đá mòn dài chừng hơn 100m từ dưới chân núi lên.

Trước cửa động, cây cối um tùm, dây leo chằng chịt. Ngay cửa động có miếu Sơn Thần và trên vách núi có bài thơ chữ Hán vịnh cảnh đẹp động Từ Thức của vua Lê Thánh Tông (1460-1497) và nhà bác học Lê Quý Đôn (1726-1784).

< Măng đá khổng lồ hình kho gạo.

Từ bao đời nay, vẻ đẹp của động Từ Thức được dân gian thêu dệt nên thành nhiều điều huyền bí qua câu chuyện tình duyên thắm đượm yếu tố huyền thoại giữa chàng Từ Thức và nàng Giáng Hương.
Động chính gồm 2 phần. Phần ngoài rộng, trần động hình như một chiếc bát khổng lồ úp ngược. Phía dưới vòm động là một tòa nhũ đá tỏa xuống trông giống trái đào tiên, nên động Từ Thức xưa còn có tên là động Bích Đào. Nền động bằng phẳng, nay vẫn còn vết tích đền thờ Từ Thức lưu lại. Tại đây có những khối thạch nhũ lớn muôn hình muôn vẻ được người đời đặt tên theo sự liên tưởng như: kho bạc, kho gạo, kho muối, kho tiền…

< Bãi đá hình rồng ấp trứng.

Từ lòng động thứ nhất, lách mình qua một khe đá hẹp sẽ tới lòng động thứ hai. Tại đây có khối thạch nhũ mang hình cỗ “tam sinh“ với đủ trâu, dê, lợn… bằng đá được thiên nhiên tạo hóa bày sẵn từ bao đời. Cạnh đó, trên nền động, có một lớp thạch nhũ nhô lên giống như hình một con rồng đang nằm cuộn tròn, ở giữa có hàng trăm hòn thạch nhũ màu vàng trông như những quả trứng nên dân gian gọi đó là hình “rồng ấp trứng vàng”.

< Những dòng thạch nhũ từ trần hang buông xuống.

Tiến sâu vào lòng động người ta càng ngạc nhiên hơn với rất nhiều khối thạch nhũ mang hình thù kì lạ tạo nên một thế giới thần tiên mà người đời vẫn thường liên tưởng đến câu chuyện tình lãng mạn của Từ Thức và Giáng Hương như: thư phòng Từ Thức, buồng tắm Giáng Hương, xiêm áo của nàng Giáng Hương, những bông hoa, những quả đào tiên, vầng trăng, đôi chim uyên ương bằng đá…

Hết lòng động thứ hai, men theo một cây cầu gỗ nhỏ bắc qua con suối cạn róc rách tiếng nước chảy, du khách sẽ choáng ngợp với hình ảnh một lòng động thứ 3 cao, rộng và lung linh như khán phòng của một nhà hát lớn. Ở đây cũng có rất nhiều khối thạch nhũ muôn hình muôn vẻ tạo thành những bức tranh, hình bàn cờ, đôi hài, thảm hoa, ấn triện, áo mũ… làm cho du khách ngỡ ngàng như thấy lại cảnh sinh hoạt của tri huyện Từ Thức xưa kia.

< Những măng đá nhỏ xinh mọc lên từ lòng suối.

Đi sâu vào trong, có hai dấu chân người in vào đá, tương truyền đó là dấu chân của Từ Thức. Gần đó có một vũng nước trong suốt, tương truyền là nơi tiên nữ Giáng Hương từng tắm và vui đùa. Cạnh vũng nước còn có cả một dải đá màu lục lốm đốm cùng một dải đá lô nhô mang hình thù ếch nhái… nên được ví như hình ảnh quê nhà trong nỗi nhớ quê hương của chàng Từ Thức. Cũng trong động này có hai ngách đá sâu hun hút, một hướng lên trời và một hướng xuống phía dưới lòng đất, dân gian quen gọi là đường lên cõi tiên và đường xuống địa phủ.

< Những hoa văn của đá tạo hình như một chiếc ấn triện.

Sau một hồi lang thang chìm đắm với những vẻ đẹp mê hồn trong lòng động tiên Từ Thức, lúc quay ra, đứng trước cửa động, nhìn ra xa phía dưới chân núi là cả một vùng không gian rộng lớn thanh bình với những thửa ruộng vuông như ô bàn cờ, dòng sông quanh co uốn lượn, cảnh làng quê dân dã ẩn mình dưới lũy tre xanh… khiến lòng du khách bỗng nghĩ tới câu chuyện chàng Từ Thức năm xưa mãi vui lạc bước chốn thần tiên, bỗng một ngày giật mình nhớ tới quê hương muốn quay về chốn cũ.

Du lịch, GO! - Theo Báo Ảnh VN

Về động Từ Thức gặp tiên
Làng cổ Đông Hòa Hiệp ở huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang nổi tiếng với phong cảnh hữu tình nhờ có con sông Cái Bè bao quanh, cùng với hình ảnh những ngôi nhà cổ nằm ẩn mình thơ mộng giữa những vườn cây trái suốt bốn mùa xanh tươi, trĩu quả.

< Ngôi nhà cổ của gia đình ông Phan Văn Đức ở làng Đông Hòa Hiệp.

Cùng với làng Đường Lâm ở Hà Nội và làng Phước Tích ở Huế, làng Đông Hòa Hiệp là một trong 3 ngôi làng cổ ở Việt Nam được Tổng cục Du lịch Việt Nam cùng Tổ chức Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) lựa chọn để đầu tư phát triển mô hình du lịch nông thôn.

Không giống cách bố trí nhà san sát như ở làng cổ Đường Lâm và làng cổ Phước Tích, làng cổ Đông Hòa Hiệp có một khung cảnh nên thơ, thoáng đãng với những ngôi nhà cổ nằm thấp thoáng giữa những vườn cây trái rộng xanh tươi được bao bọc bởi con sông Cái Bè hiền hòa.

< Nội thất ngôi nhà được bài trí theo phong cách truyền thống.

Đến đây du khách sẽ được thưởng ngoạn cảnh đẹp bình yên của làng bằng cách đi xuồng trên sông hoặc đi bộ men theo những con đường len lỏi giữa các vườn cây rợp bóng.
< Gian thờ được chạm trổ tinh vi, cầu kỳ.

Một trong những điểm ấn tượng đối với du khách khi đến với làng cổ Đông Hòa Hiệp là hình ảnh của những ngôi nhà cổ mang đậm phong cách nhà vườn Nam Bộ có tuổi đời khoảng 150 năm.
< Du khách nước ngoài tham quan một ngôi nhà cổ ở Đông Hòa Hiệp.

Ngôi nhà cổ của ông Trần Tuấn Kiệt ở ấp Phú Hòa, xã Đông Hòa Hiệp nằm ẩn mình giữa một vườn cây ăn trái rộng 1,8 ha. Ngôi nhà 5 gian, rộng gần 1000 mét vuông với 108 cây cột làm bằng loại gỗ căm xe quý hiếm. Nhà được xây vào khoảng năm 1838.
< Bộ tủ và đồ trang trí khảm trai quý giá.

Trải qua gần 200 năm nhưng ngôi nhà vẫn còn như nguyên vẹn. Trên các vì kèo, ô cửa, bao lan… bằng gỗ người ta thấy có nhiều hình chạm khắc theo mô típ tùng, cúc, trúc, mai rất tinh tế và điêu luyện. Ngoài ra, trong nhà vẫn còn giữ được nhiều bộ liễn đối khảm xà cừ, các bộ bàn ghế chạm trổ rất công phu và nhiều vật dụng bằng sứ quý hiếm.
< Một bộ đèn dầu có từ thời Pháp.

Bà Lê Thị Chính, vợ của ông Trần Tuấn Kiệt cho biết, thời xưa, ông cố của chồng bà là quan tri huyện, là người rất thích chơi đồ cổ nên đã thuê thợ giỏi từ ngoài kinh đô Huế vào dựng mất mấy năm trời mới xong ngôi nhà này và ông cũng đã bỏ rất nhiều tiền của để sưu tầm được rất nhiều đồ cổ quý hiếm.

< Tủ đựng các đồ gốm sứ cổ.

Năm 2002, Tổ chức Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) đã tài trợ hơn 1,8 tỉ đồng để sửa chữa lại ngôi nhà này, đồng thời cử một nữ kiến trúc sư người Nhật đến ăn ở tại chỗ để giám sát công việc trong hơn 6 tháng liền. Nhờ đó, các chuyên gia Nhật Bản đã phục chế được toàn bộ kiến trúc của ngôi nhà và vật dụng trang trí bên trong nhà theo đúng nguyên bản như xưa.
< Du khách tnước ngoài ham quan ngôi nhà cổ ông Trần Tuấn Kiệt.

Ngôi nhà cổ thứ hai của làng Đông Hòa Hiệp được nhiều du khách viếng thăm là nhà của ông Phan Văn Đức. Nhà xây vào năm 1850, có lối kiến trúc Đông – Tây kết hợp. Nếu như mặt tiền của ngôi nhà được xây theo kiểu Pháp với những hàng cột tròn, mái vòm uốn cong đầy lãng mạn, thì bên trong nội thất lại là một không gian kiến trúc thuần Việt. Hiện trong nhà vẫn còn lưu giữ được nhiều vật dụng quý và đẹp cho thấy một thú chơi phong lưu, tao nhã của những gia đình giàu có ở Nam Bộ xưa kia.

< Nét duyên dáng của thiếu nữ làng cổ Đông Hòa Hiệp.


Hiện nay, làng cổ Đông Hòa Hiệp đang là một điểm đến đầy hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước. Ước tính trung bình mỗi năm, làng đón khoảng 100.000 lượt du khách đến tham quan. Đặc biệt, lượng khách nước ngoài đến đây ngày càng tăng.

Du lịch, GO! - Theo Báo Ảnh VN
“Lục lạc khua rủng rảng/Bánh tráng bẻ giòn giòn/Miệng tôi kêu bớ người chưa có chồng con/Hồng nhan rực rỡ như son bên gành…” (dân ca Nghĩa Bình). Bánh đa của miền Bắc có lẽ là tiền thân của chiếc bánh tráng đang có mặt ở khắp mọi miền đất nước.

< Bánh đa kế Bắc Giang.

Là tiền thân của chiếc bánh tráng khắp mọi miền nhưng chiếc bánh đa miền Bắc không có vị trí nào đáng kể ngoài vai trò của một món quà quê. Thậm chí dù là thứ bánh ngon nổi tiếng như bánh đa chợ Kế (Bắc Ninh) kích thước của bánh đa cũng khá khiêm tốn, chỉ độ khoảng 20-25cm (bán kính), bỏ lọt thỏm trong đôi thúng của các bà mẹ quê.


< Bánh Đập Nha Trang.

Bánh đa miền Bắc có vị ngọt của đường và vị béo của vừng (mè) rất hấp dẫn các trẻ quê khi lục thúng mẹ đi chợ về. Người Bắc còn có thú nấu hạt kê phết lên bánh đa rắc đường, đậu rồi bẻ gập lại. Trong Chuyện cũ Hà Nội, Tô Hoài đề cập nhiều đến các loại thức ăn chơi nhưng tuyệt nhiên không có bánh đa.

Tuy nhiên, khi vượt đèo Hải Vân để vào miền Trung, bánh tráng đã chiếm một vị trí quan trọng của nền ẩm thực của một loạt tỉnh từ Quảng Nam cho đến Bình Thuận. Nó đã leo tót lên các bàn thờ ngày giỗ quải. Trong các buổi tiệc tùng thì tiếng “rốp rốp” của bánh tráng nướng được coi là những “phát súng” khai tiệc.

< Bánh tráng nướng mỡ hành Ninh Thuận.

Bánh tráng đã vào tô mì Quảng để trở thành một bộ phận không thể thiếu. Có người cứ để nguyên bánh rồi cắn một miếng, “và” một đũa. Có người bóp nhỏ ra trộn đều, dùng đũa xáo lên, thêm ớt vào, vừa ăn vừa hít hà. Cái vị mềm của sợi mì cộng thêm cái giòn của bánh tráng mới hòa hợp, cân đối làm sao!

Ở Quảng Ngãi, mấy ai không biết câu ca dao này: “Cô gái lòng son/Không bằng tô don Vạn Tường (*)”. Don là loại ốc nhỏ thường bắt ở sông Trà, sau đó luộc lên thêm gia vị vào. Cuối cùng bẻ bánh tráng nướng cho vào nước canh don ngọt lự đó rồi lùa vào miệng. Vị béo béo của thịt don, vị ngọt của nước don cộng với bánh tráng nướng giòn giòn khiến cho cư dân Quảng Ngãi dù ở đâu xa quê vẫn không quên món ăn dân dã truyền thống.

< Bánh tráng Bình Định.

Đến Bình Định, Phú Yên thì bánh tráng đã thực sự lên ngôi. Nó có mặt trong các thứ quà sáng và cả trong thực đơn tiệc tùng. Phía Bắc Bình Định bánh tráng vào trong hai câu ca dao: “Đi xa nhớ bánh tráng mè/Mùa quê phảng phất đậm hòe hương đưa”.

Phần lớn các gia đình nông thôn Bình Định đều dự trữ sẵn bánh tráng, chỉ cần nhúng bánh tráng vào nước lạnh, cuốn lại, chấm vào nước mắm ớt là cũng đủ để no bụng. Ở đây bánh tráng còn ăn kèm với bánh hỏi, thịt chó, làm gỏi cuốn, và các thứ linh tinh khác. Món ăn đặc biệt ở Bình Định là bánh tráng cuốn cá nục luộc, rau muống sống chấm nước mắm.

< Bánh tráng Trảng Bàng.

Qua khỏi Bình Thuận, bánh tráng Nam Bộ co lại về kích thước, mỏng hơn và thường chỉ dùng để gói chả giò. Ngay cả món bò bía hay thịt bò nhúng giấm, loại bánh tráng thường dùng nhỏ và mỏng đến nỗi không cần phải nhúng nước. Ở Sài Gòn có xã Phú Hòa Đông (Củ Chi) nổi tiếng về nghề làm bánh tráng mỏng gọi là “bánh trăm”.

Ở đây, ta gặp một loại bánh tráng đã biến thái là bánh phồng. Bánh phồng làm bằng nếp ngon. Nếp được đồ trong cái chõ lớn. Xôi chín còn đang nóng hổi được đổ lẹ vào cối và quết ngay.

< Bánh phồng tôm.

Quết phải đều và thật nhuyễn. Sau đó vò lại thành từng viên tròn rồi dùng ống tre cán thành lá bánh dẹp, đường kính khoảng 30 cm. Sau khi phơi nắng từ trưa đến chiều, lấy vào làm áo đường mía rồi phơi lại cho thật khô là dùng được. Các cụ Nam bộ thường bảo “không có bánh phồng kể như không có Tết”.

Từ bánh phồng, người ta đã nâng lên thành bánh phồng tôm do sự thay đổi của nguyên liệu khiến nó giòn và ngon hơn.
Bánh tráng là thứ sản phẩm chế biến rất đơn giản: tráng bột gạo lên miếng vải căng tròn trên một nồi nước đang sôi, rồi dùng vỉ tre gỡ ra đem phơi nắng. Tuy vậy, từ Bắc vào Nam nó đã bao lần biến đổi.

(*) Vạn Tượng thuộc Tư Nghĩa - Quảng Ngãi

Du lịch, GO! - Theo Sài Gòn Tiếp Thị, ảnh internet

Công ty du lịch

Công ty du lịch >>> Siêu thị mevabe dành cho mẹ và bé ,quần áo trẻ em >> thời trang trẻ em
Lên đầu trang
Tự động đọc truyện Dừng lại Lên đầu trang Xuống cuối trang Kéo lên Kéo xuống